Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm tách biệt khỏi lục địa, Nhật Bản là quốc đảo hình vòng cung hẹp, nằm ở
bờ phía Đông lục địa châu Á. Chính vì vậy, người Nhật còn tự hào gọi đất nước
mình là đất nước mặt trời mọc. Đất nước Nhật Bản với diện tích gần 377.947 km2,
bao gồm các đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu cùng với nhóm đảo
Ryukyu (Okinawa) và nhiều hòn đảo nhỏ khác.
Con người từ hàng ngàn năm nay đã sinh sống ở Nhật Bản, trong quá trình
lao động và sản xuất, họ đã tạo dựng riêng cho mình một nền văn hóa đa màu sắc,
nét truyền thống đan xen hiện đại. Không những vậy, nơi đây còn có những lễ hội
diễn ra xuyên suốt trong năm. Là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa.
Văn hóa Nhật Bản là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới, nó phát
triển mạnh mẽ qua thời gian. Cùng với những biến đổi của lịch sử, sự khắc nghiệt
của tự nhiên đã hun đúc nên tính cách Nhật Bản kiên cường, mạnh mẽ nhưng cũng
rất đỗi giản dị và thơ mộng. Nó dẫn dắt những bước đi lịch sử vững vàng, mạnh dạn
và khôn ngoan hơn. Tính chất “đảo” cùng sự vận động của lịch sử, sự năng động tự
thân của nền văn hóa đã tạo nên một quá trình tiếp xúc và tiếp nhận những giá trị
văn minh từ bên ngoài như Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Nam Á…
Sau các cuộc phát kiến địa lý ở thế kỉ XV - XVII với sức mạnh kinh tế cùng
sự phát triển của kĩ thuật hàng hải các nước châu Âu đã nhanh chóng tìm đến các
“vùng đất mới” để xâm chiếm thuộc địa và buôn bán. Điều này đã tạo cơ hội cho
đạo Thiên Chúa phát triển ra bên ngoài châu Âu. Nằm trong khu vực Viễn Đông,
Nhật Bản có vị trí địa lý thuận lợi cho nên từ sớm tàu buôn của các nước châu Âu
đã tìm đến nơi đây. Bên cạnh việc tạo quan hệ và mở rộng buôn bán, họ còn tích
cực ủng hộ công việc truyền giáo vì đây là cơ sở của họ xâm nhập, gây ảnh hưởng
vào đất nước này.
Năm 1549, giáo sĩ người châu Âu đầu tiên đến Nhật Bản, từ đó nhiều dòng
những giá trị đạo đức truyền thống của Thần đạo, Phật giáo, Nho giáo… Hơn nữa,
chính các nước châu Âu cùng sự bành trướng của họ ở khu vực cũng làm tăng ý
thức cảnh giác của giới cầm quyền đất nước về chủ quyền dân tộc, địa vị thống trị
của các tướng quân Edo…
Chính những lý do trên đã thúc đẩy những nhà cai trị đất nước, đặc biệt là
Mạc phủ Tokugawa, thi hành chính sách cấm đạo rất khốc liệt nhằm tiêu diệt ảnh
hưởng của đạo Thiên Chúa ra khỏi “đất nước của thần linh”. Mọi biện pháp tra tấn,
ép buộc các giáo sĩ, giáo dân phải bỏ đạo được đưa ra nhưng không thể làm suy
giảm đức tin của họ. Giáo hội Thiên Chúa giáo Nhật Bản sau nửa thế kỉ phát triển
nhanh chóng giờ đây có nguy cơ lụi tàn.
Những chính sách cấm đạo của các cấp chính quyền Nhật Bản đã tạo nên
những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống đất nước, cũng góp phần đưa đến chính sách
tỏa quốc hơn 200 năm của Nhật Bản. Khôi phục lại những giá trị truyền thống của
đất nước sau một thời gian dài nội chiến tàn phá. Từ lâu đất nước Nhật Bản và đời
§oµn M¹nh Quúnh
2
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
sống tôn giáo (nhất là đạo Thiên Chúa) được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng
vẫn còn nhiều khoảng trống chưa được làm sáng tỏ. Việc nghiên cứu về đạo Thiên
Chúa ở Nhật Bản có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, không những là sáng tỏ về
sự phát triển của giáo hội Thiên Chúa ở đất nước “mặt trời mọc” trong một thời kì
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
tranh đầy về của giáo hội Nhật Bản mang nhiều màu sắc, sắc thái khác nhau. Qua
từng thời kì sự phát triển của đạo Thiên Chúa có những dấu ấn riêng. Cuốn sách rất
hữu ích đưa đến cho người viết những cái nhìn đa chiều về đời sống của đạo Thiên
Chúa và lịch sử truyền bá của nó ở đất nước “mặt trời mọc”. Mặc dù vậy, cuốn sách
cũng có những hạn chế nhất định khi tác giả có cái nhìn thiên kiến, đề cao vai trò
của tôn giáo.
Tiếp đến, tác giả Joseph M. Kitakawa viết cuốn “Nghiên cứu Tôn giáo Nhật
Bản” được NXB Khoa học Xã hội ấn hành năm 2002. Cuốn sách gợi ý những cách
nhìn mới, sự tiếp cận đa chiều đời sống tôn giáo Nhật Bản từ Thần đạo - Shinto
giáo, Phật giáo… cũng như các tín ngưỡng truyền thống.
Khi thực hiện khóa luận, việc nắm bắt được những vấn đề thông sử Nhật Bản
là rất quan trọng. Có rất nhiều tác phẩm đề cập và viết về lịch sử Nhật Bản. Đầu
tiên, chúng ta cần kể tới bộ “Lịch sử Nhật Bản” (3 tập) của G.Sansom, nó cung cấp
những cứ liệu cần thiết về bối cảnh nước Nhật giai đoạn từ cuối thế kỉ XVI đến giữa
thế kỉ XVII. Đây là giai đoạn biến động nhất của lịch sử Nhật Bản, nó diễn ra quá
trình thống nhất đất nước và sự thiết lập bá quyền của dòng họ Tokugawa. Tiếp
theo, chúng ta còn có thể nhắc tới các cuốn “Lịch sử Nhật Bản” của các tác giả Việt
Nam chủ biên như GS Phan Ngọc Liên, PGS Nguyễn Quốc Hùng…
Để tạo thêm những cái nhìn so sánh đối chiếu trong chính sách cấm đạo của
Nhật Bản, người viết có những liên hệ tới chính sách cấm đạo của một số nước
trong khu vực Viễn Đông, nhất là Việt Nam thời kì nhà Nguyễn (1802 - 1858). Thời
kì này ở Việt Nam, các vua nhà Nguyễn cũng ra đưa những chính sách cấm đạo khá
Ngoài ra, tên tuổi và những nghiên cứu của các tác giả khác như Đỗ Bang,
Đỗ Quang Chính… đã phần nào cung cấp những tư liệu bổ ích liên quan đến khóa
luận của người viết.
Bên cạnh các sách chuyên luận thì tạp chí cũng là một nguồn tài liệu rất đa
dạng, phong phú. Đi sâu vào nghiên cứu vấn đề đạo Thiên Chúa, trên các tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo, Văn hóa Nghệ thuật, Nhật Bản và Đông Bắc Á… có nhiều
bài như:
Bài “Tôn giáo Nhật Bản” trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 1 năm 1999
của tác giả Phan Tường Vân cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về đời sống
tôn giáo của Nhật Bản, sự hình thành và phát triển của nhiều tôn giáo tín ngưỡng
như Thần đạo - Shinto giáo, Phật giáo, Nho giáo… và nhất là Thiên Chúa giáo.
Tiếp đến là bài “Địa vị và vai trò của Công giáo Macao thời Minh - Thanh
trong công cuộc truyền giáo ở Viễn Đông” đăng số 4 năm 2006 của tác giả Thang
Khai Kiến, bài viết cho sự hình thành và vai trò trung chuyển giáo sĩ, đào tạo thừa
sai của vùng đất này trong công cuộc truyền giáo ở Viễn Đông từ thế kỉ XVI cho
đến thế kỉ XVIII.
Trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 1 năm 2005 có đăng bài viết của tác giả
Phạm Hoàng Điệp có nhan đề “Cơ Đốc giáo trong đời sống văn hóa xã hội Nhật
§oµn M¹nh Quúnh
5
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
§oµn M¹nh Quúnh
6
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Chủ yếu là các sách, chuyên luận, tạp chí về vấn đề Thiên Chúa giáo của
Nhật Bản và Việt Nam. Những công trình này cung cấp các tư liệu, đánh giá và
nhận định để thực hiện khóa luận.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp
nghiên cứu lịch sử - logic, phân tích mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử đồng đại,
lịch đại để rút ra kết luận khái quát cần thiết. Bên cạnh đó, một số phương pháp
khoa học liên ngành cũng được sử dụng trong chừng mực nhất định như: phương
pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, xử lý tư liệu….
5. Đóng góp của khóa luận
Nghiên cứu về Thiên Chúa giáo ở Nhật Bản mang ý nghĩa lý luận và thực
tiễn. Vì vậy, đề tài nghiên cứu sẽ có nhiều đóng góp.
Về mặt lý luận: đề tài góp phần cung cấp thêm một số hiểu biết về nghiên
cứu Thiên Chúa giáo ở Nhật Bản.
Về mặt thực tiễn: đề tài góp phần tìm hiểu quá trình xâm nhập, phát triển
cũng như suy tàn của giáo hội Thiên Chúa Nhật Bản ở thế kỉ XVI - XVII. Góp phần
trong bộ máy chính quyền. Sự suy yếu của chính quyền quân sự trung ương, Mạc
phủ Ashikaga, các daimyo (lãnh chúa) với tổng hành dinh đặt trong các thành
quách, joka machi, cai trị các lãnh địa gần như độc lập, đánh nhau để mở rộng lãnh
địa và thường liên minh với nhau chống lại các thế lực mạnh hơn. Trong số đó, có
12 lãnh chúa kiểm soát nhiều tỉnh và coi mình đủ mạnh để thách thức với quyền lực
của tướng quân (shogun). “Trong thời kì nội chiến (Senguku, 1490 - 1600), do quy
mô, tính chất và sự khốc liệt của chiến tranh, đồng thời cũng bị tác động mạnh bởi
vũ khí, chiến thuật quân sự phương Tây, các lãnh chúa buộc phải phá bỏ những bức
tường thành đắp bằng đất và gỗ truyền thống để xây dựng những tòa thành kiên cố
có quy mô lớn, những đội quân chuyên nghiệp sử dụng kiểu súng châu Âu cũng bắt
đầu được thiết lập trong các lãnh địa” [14; 69]. Điều này tạo nên những thay đổi
tích cực trong hàng ngũ lãnh chúa, các lãnh chúa nhỏ yếu không thích ứng được với
hoàn cảnh lịch sử đều bị triệt tiêu thay vào đó là những lãnh chúa có khả năng kinh
tế và tiềm lực quân sự lớn.
Giống như các tướng quân Ashikaga, vị trí quyền lực của Thiên hoàng
(Tenno) ngày càng mờ nhạt, sống một cuộc sống khó khăn, luôn phải chịu sức ép từ
các thế lực quân phiệt và tôn giáo hùng mạnh. Đặc biệt là Phật giáo. Tuy vậy, Thiên
hoàng rất có uy tín về tinh thần (được người dân coi là hậu duệ trực tiếp của Thái
Dương thần nữ, Amaterasu), được các thế lực cát cứ kính trọng và tranh thủ sự ủng
§oµn M¹nh Quúnh
8
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
§oµn M¹nh Quúnh
9
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
diệt vì can thiệp quá sâu vào tình hình chính trị, cản trở quá trình thống nhất, tiêu
biểu như Nichirenshu, Tendai…
Ba năm sau cái chết của Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi trở thành lãnh chúa
có thế lực hùng mạnh nhất ở Nhật Bản. Với nhiều biện pháp như liên minh chính trị
hay tấn công quân sự, đến những năm 1590, về cơ bản ông đã trình thống nhất được
đất nước. Những thắng lợi mà Hideyoshi đạt được là một bước tiến nữa thúc đẩy
quá trình liên hiệp các lãnh chúa địa phương ở Nhật Bản mà Nobunaga đặt tiền đề.
Tình trạng phong kiến phân quyền kéo dài trong lịch sử đã cơ bản chấm dứt để thay
thế vào đó là một thiết chế chính trị phong kiến quân phiệt thống nhất có khuynh
hướng tập quyền. Sau khi đã ổn định về mặt quân sự, ông tập trung vào xây dựng
một chính quyền dân sự, chú trọng phát triển kinh tế, thúc đẩy nội thương và buôn
bán với nước ngoài. Lúc cuối đời, Hideyoshi đặt hết kì vọng vào đứa con trai mới 5
tuổi của mình là Hideyori, để phò giúp cho con trai khi còn nhỏ tuổi ông đã bổ
nhiệm một ban nhiếp chính (tairo) từ các lãnh chúa (daimyo) hùng mạnh nhất để
điều hành và ổn định công việc đất nước.
Sau khi Hideyoshi qua đời nội bộ các lãnh chúa nổi lên nhiều mâu thuẫn do
những tham vọng cá nhân, người có thế lực mạnh nhất lúc này là Tokugawa Ieyasu.
Đất nước một lần nữa bị chia thành các phe phái: Tokugawa Ieyasu cùng các đồng
Ieyasu đã có những nỗ lực lớn để củng cố sức mạnh của chính quyền phong kiến
trung ương nhằm đạt tới sự điều hành hữu hiệu, trực tiếp của chính quyền trung
ương với địa phương thông qua một cơ chế vận động song song: Mạc phủ, đứng
đầu là tướng quân (shogun) Tokugawa ở Edo và các lãnh chúa (daimyo) cai quản
260 lãnh địa (han). Cơ chế chính trị có tính chất quân phiệt đó được gọi là Bakuhan
taisei (Mạc phiên thể chế hay Chế độ Mạc phủ - công quốc), cơ sở tồn tại của chế
độ này chính là dựa vào lòng trung thành tuyệt đối của đẳng cấp võ sĩ và sự cân
bằng quyền lực giữa trung ương - địa phương ở cả hai vấn đề quan trọng là chính trị
và kinh tế.
Trong điều kiện lịch sử mới, Mạc phủ Edo không ngừng hoàn thiện bộ máy
chính quyền cùng các biện pháp quản chế của mình, đến đời tướng quân thứ ba,
Tokugawa Iemitsu (1604 - 1551) cơ chế chính trị được thiết lập theo lối quân sự đã
phát triển tương đối hoàn thiện. Trong đó, ở cấp trung ương có ba cơ quan chính:
Roju (Nguyên lão, tức Hội đồng nguyên lão) gồm từ 4 đến 5 thành viên (toshiyori,
niên ký). Chức năng chủ yếu của Hội đồng là giúp tướng quân giải quyết các vấn đề
lớn có tính chất quốc gia, duy trì quan hệ với Thiên hoàng (tenno) cũng như với
lãnh chúa địa phương. Cơ quan thứ hai là wakadoshiyori (Nhược niên ký, tức Hội
đồng tư vấn), gồm 4 đến 6 thành viên, có nhiệm vụ giám sát hoạt động của bộ máy
hành chính, lực lượng võ sĩ hatamoto (kỳ bản) và gokenin (ngự gia nhân) đặt dưới
sự quản lý trực tiếp của tướng phủ và jisa buygo (phụ trách các vấn đề lễ nghi, tôn
giáo). Bên cạnh đó còn có hyojoso là Hội đồng xét xử với thành viên bao gồm
những người thuộc roju và một quan chức cao cấp (bugyo) đại diện cho chính
quyền Mạc phủ phụ trách các cơ quan, đơn vị hành chính. Hyojoso vừa có chức
năng lập pháp vừa có chức năng hành pháp đảm đương những nhiệm vụ như Tối
§oµn M¹nh Quúnh
11
K35CN Lịch sử
cách ứng xử, tướng quân bao giờ cũng tỏ ra hết sức tôn vinh vị thế truyền thống của
Thiên hoàng. Vì “nguồn gốc cao quý của Nhật hoàng thấm sâu trong truyền thống
và ý thức dân tộc, là biểu tượng cho sự thống nhất và tinh thần đoàn kết quốc gia đã
khiến cho các tướng quân dù có tham vọng tới đâu cũng phải tính toán cẩn trọng
trong các bước đi chính trị. Hơn thế nữa, ở một nước biệt lập như Nhật Bản, luôn bị
chia cắt bởi những thế lực cát cứ thì vị trí cao quý và quyền lực của Thiên hoàng là
§oµn M¹nh Quúnh
12
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
“điều kiện cần” để dung hòa các xung đột. Trong ý nghĩa đó, tướng quân được coi
là kẻ bề tôi của Thiên hoàng không thể đi ngược lại nguyên tắc tối thượng nêu
trên”.[6; 153]
Chính quyền Mạc phủ nắm quyền quản lý trực tiếp về ruộng đất (ngoài
những vùng đất dùng để phân phong cho thuộc hạ, với tư cách là lãnh chúa lớn
nhất, tướng quân cũng có sở hữu tới 6.480.000 koku, khoảng 25% tổng sản lượng
nông nghiệp) nhưng Mạc phủ vẫn thường xuyên bảo đảm nguồn tài chính thường
xuyên cho giới quý tộc hoàng gia nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn những đối tượng
này, hơn nữa, cắt đứt mọi quan hệ của triều đình Kyoto với các lãnh chúa có thế lực
khác.
Đối với các địa phương, trên cơ sở mối quan hệ thân tộc và thái độ của từng
lãnh chúa trước khi trận Sekigahara kết thúc, Mạc phủ chia các lãnh chúa thành 3
Nho giáo… Các tướng quân cũng rất chú ý sử dụng các nhà sư hay Nho sĩ làm cố
vấn cho chính quyền. Nhận thấy sự thay đổi của hoàn cảnh đất nước, hòa bình được
củng cố một lực lượng lớn võ sĩ buộc phải thay đổi, chính vì vậy mà chính quyền
trung ương đã khuyến khích sự phát triển học vấn. Mạc phủ cho xây dựng nhà học
thờ Khổng tử ở khắp nơi tạo điều kiện cho việc phát triển Nho học, hình thành nên
một tầng lớp nho sĩ mới có đủ khả năng gánh vác được công việc của đất nước. Sự
ổn định và vững mạnh của chính quyền là điều kiện tốt cho các hoạt động kinh tế xã
hội được khôi phục và phát triển sau một thời gian dài nội chiến.
Khoảng giữa những năm 30 của thế XVII, do những tác động của chính trị,
kinh tế và tôn giáo (vấn đề đạo Thiên Chúa); lường trước những thách thức từ nội
bộ đất nước cũng như từ bên ngoài mang lại, tướng quân Tokugawa Iemitsu đã ban
hành lệnh tỏa quốc (sakoku) để ngăn chặn những ảnh hưởng từ bên ngoài đối với
đất nước, hạn chế những thiệt hại mà Nhật Bản phải chịu sau thời gian mở cửa năng
động của mình từ cuối thế kỉ XVI.
Qua đây có thể thấy nền chính trị ổn định và một nhà cầm quyền vững mạnh
đã có những thúc đẩy tích cực cho sự phát triển của đời sống xã hội.
1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
Sự vững mạnh của chính quyền trung ương và một môi trường hòa bình ổn
định đã có tác động tích cực đến quá trình khôi phục kinh tế sau hàng thập kỉ nội
chiến. Đầu thế kỉ XVII, sự phát triển kinh tế xã hội là một điểm nổi bật. Các ngành
kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã có những bước nhảy vọt
đáng nể.
Được coi là ngành kinh tế “xương sống” của chế độ phong kiến, nông nghiệp
thời kì này phát triển nhanh về số lượng diện tích đất canh tác và sản lượng nông
nghiệp. Nếu so sánh “vào đầu thế kỉ X, diện tích đất canh tác ở Nhật Bản mới chỉ
đạt 860.000 ha, giữa thế kỉ XV là 950.000 ha đến năm 1600 đã vượt lên 1640.000
ha… cùng với sự mở rộng về diện tích, sản lượng lương thực của Nhật Bản đã tăng
lên rõ rệt, năm 1600, tổng sản lượng lương thực đạt khoảng 19,7 triệu koku” [4;
203]. Có được kết quả trên là do chính sách khuyến khích khai hoang và tận dụng
với Việt Nam, về căn bản kinh tế nông nghiệp Nhật Bản là kinh tế nông nghiệp
thung lũng. Môi cảnh sống tự nhiên trong các thung lũng đã quy định nên tập quán
canh tác, lối sống và kết cấu xã hội. Đời sống sản xuất nông nghiệp và nhu cầu cần
phải có một sự điều hành thống nhất trong việc sử dụng các nguồn nước tưới cũng
góp phần cố kết tính cộng đồng làng, tinh thần tương trợ trong mỗi người Nhật.
Tâm lý hướng vào cộng đồng, coi trọng trách nhiệm với cộng đồng cũng đã dần
được hình thành” [6; 38].
Làng Nhật Bản, cũng như bao làng quê trong xã hội nông nghiệp châu Á
không chỉ đơn thuần là một đơn vị cư trú bao gồm nhiều hộ tiểu nông mà còn là một
tổ chức sản xuất trên cơ sở địa vực. Trong điều kiện đất đai hạn hẹp, người Nhật
luôn có ý thức sâu sắc về lãnh thổ và địa bàn cư trú của mình. Trong sự phát triển
tương đối độc lập của các lãnh chúa thời Edo, làng là điểm mút cuối cùng của hệ
§oµn M¹nh Quúnh
15
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
thống quản chế đồng thời cũng là thực thể quan trọng nhất để các cấp chính quyền
có thể kiểm nghiệm tính thiết thực và hiệu quả của những chính sách ban ra. Sự
phát triển của kinh tế hàng hóa và những nhân tố xã hội mới đã khiến cho không
gian kinh tế cũng như cơ tầng xã hội nông thôn truyền thống không ngừng biến đổi.
Là một nước châu Á, cơ sở kinh tế dựa vào sản phẩm nông nghiệp tự nhiên
trong tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản, ruộng đất và quyền sở hữu nó bao
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
(thuế đất) là loại thuế nặng nhất thường chiếm khoảng 25 - 30% thu nhập. Loại thứ
hai là komono nari (thuế phụ thu) đánh vào các khoản khai thác lâm thổ sản, đánh
cá, cắt cỏ… Thứ ba là katagari mono (thuế đặc biệt) đánh vào việc tu sửa đường sá,
dự phòng việc mất mùa. Thứ tư là kuniyaku (thuế cho công quốc) dùng cho việc mở
mang thủy lợi, chống hỏa hoạn, duy trì an ninh; cuối cùng là buyaku (thuế phục vụ)
chủ yếu là lao động công ích, cung cấp phương tiện, vật dụng ngựa” [6; 172]. Ngoài
ra, nông dân phải đóng góp nhiều khoản chi phí khác nữa bằng hiện vật hay bằng
tiền khi được yêu cầu. Thời Tokugawa, ở nhiều vùng, các khoản thuế đóng góp của
nông dân chiếm tới 60 - 70% thu nhập của các lãnh chúa trong khi đó số thuế của
thương nhân, thợ thủ công chỉ chiếm từ 5 - 6% mà thôi. Theo thang bậc đẳng cấp xã
hội do Mạc phủ Edo định ra, nông dân chỉ đứng đằng sau đẳng cấp võ sĩ nhưng trên
thực tế họ là những người bị áp bức nặng nề nhất. Được coi như “những hạt vừng
càng ép càng ra dầu”, thuế khóa đã đè nặng lên cuộc sống của người nông dân
khiến họ “không thể sống nhưng cũng không thể chết”. Vào những năm được mùa,
số lương thực mà họ giành dụm được cũng chỉ đủ sống. Nhưng những năm đói
kém, tình cảnh người nông dân trở nên hết sức khốn cùng.
Trong nông nghiệp do cây trồng chủ yếu là lúa nước nên tạo được nguồn
nước tưới và giữ mức nước cần thiết trong ruộng ở các biên độ khác nhau là yêu cầu
cao, thường xuyên đối với người canh tác. Tại Nhật Bản có tới hơn 100 loại giống
lúa. Việc đưa các loại giống mới vào canh tác đã làm thay đổi chu kì sản xuất, rút
ngắn thời vụ. Do chủng loại giống phong phú nên nông dân có thể lựa chọn những
giống lúa cho năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương mình
để canh tác. Những thành tựu khoa học kĩ thuật nông nghiệp đã tạo điều kiện hơn
cho người canh tác có thể chủ động hơn trong sản xuất đồng thời biết lựa chọn các
những hạn chế nhất định: sức tăng trưởng của ngành chậm hơn so với thủ công và
thương nghiệp. Sự bóc lột nặng nề của giai cấp thống trị cũng góp phần làm nông
nghiệp bị ảnh hưởng. Nông nghiệp được coi là ngành kinh tế căn bản nhưng sự
chuyển biến trong nông nghiệp luôn có liên hệ mật thiết với sự phát triển của các
ngành thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự phát triển kinh tế nông nghiệp mang
tính chất thương mại đã tạo ra một chu trình mới cho sản xuất nông nghiệp, thúc
đẩy quá trình phân hóa giữa nông nghiệp thủ công nghiệp và thương nghiệp.
Bên cạnh tăng cường sản xuất nông nghiệp, chính quyền Tokugawa rất quan
tâm phát triển thủ công thương nghiệp. Với tầm nhìn hướng biển và truyền thống
hải thương lâu đời, cùng nguồn lợi lớn mà công thương nghiệp mang lại. Sau khi
củng cố được sự ổn định của Mạc phủ Edo, Ieyasu đã tiến hành mời nhiều đối tác
châu Âu như Hà Lan, Anh… đến buôn bán. Cùng với đó là tiếp tục duy trì các Châu
ấn thuyền mà đã được Toyotomi Hideyoshi (1582 - 1598) phát triển khi còn cầm
quyền. Hơn nữa, do chính sách khuyến khích sản xuất của nhiều lãnh chúa, nhu cầu
tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt là sức mua của người dân ngày càng tăng nên thủ công
nghiệp thời kì này có nhiều bước phát triển vượt bậc. Việc áp dụng và cải tiến kĩ
thuật, mở rộng quy mô sản xuất đã góp phần tạo ra những biến đổi trong các ngành
thủ công.
§oµn M¹nh Quúnh
18
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
§oµn M¹nh Quúnh
19
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
có thể phát triển ngành kinh tế này để tăng cường sức mạnh đất nước chứ không chỉ
chú tâm vào kinh tế nông nghiệp. Thực tế cho thấy, nhờ quan hệ giao thương với
nước ngoài mà một số han vốn là những vùng lãnh thổ nhỏ, diện tích đất canh tác
không nhiều nhưng đã trở thành những lãnh địa có thế lực kinh tế hùng hậu.
Trong những điều kiện mới, sau khi nắm quyền ở Nhật Bản, là người có tầm
nhìn chiến lược, tướng quân Tokugawa Ieyasu đã có nhiều nỗ lực để thiết lập quan
hệ hữu nghị với các nước. Ông đã cho phép và khuyến khích việc tái thiết mối quan
hệ truyền thống với nước láng giềng Triều Tiên (1606). Trong quan hệ với Trung
Quốc, Nhật Bản tỏ ra nhún nhường nhưng rõ ràng là họ đã xóa được mối quan hệ
thần thuộc của một nước nhỏ trước đây. Mạc phủ Tokugawa cũng ủng hộ việc mở
rộng giao thương với các nước Đông Nam Á. Đồng thời, cố gắng duy trì và mở
rộng giao lưu trao đổi thương mại với nhiều cường quốc phương Tây, thực hiện
việc mở rộng các quan hệ quốc tế. Tướng quân Tokugawa Ieyasu chấp nhận cho
một số phái đoàn Nhật Bản sang châu Âu và Tân Tây Ban Nha (Mexico) để thị sát
và tìm hiểu tình hình kinh tế, xã hội các nước này. Ông còn chuẩn bị xây dựng một
chế độ tiền tệ cho các hoạt động ngoại thương, ủng hộ kế hoạch đóng những chiếc
tàu lớn có khả năng vượt đại dương, tạo điều kiện cho việc trực tiếp tham gia buôn
bán với nước ngoài của thương nhân Nhật nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế.
phong kiến nhưng đã chứa đựng trong lòng nó những tiền đề phát triển của một xã
hội mới…”. [4; 227]
Chính quyền Mạc phủ đề cao các giá trị của Nho giáo cho nên tính chất khắt
khe, bảo thủ của xã hội ngày càng trở lên lớn hơn. Trước đây, gia đình Nhật Bản
con trai, con gái đều có quyền và bình đẳng như nhau trong mọi nghĩa vụ. Nhưng
thời kì này, chế độ thừa kế tài sản có những thay đổi chỉ có con trai trưởng mới có
quyền thừa hưởng tài sản, chủ yếu là ruộng đất, của tổ tiên để lại mà thôi. Con trai
thứ, con gái hầu như không được thừa kế tài sản và phải trở thành tá điền. Trước
những chuyển biến sâu sắc của xã hội, nhiều người trong số đó đã buộc phải chuyển
sang buôn bán hay tìm việc làm từ những ngành kinh tế mới.
Đời sống các tầng lớp trong xã hội dù được cải thiện rất nhiều nhưng trong
các chính sách cai trị của mình từ lãnh chúa han cho tới Mạc phủ trung ương đều ra
sức bóc lột nông dân bằng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, lao dịch… Những
biến động đó trong kinh tế nông nghiệp đã khiến cho các mối quan hệ cộng đồng
truyền thống bị xáo trộn, là nguyên nhân căn bản dẫn đến các cuộc đấu tranh, khởi
nghĩa của nông dân. Cuối năm 1637, tại bán đảo Shimabara, thuộc miền Nam Hizen
đã diễn ra một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn của hơn 30.000 nông dân mà phần lớn
là giáo dân được sự ủng hộ của nhiều tầng lớp khác. Diễn ra từ tháng 12.1637 cho
tới tháng 4.1638, cuộc khởi nghĩa đã làm cho chính quyền Edo phải điều động một
lực lượng quân sự lớn đến đàn áp. Sau nhiều vất vả và có sự hỗ trợ từ người Hà Lan
Mạc phủ mới có thể dập tắt được cuộc khởi nghĩa. Những biến động trong xã hội
còn được đẩy lên cao do chính sách đàn áp tôn giáo mà Mạc phủ kiên quyết thực
hiện (mà sẽ được trình bày ở chương sau).
§oµn M¹nh Quúnh
21
K35CN Lịch sử
chính Sotoku Taishi (572 - 621) khoảng thế kỉ VI - VII. Từ khi được truyền vào
Nhật Bản, Phật giáo không ngừng lớn mạnh, tạo được ảnh hưởng tới đời sống tinh
thần của các tầng lớp trong xã hội. Tại Nhật Bản, Phật giáo hình thành nên nhiều
tông phái khác nhau như Zen (Thiền tông), Nichiren shu… Trong nhiều hệ phái
Phật giáo thì Zen (Thiền tông) đã thành công trong việc phát triển và mở rộng các
§oµn M¹nh Quúnh
22
K35CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
Trêng §¹i häc S ph¹m Hµ Néi 2
hình thức nghệ thuật văn hóa. Trong khi đó, các giáo phái Phật giáo khác lại hiềm
khích (trong quá trình truyền bá ở Nhật phát triển rất nhiều hệ phái Phật giáo) và
chống đối nhau, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới chính trị triều đình. Do đó, họ bị
xem như là các lực lượng có khả năng gây bạo động hoặc quá lạm dụng địa vị,
quyền lực của mình.
Sau Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo cũng tùy theo mức độ truyền vào Nhật
Bản. Với tâm thức cởi mở người Nhật đã dung hợp các hệ tư tưởng trên. Thông
thường “khi một người Nhật ra đời được cha mẹ đưa vào đền thờ Thần đạo của gia
đình để hiến cho các thần. Lễ cưới được tổ chức theo nghi lễ Thần đạo nhưng ngày
cưới được chọn theo ngày hung, cát theo quan niệm Đạo giáo. Trong quan hệ gia
đình, người Nhật phải giữ gìn đạo hiếu với cha mẹ và người trên theo quy tắc Nho
giáo, trong quan hệ ở trường học và nơi làm việc cũng phải thể hiện sự cung kính
và trung thành theo nguyên tắc Nho giáo. Hàng năm, người ta tham gia các lễ hội
(daimyo) đón tiếp thân tình và đối xử tử tế. Công việc truyền giáo thời gian đầu có
nhiều thuận lợi, Nhật Bản mở ra một “cánh đồng” truyền giáo đầy lạc quan. Có thể
thấy: “Sự giàu có và tính cách mạnh mẽ, thẳng thắn của các thương nhân Bồ Đào
Nha, những chiếc tàu buôn lớn đầy ắp hàng hóa, được trang bị vũ khí hiện đại đã
có sức hấp dẫn đối với người Nhật. Thêm vào đó, hầu hết các giáo sĩ là những
người có tri thức uyên bác trên rất nhiều lĩnh vực. Họ không chỉ là những người
làm công việc truyền giáo mà thông qua hoạt động của mình đã đem đến Nhật Bản
những thành tựu của nền văn minh mới, hoàn toàn khác lạ với những gì mà người
Nhật đã từng biết về văn minh Trung Hoa hay những giá trị văn hóa của một số
quốc gia phương Đông khác đương thời”. [6; 79]
Mặc dù mới đến Nhật Bản, các giáo sĩ đã hòa nhập nhanh chóng vào đời
sống xã hội của đất nước các “kami”. Nửa sau thế kỉ XVI, đạo Thiên Chúa phát
triển nhanh chóng ở Nhật Bản, mở ra một “Kirishitan thời đại”. Những thành quả
đầu tiên mà giáo sĩ (thừa sai) tiên khởi Francis Xavier đạt được là đưa khoảng 3000
người Nhật theo đạo và xây dựng nên nhà thờ đầu tiên. Từ đó cho tới cuối thế kỉ
XVI, giáo hội Thiên Chúa đã có số lượng giáo dân tới hàng trăm ngàn, nhiều lãnh
địa Công giáo xuất hiện. Nhiều lãnh chúa theo đạo tham gia tích cực vào công việc
giáo hội tạo nên một sức mạnh lớn và vị thế ngày càng tăng của đạo Thiên Chúa ở
Nhật Bản.
Có thể thấy, sau 22 năm từ khi F.Xavier đến Nhật Bản, số lượng giáo dân
mới chỉ khoảng 3000 người thì: “đến năm 1579 đã tăng lên 130000 người và đến
năm 1582 đã có tới 150.000 tín đồ, 75 giáo sĩ và 200 nhà thờ được xây dựng” [6;
89]. Đây một kết quả khả quan cho sự phát triển của giáo hội Nhật Bản. Có được
những thành quả trên là do sự nhiệt thành và tấm lòng chịu đựng vượt khó của
những thừa sai. Họ thấm nhuần lời răn của Chúa, lúc mới đến đất Nhật Bản các giáo
sĩ đã chú ý ngay đến những lớp người nghèo khổ dưới đáy xã hội. Đây là những đối
tượng luôn phải chịu áp bức, đau khổ trong cơn loạn lạc. Chính trong lúc đó với
giáo lí mang lại niềm tin và những việc làm nhân đức của mình các giáo sĩ đã tạo
được ấn tượng tốt cùng sự tin tưởng của tầng lớp nghèo khổ trong xã hội.
với bên ngoài. Với tầm nhìn chiến lược, Ieyasu và các tướng quân kế nghiệp họ
Tokugawa sau này đã giải quyết một cách hiệu quả nhiều vấn đề khó khăn trong
thời gian cầm quyền của mình về các vấn đề chính trị, xã hội như phân chia lại
quyền lực đất nước trong nội bộ giai cấp thống trị, tiến hành chia lại ruộng đất cho
nông dân, giải quyết nhiều vấn đề ngoại giao với Trung Quốc và phương Tây…
Sự ổn định của chính quyền đã thúc đẩy các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa
được phục hồi và tạo nên những chuyển biến tích cực.
§oµn M¹nh Quúnh
25
K35CN Lịch sử