ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỖ THU HƯỜNG
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM VĂN SINH HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
MƠ
̉
ĐÂ
̀
U 1
Chƣơng 1. CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA TÔN
GIÁO 6
1.1. Một số quan điểm ngoài mácxít về vai trò xã hội của tôn giáo 7
giáo hiện nay 106
3.2.1. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân 107
3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền nhận thức đúng về vai trò tích cực
của Phật giáo trong đời sống xã hội 112
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
BẢNG QUY ƢC NHỮNG CỤM T VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CTQG: Chính trị quốc gia
GHPGVN: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nxb: Nhà xuất bản 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang diễn ra những biến động to lớn về
nhiều mặt như: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, khủng bố, bệnh
tật hiểm nghèo, chiến tranh, xung đột tôn giáo, khủng hoảng kinh tế, tài chính,
đói nghèo… đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Trong bối cảnh đó, sự hồi
sinh và gia tăng mạnh mẽ của các tôn giáo cũ và một số hình thức tôn giáo
mới lạ đã làm cho mối quan hệ giữa con người ngày càng phức tạp.
Trong xu thế chung của sự gia tăng tôn giáo thì ở nước ta đời sống tôn
sống chính trị - xã hội.
Phật giáo là một hiện tượng xã hội đã tồn tại và khả năng còn tồn tại
lâu dài và ngày càng gia tăng, phát triển bởi lẽ nó có những điều phù hợp nhất
định đáp ứng một số nhu cầu nào đó của con người, của xã hội. Mặt khác
trong thực tế thì từ khi du nhập, phát triển ở nước ta đến nay Phật giáo có
những ảnh hưởng tích cực trong đời sống nhân dân trên nhiều lĩnh vực, như
đạo đức, lối sống, văn hoá, chính trị, kiến trúc… Vậy những hợp lý của Phật
giáo đó là gì? Và biểu hiện vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội ra sao?
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của Phật giáo
trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Phật giáo là một tôn giáo lớn nhất ở nước ta do vậy đã luôn được quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu các công trình tiêu biểu như: “Phật giáo nguyên
thuỷ đến thế kỷ XIII” của Trần Văn Giáp; “Việt Nam Phật giáo sử lược” của
Thích Mật Thể; “Phật giáo Việt Nam” của nhiều tác giả do giáo sư Nguyễn
Tài Thư chủ biên, hay “Lược sử Phật giáo Việt Nam” của Thượng tọa Thích
Minh Tuệ…các công trình này đã tổng kết khái quát tiến trình lịch sử Phật
giáo tại Việt Nam. Ngoài ra còn rất nhiều các các công trình nghiên cứu của
các tác giả về Phật giáo ở Việt Nam như: “Tư tưởng Phật giáo” của Nguyễn
3
Duy Hinh đã đi sâu nghiên cứu nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Đặc
điểm Phật giáo Việt Nam được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng, tâm linh của
cư dân bản địa có tiếp thu tôn giáo ngoại nhập.
Còn tác giả Thiền sư Đinh Lực và Cư sĩ Nhất Tâm trong công trình
“Phật giáo Việt Nam và Thế giới” đã mô tả Phật giáo và những vấn đề cơ bản
của Phật pháp, thiền. Tôn giáo hiện hành và sự ảnh hưởng của nó tới văn hoá,
kinh tế, chính trị của các quốc gia, các dân tộc.
Trong “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Hùng
Hậu tác giả viết về Lược sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ
trình này rất có giá trị giúp tôi khi nghiên cứu về vai trò của Phật giáo trong
đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là quá trình du nhập và
phát triển của Phật giáoViệt Nam, đặc biệt đi sâu tìm hiểu vai trò của Phật
giáo trong đời xã hội Việt Nam trong thời kỳ hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Luận văn làm rõ vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội hiện nay,
từ đó nêu ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò tích cực và hạn chế tiêu
cực trong sinh hoạt Phật giáo trong đời sống xã hội hiện nay.
Nhiệm vụ
Nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống lý luận của triết học Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai
trò xã hội của tôn giáo.
Phân tích, nghiên cứu quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo và
thực trạng phát triển của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay để từ đó đi nghiên
cứu một cách có hệ thống vấn đề vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội
Việt Nam hiện nay.
5
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phương pháp biện chứng duy vật
của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra luận văn có
tham khảo một vài công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước
liên quan đến đề tài để thực hiện luận văn này, bên cạnh việc dựa vào phương
pháp lịch sử triết học, đồng thời luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản
sau: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu,
phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống - cấu trúc.
6. Đóng góp của luận văn
đang diễn ra ở nhiều nơi, không chỉ vì nó có vai trò và tác động mạnh mẽ đến
các lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn biểu hiện của sự bảo lưu, gìn giữ bản
sắc văn hóa của từng chế độ dân tộc trước xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa
hiện nay. Tín ngưỡng, tôn giáo, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân, nhưng lại liên quan đến các lĩnh vực của toàn bộ đời sống xã hội, tác
động đến các lĩnh vực hoạt động như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và
đang có xu hướng phát triển. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo là một quá trình lâu dài. Quá trình ấy đòi hỏi phải từng bước được
hoàn thiện. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, việc đổi mới nhận
thức, đánh giá và ứng xử với tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng cần
được đặt ra nhưng sự đổi mới đúng đắn và khoa học phải dựa trên cơ sở lý
luận và thực tiễn, đó là kế thừa quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học
ngoài mácxít, đặc biệt là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề vai trò xã hội của tôn giáo cùng với những đặc điểm của tín ngưỡng, tôn
giáo Việt Nam từ đó trên cơ sở này nghiên cứu vai trò của Phật giáo trong đời
sống xã hội ở Việt Nam hiện nay để từ đó phát huy vai trò tích cực và hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và
Phật giáo nói riêng trong đời sống xã hội hiện nay ở nước ta.
7
1.1. Một số quan điểm ngoài mácxít về vai trò xã hội của tôn giáo
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo luôn có những đổi
phản ánh sự thay đổi của lịch sử nhân loại. Thực tế đã chứng minh rằng, một
tôn giáo cụ thể ở một quốc gia nhất định có thể lụi tàn, hưng thịnh hoặc mất
đi, song nhìn chung, từ khi ra đời cho đến nay, tôn giáo luôn tồn tại trong xã
hội loài người.
Lịch sử phương Tây đã từng có thời kỳ thần quyền, chi phối thế quyền,
giáo hội đứng trên nhà nước, tôn giáo thống trị toàn bộ đời sống xã hội, chi
phối con người cả phần hồn lẫn phần xác, cả đạo lẫn đời. Lịch sử cũng đã
cõi hạnh phúc vĩnh hằng đó là Thiên Đường. Như vậy tôn giáo mang bản chất
siêu thế mà con người chỉ nhận biết được qua sự khải thị hoặc cảm nhận, là
thế lực siêu nhiên chi phối toàn bộ thế giới con người. Theo quan điểm ấy thì
Chúa Trời, Thần Linh, Thượng Đế,…mà con người tôn thờ chỉ là biểu tượng
cho cái thực thể tuyệt đối, vĩnh hằng, toàn thiện, toàn mĩ, là cái sáng tạo, cái
nguồn gốc ban đầu mà mục tiêu cuối cùng chi phối thế gian này theo những
nguyên lý bất biến. Đối với tự nhiên, cái sáng tạo toàn thiện, toàn mỹ đó thể
hiện trong sự hoàn hảo tự nhiên của sự vật. Còn đối với nhân loại, con người
có trí tuệ nên nhận biết được sự thống nhất đó để hoàn thiện mình trong niềm
tin và mối quan hệ với cái sáng tạo, tự nhận thức cho rõ, do đó có được niềm
hạnh phúc [50, tr.20].
Senlinh - nhà triết học người Đức thì cho rằng “tự nhiên là sản phẩm
sáng tạo của Chúa, cái Tuyệt Đối là Chúa Trời mà con người bằng trực giác
chỉ có thể nhận biết được một cách mơ hồ” [92, tr.422]. Cũng giống như các
quan điểm trên, chủ nghĩa Tômát mới cho rằng: “Chúa là bản thể tối cao,
tuyệt đối. Ở Chúa, bản chất và hiện hữu là thống nhất, cho nên Chúa là
nguyên nhân đầu tiên của thế giới, là nguồn gốc của mọi hiện hữu” [92,
tr.553].
9
Như chúng ta đã biết lịch sử là sản phẩm của hoạt động con người,
nhưng quan niệm trên đã đảo ngược quá trình lịch sử khi cho rằng lịch sử là
sự sáng tạo của Thượng Đế, Chúa Trời như vậy tính tích cực xã hội nhằm cải
biến thế giới khách quan, cải tạo và biến đổi quan hệ xã hội, con người đã trao
cho các lực lượng thần linh có phép nhiệm màu. Con người ở đây cũng biến
thành những sinh vật thụ động tuân theo sự chỉ huy của các thế lực siêu tự
nhiên. Quan điểm của các nhà thần học và duy tâm siêu hình đã bị các nhà
khoa học bác bỏ bới tính tư biện của nó.
Để chống quan điểm duy tâm tôn giáo đứng trên lập trường duy vật mà
các nhà triết học duy vật đã đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm, thần học.
Còn Bêcơn - nhà triết họ duy vật Anh một mặt ông cho rằng con người
cần tôn giáo bởi tôn giáo giúp con người vượt qua sự mềm yếu, bất lực, tôn
giáo đem lại cho con người niềm tin. Nhưng mặt khác Bêcơn lại nói rằng nhà
thờ không được dùng các biện pháp chống lại các nhà vô thần, cũng không
được cản trở các hoạt động khoa học, nghệ thuật của con người. Như vậy
ngay trong quan niệm của ông về tôn giáo có sự đối lập nhau.
Đứng ở góc độ nhận thức luận khi phê phán tôn giáo các nhà chủ nghĩa
vô thần trước Mác đã dẫn đến sai lầm là đối lập cực đoan, trừu tượng giữa ý
thức sai lầm và chân lý, giữa tôn giáo và khoa học. Tôn giáo được giải thích
như là sự bịa đặt, hệ quả của sự ngu dốt. Và họ đã tấn công quyết liệt vào tôn
giáo, phát hiện những tiêu cực của tôn giáo nhưng họ chưa chỉ ra cơ sở xã hội
làm tôn giáo nảy sinh, cho nên khi đưa ra biện pháp khắc phục chỉ thuần túy
là tinh thần đó là tăng cường giáo dục, nâng cao trình độ dân trí.
Như vậy, chủ nghĩa vô thần trước Mác đã không chỉ ra bức tranh chân
thực về tôn giáo và vai trò xã hội của chúng, không chỉ ra rằng tôn giáo là một
tất yếu của lịch sử khi con người bất lực trước các mối quan hệ với tự nhiên
và xã hội.
11
Rồi quan điểm của Freud ông cho rằng “tôn giáo như là liều thuốc an ủi
những khổ đau của con người. Những khổ đau, theo Freud, không phải bắt
nguồn từ kinh tế hay xã hội, mà là từ những dục vọng bịnh hoạn trong con
người, ý muốn quan hệ tình dục với mẹ hay cha. Ngoài ra, khi đối đầu với lực
lượng thiên nhiên và xã hội thù địch, con người thấy cần sự hỗ trợ, lúc nhỏ thì
từ phía cha mẹ, khi lớn lên thì từ phía Thượng Đế. Thượng Đế cũng là một
người cha nhưng cao cấp hơn mà thôi. Freud cho rằng tôn giáo là một ảo
tưởng nhưng có sức mạnh lớn, vì nó bắt nguồn từ bản năng sâu kín của con
người, bản năng cần được an ủi che chở. Đối với Freud, tôn giáo là một loại
bịnh tinh thần ám ảnh có tính cách thế giới”. Freud cũng cho rằng tôn giáo là
kẻ thù nguy hiểm nhất của khoa học [30, tr.27].
Hiện nay, tôn giáo đang ảnh hưởng đến sự phát triển của loài người
trên hành tinh này, cũng như đang ảnh hưởng đến công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó nghiên cứu
tôn giáo nói chung và tôn giáo ở Việt Nam nói riêng có tính cấp bách và có ý
nghĩa vô cùng quan trọng. Nhưng khi nghiên cứu một vấn đề phức tạp như
vấn đề tôn giáo để tránh bị lạc hướng, chúng ta dứt khoát phải có phương
pháp luận của một lý thuyết khoa học, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là “hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học
của C.Mác. Ph. Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin, được hình thành và
phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực
tiễn thời đại; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa
học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự giải phóng giai cấp vô sản, giải
phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con
người [7, tr.9-10].
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Nó là kết quả
của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và sự phát triển khoa học nói
13
chung, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ
XIX và cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản diễn ra
mạnh mẽ ở thời kỳ đó.
Chủ nghĩa Mác ra đời là sự khắc phục một cách có cơ sở những hạn chế
quá khứ đó là phương pháp tư duy siêu hình của chủ nghĩa duy vật không triệt để
đồng thời tiếp thu những tinh hoa của quá khứ và thời đại, chủ nghĩa Mác đã
sáng tạo ra phương pháp biện chứng duy vật. Với phương pháp đúng đắn, khoa
học này các ông đã đi sâu nghiên cứu các quá trình vận động, phát triển của xã
hội theo đúng bản chất và quy luật của chúng. Đối với lĩnh vực tôn giáo chủ
nghĩa Mác đã cung cấp cho những người nghiên cứu tôn giáo và quản lý tôn giáo
một lý thuyết khoa học và phương pháp khoa học đó là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chính trên cơ sở này Mác và Ăngghen đã
hoàn cảnh cụ thể.
Với quan điểm duy vật lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ
nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Hai ông đã vạch trần sự
áp bức bóc lột và nô dịch con người, sự thống trị quan hệ kinh tế đối với con
người trong xã hội tư sản là một nguồn gốc xã hội sản sinh ra tôn giáo.
Với lập trường duy vật triệt để đã giúp hai ông đã khắc phục được hạn
chế chủ nghĩa duy vật trước Mác khi mới dừng lại ở chỗ xem tôn giáo là kết
quả giản đơn của quá trình nhận thức, biểu hiện sự ngu dốt của trí tuệ. Do
vậy, nó đã vượt lên tầm thời đại trong việc đưa lại kiểu mẫu trong việc phân
tích tôn giáo và các hiện tượng xã hội khác.
Từ quan điểm này hai ông đã rút ra kết luận quan trọng và cách mạng
chưa từng có trong lịch sử chính là sự phê phán tôn giáo cần phải chuyển
thành sự phê phán chính trị nhằm cải tạo xã hội bằng con đường cách mạng.
"Vấn đề quan hệ giữa giải phóng chính trị và tôn giáo, đối với chúng ta sẽ trở
thành quan hệ giữa giải phóng chính trị và với giải phóng con người” [65,
tr.533]. Theo quan niệm đó cả cuộc đời của hai ông đã hiến dâng cho sự
15
nghiệp giải phóng con người khỏi những bất lực trước tự nhiên và xã hội. Đây
cũng là thể hiện tính nhân đạo của chủ nghĩa Mác.
Khi phân tích và đánh giá vai trò xã hội của tôn giáo, các nhà sáng lập
ra chủ nghĩa Mác-Lênin cũng không xa rời chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đặc biệt các ông đã nêu ra cách xem xét vấn đề tôn
giáo theo quan điểm cụ thể và xuất phát từ thực tế sinh động của cuộc sống.
Vì thế vai trò xã hội của tôn giáo được các ông nhìn nhận trong những điều
kiện lịch sử nhất định và trong những hình thái xã hội cụ thể. Khi nghiên cứu
vai trò xã hội của tôn giáo thì các ông cũng thừa nhận, trong những điều kiện
lịch sử nhất định, tôn giáo cũng có mặt tích cực và sự tác động của nó đối với
xã hội cũng có một tầm quan trọng ví dụ như Ăngghen khẳng định vai trò của
tôn giáo trong các cuộc khởi nghĩa nông dân thời Trung cổ và vai trò của các
mọi tôn giáo, từ tôn giáo, nguyên thủy đến tôn giáo hiện đại trong xã hội có
giai cấp. Tất nhiên trong xã hội có áp bức giai cấp thì "mặt thuốc phiện" của
tôn giáo được tăng thêm do sự lợi dụng của các giai cấp áp bức bóc lột. Chính
trong điều kiện đấu tranh chính trị của xã hội nước Đức thế kỷ XIX mà Mác đã
nêu ra quan điểm trên về tôn giáo. Và xét về vai trò chính trị - xã hội khách
quan của tôn giáo (cả ý thức và tổ chức) thì cho tới nay quan điểm đó vẫn giữ
nguyên giá trị khoa học. Nhưng nếu chúng ta xem xét luận điểm trong một xã
hội không giai cấp nhất là trong một nước xã hội chủ nghĩa hiện đại đã xóa bỏ
giai cấp thì luận điểm này không còn thích hợp nữa.
Cũng giống như Mác và Ăngghen, Lênin khi nói đến vai trò tiêu cực
của tôn giáo và của Giáo hội cũng trong một tình huống cụ thể, đó là tình hình
tôn giáo và Giáo hội đang bị các thế lực tư sản phản động lợi dụng để bảo vệ
chế độ bóc lột và đầu độc quần chúng bị áp bức xã hội hiện đại hoàn toàn xây
dựng trên sự bóc lột của một thiểu số không đáng kể dân cư thuộc giai cấp địa
chủ và tư sản đối với quảng đại quần chúng giai cấp công nhân" và ở đó "tôn
17
giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần luôn luôn và bất cứ ở
đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ" [63].
Như vậy đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khắc phục cách nhìn tôn giáo
theo kiểu thổi phồng, biến nó thành kẻ có vai trò tuyệt đối hay chỉ đơn giản
bác bỏ nó vì cho rằng nó sai lầm mà các ông nhìn nhận cả mặt tích cực và tiêu
cực của tôn giáo cho nên các ông cho rằng tôn giáo là nhu cầu của một bộ
phận nhân dân, nhu cầu của sự phát triển xã hội trong những thời kỳ lịch sử
nhất định. "Tôn giáo do con người sáng tạo ra, bản thân những người này cảm
thấy được nhu cầu cần phải có tôn giáo của quần chúng" [66, tr.438-439]. Ở
đây Ăngghen chỉ ra rằng tôn giáo nó là một nhu cầu của quần chúng nhân dân
và quan điểm này cũng được C.Mác chỉ rõ, cái thế giới con người không hoàn
thiện đã sản sinh ra tôn giáo ấy là một thế giới cần có tôn giáo, và ngược lại
giới trí thức và cả giai cấp công nhân hiện đại. Ở nhiều nước trên thế giới hiện
nay bên cạnh những tôn giáo lớn vẫn tiếp tục tồn tại dưới những hình thức
khác nhau bên cạnh đó lại xuất hiện những tôn giáo mới. Những tôn giáo này
bên cạnh những tích cực thì cũng có những tiêu cực đối với xã hội đòi hỏi
phải giải quyết. Muốn giải quyết được thì nhà nghiên cứu tôn giáo, quản lý
tôn giáo phải vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc nghiên cứu tôn giáo trong tình hình mới
nhưng không dừng lại ở đó mà tiếp tục bổ sung và phát triển những kiến giải
ấy trong điều kiện lịch sử mới ở mỗi nước.
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về vai trò xã hội của tôn giáo
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò xã hội của tôn giáo
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
19
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa
và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại” [25, tr.20]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là
bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, đó là sự vận dụng sáng tạo
quan điểm mácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam
nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Tư tưởng này được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc
điểm văn hóa Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, các tín
ngưỡng, tôn giáo có lịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu
hướng hòa đồng, tồn tại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau.
Đoàn kết tôn giáo, hoà hợp dân tộc, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là những nội dung cơ bản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo. Những lời di chúc các
Hội phật tử ngày 30/8/1947 và trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Cộng
sản Việt Nam 3/3/1951 cùng nhiều bài nói, bài viết khác Người cũng khẳng
định lại lập trường đó. Đặc biệt ngày 14 tháng 6 năm 1955, Hồ Chủ tịch đã ký
sắc lệnh 234/SL về vấn đề tôn giáo. Sắc lệnh đã ghi rất chi tiết, cụ thể về
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân.
Hồ Chí Minh là người mácxít chân chính theo quan điểm duy vật, mặc
dù thế giới quan của người cách mạng khác với thế giới quan tôn giáo song
không vì vậy mà đối đầu, nghi kỵ lẫn nhau ngược lại phải tôn trọng đức tin
của mỗi người. Cho nên khi tiếp cận tôn giáo, Người đã coi nó như một di sản
văn hóa của loài người và tìm thấy ở đấy những mặt tích cực nhất định, những
nhân tố hợp lý để kế thừa, tiếp thu những giá trị nhân bản, nhân văn của tôn
giáo. Điều đó được thể hiện rõ nét trong nội dung cơ bản về quyền tự do tín
ngưỡng của người đó là: Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do
thờ cúng của nhân dân không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Vấn đề này
Hồ Chí Minh viết: mọi công dân Việt Nam “có quyền tự do tín ngưỡng, theo