vai trò của phật giáo trong đời sống chính trị xã hội myanmar từ cuối thế kỷ xix đến nửa đầu thế kỷ xx - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Trương Ánh Ngọc

VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI MYANMAR TỪ CUỐI
THẾ KỶ XIX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Trương Ánh Ngọc
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI MYANMAR TỪ CUỐI
THẾ KỶ XIX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành : Lịch sử Thế giới
Mã số

: 60 22 03 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ BÍCH LIÊN



MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
DẪN LUẬN .................................................................................................................... 1
Chương 1. PHẬT GIÁO – TINH THẦN DÂN TỘC CỦA MYANMAR ............... 8
1.1. Myanmar – vùng đất của Phật ......................................................................................... 8

1.1.1. Vị trí địa lý.................................................................................................. 8
1.1.2. Bức tranh các tộc người.............................................................................. 8
1.2. Sự du nhập Phật giáo vào Myanmar.............................................................................. 13

1.2.1 Những cuộc tiếp xúc đầu tiên với Phật giáo.............................................. 13
1.2.2 Phật giáo ở Hạ Miến (từ thế kỉ V – XI) ..................................................... 14
1.2.3 Phật giáo Tiểu thừa đến Pagan (thế kỉ XI - XIII) ...................................... 15
1.2.4. Phật giáo ở Myanmar (thế kỉ XIII – XVII) .............................................. 19
1.2.5. Phật giáo ở Myanamar (thế kỉ XVII – XIX) ............................................ 21
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 26
Chương 2. PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI MYANMAR GIAI ĐOẠN 1824 – 1948... 27
2.1. Thực dân Anh xâm lược Myanmar và những chính sách đối với Phật giáo ................. 27

2.1.1. Thực dân Anh xâm lược Myanmar ......................................................... 27
2.1.2. Những chính sách đối với Phật giáo......................................................... 33
2.2. Sự phát triển của Phật giáo giai đoạn 1824 – 1948 ....................................................... 39

Tiểu kết chương 2 ........................................................................................................ 45
Chương 3. VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG PHONG TRÀO YÊU
NƯỚC CUỐI THẾ KỶ XIX – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX ..................... 46
3.1. Phật giáo trong đấu tranh chống thực dân Anh ............................................................ 49

Theravada Buddhism – Phật giáo Tiểu thừa được phổ biển ở Nam và Đông Nam Á,
Mahayana Buddhism – Phật giáo Đại thừa thịnh hành ở Bắc và Đông Á. Chính điều
này tạo nên sự sinh động và phong phú trong thế giới Phật giáo đầy màu sắc.
Mặc dù không phải là một trong bảy quốc gia có được “Bảy kỳ quan của thế
giới Phật giáo” (Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Hong Kong, Mỹ),
nhưng Myanmar được cả thế giới biết đến như là một vùng đất vàng, một vùng đất của
Phật.
Là một quốc gia nằm không xa Việt Nam, với hơn 2500 năm Phật giáo
Theravada ngự trị, Myanmar thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với những
tháp chùa lấp lánh ánh vàng, với những con người chân chất thuần lương; bởi lẽ, Phật
giáo là đạo đức cơ bản của xã hội Myanmar từ trong quá khứ cho đến hiện tại.


2

Năm 1954, Đại hội Phật Đản được tổ chức thành công ở chùa Kaba Aye – Chùa
Hòa Bình Thế Giới, nơi họp mặt của 2500 vị đại biểu các quốc gia trên thế giới, tượng
trưng cho 2500 đệ tử Phật thời Phật tại thế. Năm 1960, U Nu lãnh đạo khối Phật giáo,
đắc cử một cách vẻ vang, thành lập chính phủ dân sự. Tháng 10/1962, ông đưa ra dự
thảo đạo luật lấy Phật Giáo làm Quốc giáo. Để trấn an những tôn giáo khác, ông chủ
trương tự do tôn giáo, triệt để tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Năm
1980, trường Đại Học Phật giáo được thành lập tại Yangon và Mandalay.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước Myanmar, Phật giáo nổi bật lên với
vai trò là một lực lượng kết nối các thành phần trong xã hội vốn chứa đựng những bất
đồng sâu sắc về mặt sắc tộc và tôn giáo.
Những thập niên cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế XX (1885 – 1948), là một
giai đoạn có nhiều sự biến động trong xã hội Myanmar. Cùng chung số phận với hầu
hết các quốc gia Đông Nam Á khác, Myanmar rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực
dân Anh và sau đó là phát xít Nhật. Dưới ách cai trị và đô hộ của kẻ đi xâm lược, xã
hội truyền thống Miến Điện bị thay đổi nhanh chóng bởi sự sụp đổ của chế độ quân

Anh là quốc gia hàng đầu trong việc nghiên cứu về Myanmar. Trung tướng
Arthur Purves Phayre (1812 – 1885) là ủy viên cai trị đầu tiên của Anh ở Myanmar.
Với nguồn tài liệu thu thập được và cùng với thời gian sinh sống ở Myanmar, Phayre
đã cho ra đời “History of Burma including Burma proper, Pegu, Taungu, Tenasserim,
and Arakan, London: Teubner & co, Ludgate Hill, 1883” là tác phẩm đầu tiên của
người Anh nhưng rất quý giá về lịch sử tổng quan của Miến Điện từ buổi đầu cho đến
trước khi thực dân phương Tây đến nô dịch.
Một tác giả người Anh khác đã có những nghiên cứu sâu sắc về Myanmar. Đó
chính là Daniel George Edward Hall (1891-1979). Ông đã viết khá nhiều về lịch sử
Miến Điện, về văn hóa Miến Điện cũng như châu Á. “Lịch sử Đông Nam Á (sách
tham khảo), Nxb CTQG HN, 1997”, ở chương 44 – Miến Điện thuộc Anh 1886 1942, Hall đã đề cập rất nhiều nội dung liên quan đến chính sách cai trị của Anh đối
với Phật giáo, làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa với chính quyền thực dân
ngày càng trở nên sâu sắc.
Liên Xô cũ trước đây cũng là một trong nhiều quốc gia có những nghiên cứu có
giá trị về Myanmar. Đáng kể là tác phẩm “Miến Điện vào đêm trước sự xâm lược của
Anh” của M.G. Cudơluva viết về 100 năm cuối cùng của nhà nước Miến Điện độc lập.
Ph. Vaxiliep “Lược sử Miến Điện (1885 - 1948)”. Trong cuốn sách tác giả không chỉ


4

nêu lên lịch sử hình thành và hành động của chế độ thực dân mà còn đưa ra sự đánh
giá rõ ràng về phong trào giải phóng dân tộc diễn ra ở Myanmar.
Tác giả Nguyễn Bích Liên trong thời gian làm Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại
Miến Điện, đã dày công nhận xét và kê cứu, soạn thành quyển đia phương chí là một
tập tài liệu tuy tác giả gọi là giản lược nhưng cũng khá đầy đủ về một nước mà vị trí
không xa gì Việt Nam. “Nguyễn Bích Liên, Miến Điện, Nxb Cơ sở Phạm Quang Khai,
1968” là một bức tranh tổng hòa về các mặt kinh tế – chính trị – xã hội – văn hóa ở
Myanmar từ buổi bình minh của quốc gia cho đến khi Miến Điện giành độc lập và thi
hành chính sách trung lập. Trong suốt công trình nghiên cứu, tác giả đặc biệt đề cập

Jerrold Schecrer đã khắc họa vai trò sôi động và sức mạnh trong chính trị đương đại
của Phật giáo ở các quốc gia Miến Điện – Campuchia – Sri Lanka – Trung Hoa – Nhật
Bản – Thái Lan – Nam Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng, chính sách cai trị của phương
Tây hoàn toàn thất bại trước sức mạnh chính trị của Phật giáo.
Trần Quang Thuận, Phật giáo Miến Điện, Nxb Tôn giáo, 2008. Quyển sách dày
483 trang là một quá trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả về Phật giáo Myanmar.
Nội dung sách cung cấp đầy đủ tất cả các vấn đề liên quan đến Phật giáo ở Myanmar,
điều đáng quan tâm hơn là tác giả đã dành gần một nửa số trang của tác phẩm để nói
đến vai trò của Phật giáo cũng như tổ chức Tăng già – Sangha trong xã hội Myanmar
hiện đại. Đây được xem là một nghiên cứu rất đáng trân trọng và cần có về Phật giáo
Myanmar.
Chiêm Tế, Phương Đông từ sau cách mạng tháng Mười Nga (1917 – 1959)
miền Đông Á và Đông Nam Á, Nxb Văn sử địa, 1959. Đây là một quyển sách có giá trị
và quý báu cho những ai nghiên cứu về phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các
nước Đông Á và Đông Nam Á. Từ trang 344 đến trang 362, với cách hành văn đơn
giản quyển sách của Chiêm Tế đã cung cấp một cách đầy đủ và rõ ràng về con đường
đấu tranh giải phóng dân tộc ở Myanmar nhằm chống lại ách đô hộ của thực dân Anh
và phát xít Nhật, trong đó có sự đóng góp của Phật giáo.
Một vị sư có pháp danh là Thích Thái Hòa đã mang đến một nghiên cứu với tên
gọi “Miến Điện mặt trời lên” đã nhắc đến vai trò của Phật giáo trong quá trình đấu
tranh giải phóng dân tộc ở Myanmar. Bên cạnh đó, cuốn sách còn liệt kê và miêu tả
những địa danh Phật giáo nổi tiếng ở Myanmar như: Yangon, Pegu, Pagan và Inlay.
Một số những tác giả chuyên nghiên cứu về văn hóa Đông Nam Á như: Mai
Ngọc Chừ, Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Quốc gia Hà Nội, 1998; GS.TS Phạm Đức
Dương (chủ biên), Lịch sử văn hóa Đông Nam Á, Nxb Văn hóa thông tin, 2013;


6

PGS.TS Ngô Văn Lệ, Một số vấn đề văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á,

6. Mục tiêu của đề tài
Qua việc nghiên cứu vai trò của Phật giáo trong xã hội Myanmar và trong phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Myanmar cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, luận
văn hướng đến chứng minh sự khác biệt của Phật giáo Myanmar so với các quốc gia


7

phương Đông ở chính khía cạnh “nhập thế” tích cực của tôn giáo này trên một quốc
gia mà nó du nhập vào.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của
khóa luận gồm có ……trang, chia thành 3 chương:
Chương 1: PHẬT GIÁO – TINH THẦN DÂN TỘC CỦA MYANMAR.
Chương 2: PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI MYANMAR GIAI ĐOẠN 1824 – 1948
Chương 3: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC
CUỐI THẾ KỶ XIX – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX.


8

Chương 1.

PHẬT GIÁO – TINH THẦN DÂN TỘC CỦA MYANMAR
Một sự bình yên bao trùm cả không gian và thời gian, mọi chuyển động dường
như trở nên chậm hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới, không vội vã không ồn ào. Đó là
cảm nhận của những ai một lần đến với Myanamar – một vùng đất mà giáo lý nhà Phật
tưới tẳm từ lâu khiến cho con người trở nên nhân hậu hiền lương.
1.1. Myanmar – vùng đất của Phật
1.1.1. Vị trí địa lý

cư đầu tiên đưa đến đây người Môn – Khmer, nhóm di cư thứ hai là người Tạng –
Miến, và nhóm thứ ba vào khoảng thế kỷ XIII – XIV là nhóm người Hán – Tháí. Với
hơn 135 sắc tộc khác nhau cùng tồn tại, Myanmar được mệnh danh là thiên đường cho
các nhà nghiên cứu về dân tộc và ngôn ngữ, trong đó có 8 tộc người chủ yếu.
Người Môn là những tàn dư bị cô lập của những cư dân cổ nhất của Miến Điện
còn sót lại ở ba khu miền Nam là Thaton – Pegu – Tanitayi [15, tr.11]. Đó là một
nhóm dân tộc thiểu số thuộc chủng Mongoloid, xuất phát từ thung lũng sông Dương
Tử, họ đã di chuyển vào châu thổ các con sông lớn ở Đông Nam Á như Menam,
Irrawaddy. Họ có quan hệ họ hàng với những người Khmer dựa trên điểm tương đồng
trong ngôn ngữ và hình dáng bên ngoài, sống ở Hạ Myanmar ngày nay. Trước khi tiến
sâu hơn nữa về phía Nam, người Môn sống ở đồng bằng Kyaukse tại Trung Myanmar.
Trước thời kỳ Thiên Chúa giáo không xa, họ di chuyển tới hai nơi khác nhau là vùng
Hạ Myanmar và vùng đông Salween ở Thái Lan. Người Môn chính là người thầy dạy
cho người Miến, cả người dân bình thường lẫn giới cầm quyền, về nghệ thuật - tôn
giáo và hành chính. Vô số các từ tiếng Miến sử dụng ngày nay có nguồn gốc là tiếng
Môn.
Thương gia Ấn Độ cùng các nhà thám hiểm đầu tiên đã đi dọc theo đường biển
Bengal tiến vào Suvarnabhumi hay còn gọi là “Vùng đất của những vị thần” [24, tr.
39] đã mang tri thức từ Ấn Độ truyền sang cho người Môn. Vào thế kỷ III BC, hoàng
đế Ashoka đã cử hai đại sư sang Myanmar truyền đạo. Người Môn sử dụng tiếng Phạn
và tiếng Pali vào thời kỳ muộn hơn so với văn tự tiếng Granthi ở miền Nam Ấn Độ.
Sau khi đao Phật suy tàn ở Ấn Độ, người Môn tiếp tục duy trì quan hệ với Sri Lanka
nơi mà Phật giáo Tiểu thừa vẫn giữ nguyên địa vị như trong thời đại Ashoka. Một
trong mối liên kết Phật giáo Tiểu thừa còn tồn tại đến ít nhất là thế kỷ XI.
Vào thiên niên kỷ I, người Môn làm chủ những khu vực rộng lớn ở Đông Nam
Á lục địa, một “Thế giới Môn” hình thành bao gồm ba khu vực trên đó thống trị ba


10




11

kỷ II AD. Đồng bằng Kyause, sau đổi thành Ledwin (vùng đất lúa gạo) chính là nền
tảng sức mạnh cho đế chế Miến suốt vài thế kỷ. Trước khi đánh chiếm lãnh thổ của
người Pyu, người Miến đã tiếp nhận Phật giáo Đại thừa, sau này Phật giáo Đại thừa
vẫn chiếm ưu thế trên Thượng Myanmar cho tới giữa thế kỷ XI.
Người Miến dựng nên vương quốc của mình bao xung quanh thành phố chính
Pagan khoảng năm 849. Theo như các bộ biên niên sử của người Miến kể lại, vương
quốc Miến ban đầu gồm 19 ngôi làng, mỗi ngôi làng có môt nat (linh hồn) của riêng
mình. Cũng vào năm 849, một vị thủ lĩnh đã họp nhất 19 ngôi làng ấy lại thành một
quốc gia mang linh hồn dân tộc chung nhất. Dù cho làn sóng Ấn Độ hóa cùng Phật
giáo Tiểu thừa được chọn làm quốc giáo vào thế kỷ XI, tín ngưỡng thờ nat vẫn tiếp tục
tồn tại trong tâm trí của những người con của mảnh đất Miến Điện.
Người Miến được ngợi ca là những con người mạnh mẽ anh hùng với vị vua vĩ
đại nhất của mỗi thời đại – Anawrahta. Ông chính là người đã lập ra đất nướcMiến
Điện cổ có lãnh thổ gần giống với đất nước Myanmar ngày nay với đường biên giới
trải dài từ Bhamo ở phía Bắc cho tới vịnh Martan ở phía Nam. Đường biên này được
thiết lập sau rất nhiều lần chinh phục và hợp nhất với các tộc người bên ngoài bao gồm
cả tộc người Môn phồn thịnh ở phương Nam. Tuy nhiên, kẻ đi chinh phục lại chịu
khuất phục trước sức mạnh văn hóa vượt lên trên cả bạo quyền của kẻ đi chinh phục
[24, tr. 42]. Sau cái chết của vua Anawrahta năm 1077, văn hóa Môn ảnh hưởng lớn
tới Pagan trong cả cuộc sống chốn cung đình lẫn nơi thôn dã. Các ngôi chùa ở Pagan
đều do các kiến trúc sư và thợ thủ công người Môn xây dựng nên. Chữ viết của người
Môn là cơ sở của chữ viết người Miến ra đời sau này, nó cũng trở thành phương tiện
truyền bá cho trào lưu Ấn Độ hóa trong văn hóa, luật pháp và văn học. Trong khi
người Miến thích thú với vai trò điều hành chính trị thì người Môn lại đảm trách lĩnh
vực thông thương buôn bán với thế giới bên ngoài Myanmar [24, tr. 41]. Người Môn
và người Miến có mối quan hệ thân thiết và giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc

và các miền Bamo và Cato của người Miến. Một bộ phận người Kachin sống lan sang
tỉnh Vân Nam của Trung Quốc và Atsam của Ấn Độ. Người Kachin sống chủ yếu
bằng làm rẫy, du canh, trồng lúa và ngô. Họ sử dụng ngôn ngữ Tạng – Miến. Những
người sống ở phía Đông theo đạo Phật, còn những người sống ở phía Tây theo vật linh
giáo.
Người Kayah (Karen đỏ, Kareni) sống tại bang Kayah, phía Nam bang Shan [4,
tr. 61 - 62]. Họ thường được biết đến với cái tên “người cổ dài”.


13

Với hơn 100 sắc tộc cùng tồn tại, có nguồn gốc xuất xứ nguyên thủy đa dạng,
khác biệt về lối sống, thiết chế chính trị, các mối quan hệ hình thái kinh tế, sắc thái văn
hóa; nhưng trong quá trình chung sống gần gũi, thông qua các mối quan hệ trao đổi
kinh tế – văn hóa – hôn nhân đã đưa đến một hệ quả là nhiều tộc người không còn bảo
lưu toàn bộ các đặc tính nguyên thủy, một số bộ tộc bị “vỡ” thành nhiều “mảnh” nhỏ
tách biệt nhau, nhiều nhánh đã trở nên xa lạ với nhau, thậm chí không hiểu được tiếng
nói của nhau. Chính vì lẽ đó, bức tranh tộc người ở Myanmar ngày càng trở nên phức
tạp và nhiều màu sắc.
1.2. Sự du nhập Phật giáo vào Myanmar
1.2.1. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên với Phật giáo
Phật giáo đã truyền đến Hạ Miến vào thời vua Ashoka, ba thế kỷ trước công
nguyên [18, tr. 98], nhưng các bằng chứng khảo cổ học ở Hạ Miến lại không chứng
minh điều này. Bia đá V và XIII của vua Ashoka có ghi danh sách các nước vua
Ashoka gởi chư tăng đến hoằng truyền chánh pháp mà không đề cập đến Hạ Miến,
nhưng sử liệu Tích Lan lại ghi đầy đủ chi tiết tên các nước phái đoàn đến hoằng hóa
chánh pháp. Hai bộ sử Dipavamsa (Tiểu sử) và Mahavamsa (Đại sử) của Tích Lan đã
đề cập đến sự kiện này và được các nhà học giả phương Tây chấp nhận.
Theo Sasam – vamsa, là một biên niên sử tiếng Phạn được viết bởi Tỳ kheo
Panasami cho rằng: Đức Phật đã đến Thaton và Shwesettan và để lại hình ảnh của

ở Nam Ấn, trên vàng lá, tìm thấy gần Hmawza cho chúng ta hai dự kiện: thứ nhất,
Phật giáo Nam Tông đã phát triển ở Hạ Miến vì chữ Pali khá phổ biến; thứ hai, chữ
Pali viết bằng mẫu tự Andhra Kadamba của Nam Ấn chứng tỏ mối liên hệ văn hóa và
tôn giáo khá chặt chẽ giữa Nam Ấn Độ và Miến Điện.
Vào các thế kỷ V - VI, Kancipuram – Negapatam và Kaveripattam ở Nam Ấn
Độ là những trung tâm Phật giáo Nam Tông quan trọng, bằng chứng là Buddhagosa,
một nhà sư thông thái, đạo hạnh đã xuất hiện tại vùng đất này. Nhà sư này đã có hoạt
động hoằng hóa khá sôi nổi tại Sri Lanka và Miến Điện. Sau một thời gian lưu trú tại
Sri Lanka, ngài hoàn tất công tác phiên dịch luận, sớ tiếng Sri Lanka ra tiếng Pali, ngài
trở về Miến Điện, mang theo cuốn văn phạm Pali của Kaccayana và bộ luật Manu.
Ngài dịch cuốn văn phạm Pali tiếng Sri Lanka ra tiếng Miến Điện, giới thiệu bộ luật
Manu cho độc giả Miến Điện, biên soạn bộ sách nói về ngạn ngữ Miến Điện. Có thể
nói, Buddhagosa là người có công truyền bá và phát triển Phật giáo Nam Tông tại
Miến Điện và giáo phái này đã thịnh hành ở đây vào thế kỷ VI.


15

Theo hồi ký của Đại sư Nghĩa Tịnh (I-sting), dân xứ Shil-li Chatalo tức là
Prome hay Hạ Miến, rất sùng kính Tam bảo và tại đây có 4 giáo phái Phật giáo, phái
Àyamahàsanghika, Àryasthavira-vàda, Àryamùla-sarvàstivàda và Àryasammitiya.
Khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt, Tăng già phân hóa bị phân chia làm
hai phe, một phe cho Phật luật quá nghiêm khắc muốn thay đổi, phe khác không đồng
ý muốn giữ nguyên. Phái bảo thủ có danh hiệu Sthavira-vàda (Trưởng Lão Bộ) hay
Theravàda (Thượng Tọa Bộ), còn phái chủ trương cải cách tên là Mahàsanghika (Đại
Chúng Bộ) [18, tr. 103].
Phái Sarvastivàda là một nhánh của Theravàda, về sau phân chia thành các chi
phái nhỏ hơn và danh xưng Sarvastivàda được đổi thành Mùlasarvastivàda. Phật giáo
thịnh hành ở Prome vào thế kỷ VII - VIII. Vương quốc Pyu có 18 chư hầu ở Nam
Miến và thủ phủ là Shil-li Chatalo, dân chúng trong thành đều theo đạo Phật với hơn

Phật Metteyya (Phật Di Lặc). Vua Anawrahta vẫn tiếp tục cho đúc những bài vị đất
nung với hình ảnh của Lokanàtha ngay cả sau khi ông chấp nhận học thuyết Nguyên
Thủy.
Đầu của thế kỷ XI, Phật giáo đối với người Môn ở vùng Suvannabhumi bị mờ
nhạt do con người bị quấy rầy bởi bọn cướp bóc, những kẻ đột kích, bệnh dịch và các
đối thủ của tôn giáo. Những ảnh hưởng này hầu hết đến từ vương quốc Ấn giáo Khmer
ở Campuchia và miền bắc Thái Lan. Người Khmer đã nỗ lực để chiếm Thaton và các
vương quốc của người Môn khác ở miền Nam để mở rộng đế chế của họ. Shin Arahan
(một nhà sư của dân tộc Môn) lo ngại rằng các Tỳ kheo sẽ không thể tiếp tục duy trì sự
tu hành của họ cũng như là việc nghiên cứu các kinh phật trong hoàn cảnh này. Do đó,
ông đã đi đến một nơi mới, ở đó người dân đã phát triển một vương quốc vững mạnh,
thịnh vượng và an toàn trước kẻ thù [26, tr. 47]. Shin Arahan đến vùng lân cận của
Pagan, gặp gỡ vua Anawrahta và giúp nhà vua cải đạo từ Đại thừa sang Tiểu thừa.
Điều đáng lưu ý trong thời gian này là Phật giáo cũng bị tấn công ở nhiều nơi
khác. Colas là một triều đại Ấn Độ giáo đã phản đối mạnh mẽ đối với Phật Giáo xuất
hiện ở miền Nam Ấn Độ, cũng là một trong những thành trì cuối cùng của Phật Giáo
Nguyên Thủy. Giai đoạn 1017-1070, họ đã có thể mở rộng quyền lực để nắm giữ hầu
hết Sri Lanka. Dvàravatã là thành phố lớn của người Môn, một trung tâm Phật Giáo
Nguyên Thủy tại miền Nam Thái Lan rơi vào tay người Khmer, chủ nhân của toàn bộ
Thái Lan là những người Ấn giáo Shaivite. Ở phía bắc của Ấn Độ, quân đội Hồi giáo
đang cố gắng để tiêu diệt những gì còn sót lại của Phật giáo. Giáo sư Luce viết: “Trong


17

giai đoạn nguy hiểm này, Phật giáo đã được cứu chỉ bởi những chiến binh dũng cảm
là Vijayabàhu ở Sri Lanka và Anawrahta” [26, tr. 48].
Thông qua Shin Arahan, Anawrahta lúc bấy giờ đã tìm thấy được tôn giáo mà
ông từng khao khát, ông quyết định đi tìm kiếm Kinh phật và các di tích thiêng liêng
của tôn giáo này. Ông mong muốn vương quốc mình sẽ giữ gìn được những giáo lý

tiếp tục được sử dụng cho các nghi lễ cung đình và là một phần của tôn giáo phổ biến,
trong khi đó các tăng sĩ rất được tôn kính và sư phụ của họ, Đức Phật Gotama (Đức
Phật Thích Ca) thì được tôn vinh thông qua việc dựng lên vô số các ngôi chùa và đền
thờ.
Anawrahta được nhắc đến trong biên niên sử của người Miến, người Môn,
người Khmer, người Thái và người Sinhalese như một vị khai sáng vĩ đại của Phật
giáo vì ông đã phát triển Pagan thành một cường quốc và đặt nền móng cho sự vinh
quang của vùng đất này. Tuy ông đã không xây dựng nhiều đền - chùa nổi tiếng ở
Pagan, nhưng ngôi đền cổ nhất được xây dựng chỉ liền sau triều đại của ông. Điều
quan trọng là sự quan tâm của ông không chỉ dành riêng cho Pagan. Ông đã xây dựng
nhiều ngôi chùa ở mọi nơi mà ông đã chinh phạt và trang trí chúng với hình ảnh minh
họa từ tiền thân và cuộc đời của Đức Phật.
Anawrahta để lại bảng linh vị bằng đất sét được trang trí với hình ảnh của Đức
Phật, tên của nhà vua một số danh từ Pali và những câu thơ Sanskrit. Tiêu biểu là câu:
“Bởi tôi, vua Anawrahta, lời chỉ dẫn của Sugata (Đức Phật) đã được tạo ra. Thông
đây, tôi có thể có những con đường dẫn đến Niết Bàn khi Đức Phật Phật Di Lặc
(Metteyya) được đánh thức” [26, tr. 56]. Anawrahta mơ ước trở thành một đệ tử của
Đức Phật Phật Di Lặc (Metteyya), không giống như nhiều vị vua sau này của
Myanmar mong muốn được Phật quả. Đây có phải là một dấu hiệu cho thấy người đàn
ông vĩ đại này vẫn còn là một người khiêm tốn mặc dù xây dựng một đế chế Myanmar
rộng lớn trong sự nghiệp của mình? [26, tr. 56 – 61].
Một đặc điểm quan trọng của Phật giáo Nam Tông ở Miến Điện trong giai đoạn
này là sự liên hệ đặc biệt với Phật giáo Sri Lanka. Triều đại Narapatisithu rất quan
trọng trong lịch sử Phật giáo Miến Điện. Vua tăng cường liên hệ giữa Miến Điện và
Sri Lanka. Quốc sư Tăng Thống Uttarajiva (người Talaing) cùng thị giả Sa di Chapala
và một số tăng sĩ Miến Điện đến Sri Lanka năm 1170 hay 1171 để chiêm bái thánh
tích như được ghi trong bia ký Kalàani của Dhammaceti, thế kỷ XV [18, tr. 117].
Nhìn dưới góc độ tôn giáo và văn hóa, triều đại Narapatisithu là thời kỳ cực
thịnh của Pagan. Vua nỗ lực bảo vệ và phát triển Phật giáo, muốn dân chúng hành trì


tổ chức đại giới đàn, nhưng không được lời giải đáp thỏa đáng, đồng thuận, nên vua
quyết định gởi 22 vị tỳ kheo, 22 vị sa di đến Sri Lanka nghiên cứu, tìm đáp án cho vấn
đề trên.


20

Dựa vào sự giúp đỡ của Phật giáo Sri Lanka, cùng với tinh thần hộ pháp tích
cực, vua Dhammazedi đã liên kết tất cả giáo phái Phật giáo Miến Điện thành một tổ
chức duy nhất, cùng hành trình qui tắc truyền giới, thọ giới, bố tát, an cư chung theo
mô hình Mahàvihara Sri Lanka.
Miến Điện vào đầu thế kỷ XVI, chia làm 3 phần: Bắc Miến do dân Shan – Thái
cai trị, Thượng Miến (Ava) do các hoàng thân Shan cai trị cho đến khi triều đại
Toungoo xuất hiện vào giữa thế kỷ XVI, Hạ Miến do người Môn thống lãnh. Năm
1527, Bắc Miến do sắc dân Shan – Thái cai trị, tấn công Thượng Miến, phá hủy Ava,
khiến cho dân Miến tại Ava tản cư đến Toungoo, vùng đông nam Miến Điện. Năm
1539, vua Tibinshweti (1531- 1551) con vua Minkyinyo xứ Toungoo tiến chiếm thủ
phủ Pegu của người Môn, năm 1541 chiếm Martaban, Moulmein, năm 1542 chiếm
Prome, năm 1544 cai trị toàn Trung Miến, năm 1546 cai trị toàn cõi Miến Điện, thủ đô
đặt tại Pegu. Sau khi vua Tibinshweti băng hà, người anh rể Bayin Naung (1551 1581) lên cầm quyền đế quốc Miến Điện với lãnh thổ rộng lớn gồm Nabbisipura của
dân tộc Shan và Ayuthaya của Xiêm La.
Thế kỷ XVI Miến Điện là một quốc gia thống nhất và hùng mạnh, nhưng thời
gian này là một trong những giai đoạn khó khăn nhất đối với Phật giáo ở vùng Thượng
Myanmar - sự hủy hoại Tăng già được nổ lực gây ra bởi những nhà lãnh đạo người
Shan. Vua Thohanbwa (1527-1543) đặc biệt nổi tiếng với sự dã man của mình. Ông đã
phá hủy nhiều ngôi chùa tu viện và cướp kho báu. Mặc dù là một vị vua nhưng
Thohanbwa không có học thức và dốt nát. Do đó vì sợ ảnh hưởng của các tu sĩ và nghi
ngờ trong việc đi lại của họ, đức vua đã gây ra vụ thảm sát hàng ngàn người. Dưới chế
độ thảm sát của các nhà lãnh đạo Shan, người dân Myanmar cảm thấy không an toàn.
Nhiều người gồm cả các Tỳ kheo có học thức trốn sang Toungoo - thành trì của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status