Thi pháp thơ nôm đường luật nguyễn công trứ luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 32

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ ÚT

THI PHÁP THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
NGUYỄN CÔNG TRỨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ ÚT

THI PHÁP THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
NGUYỄN CÔNG TRỨ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

vòng lễ giáo; đả mê tín nhưng về già lại tin đạo Phật; lạc quan tin tưởng và cũng
bi quan chán nản; nhập thế mà lại xuất thế.... cho nên thơ Nguyễn Công Trứ trở
thành “vấn đề” trong lịch sử văn học” [47, 248].
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Trứ là một kho thơ văn chữ Hán,
chữ Nôm phong phú đủ loại: phú, thơ Nôm Đường luật, hát nói, câu đối Nôm,
bản tuồng. Đối với Nguyễn Công Trứ, mỗi câu thơ là một cảm khái, mỗi chữ là
một ý nghĩa, mỗi bài thơ là một tâm sự. “ Văn tức là người”, câu ấy hoàn toàn
đúng với Nguyễn Công Trứ. Chỉ với phần thơ Nôm Đường luật, Nguyễn Công
Trứ trở thành đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình hướng tới.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ Nôm Đường
luật Nguyễn Công Trứ, nhưng hầu hết chỉ khám phá về tư tưởng, còn thi pháp
chưa được tìm hiểu một cách hệ thống.


2

Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Công Trứ tiềm ẩn nhiều giá trị nghệ thuật
đặc sắc và việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm Đường luật là mục đích
hướng tới của luận văn. Nghiên cứu và tìm hiểu về thi pháp thơ Nôm Đường
luật Nguyễn Công Trứ, chúng tôi tiến hành trên cơ sở tiếp thu những ý kiến,
những công trình nghiên cứu, những phát hiện của các nhà nghiên cứu trước
đây. Với công sức nhỏ bé của mình, khi tìm hiểu đề tài này, chúng tôi mong
muốn sẽ có cái nhìn cụ thể, sâu sắc hơn về vấn đề.
Tìm hiểu thi pháp nghệ thuật thơ Nôm Đường luật Nguyễn Công Trứ
chính là tìm hiểu những hình thức nghệ thuật mang tính chủ quan và tính quan
niệm của tác giả. Vì thế, luận văn của chúng tôi sẽ thông qua việc miêu tả đặc
điểm các yếu tố hình thức một cách hệ thống để xác định tính chỉnh thể ở thơ
Nôm Đường luật Nguyễn Công Trứ. Tức là, chúng tôi tập trung khám phá, phân
tích sáng tác thơ Nôm của ông trong tính toàn vẹn; để từ đó thâm nhập vào tâm
hồn kẻ sĩ Nguyễn Công Trứ, vào thế giới nghệ thuật được nhà thơ biểu hiện

Chính đã từng viết về tác giả Nguyễn Công Trứ năm 1958. Nay ông nhìn lại trên
một tầm nhìn mới, cách lý giải mới.
Cuối những năm 80 trở lại đây, trong bối cảnh mới của cách mạng nước
ta, trong không khí đổi mới của cả nước, đây là lúc chúng ta có thể nói đầy đủ
hơn về Nguyễn Công Trứ, để yêu mến, quý trọng ông, một trí thức lớn, một nhà
chính trị và nhà thơ lớn của đất nước.
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, những bài nghiên cứu về tác giả văn
học trung đại trên quan điểm văn hoá: trên cơ sở phân tích đối chiếu tư tưởng
Nguyễn Công Trứ với tư tưởng nhà nho để vạch ra nét đặc trưng loại hình mới
của loại hình nhà nho mà các tác giả khái quát là “ nhà nho tài tử” .
Trong quá trình làm đề tài, chúng tôi tìm hiểu, quan tâm một số công trình
của các tác giả sau:
Khảo sát các nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ, những công trình, tác
phẩm, bài viết đề cập đến: những mâu thuẩn trong tư tưởng Nguyễn Công Trứ;
lý tưởng kẻ sĩ trong thi văn và ngoài cuộc đời Nguyễn Công Trứ; về binh nghiệp
của Nguyễn Công Trứ; hình tượng nhà nho tài tử....
2.1. Đặng Thanh Lê - Hoàng Hữu Yên - Phạm Luận - Văn học Việt nam nửa
cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Nxb Giáo dục - Hà Nội - 1999. Trong
cuốn giáo trình này, tác giả Hoàng Hữu Yên chiụ trách nhiệm viết chương
giới thiệu về Nguyễn Công Trứ [36, 209- 231]. Phần Thơ văn Nguyễn Công
Trứ, Hoàng Hữu Yên nghiên cứu tổng hợp cả thơ chữ Hán, và thơ chữ Nôm
Đường luật của Nguyễn Công Trứ. Tác giả đã chỉ ra các đặc điểm chính
trong thơ văn Nguyễn Công Trứ như sau:
- Chí nam nhi
- Cảnh nghèo và thế thái nhân tình.
- Triết lý cầu nhàn, hưởng lạc.
- Vài nét về nghệ thuật
Như vậy, vấn đề về thi pháp thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Công Trứ
vẫn chưa được Hoàng Hữu Yên chú ý tìm hiểu; tác giả giáo trình đi theo hướng
nghiên cứu truyền thống từ nội dung đến hình thức.

Đường luật Nguyễn Công Trứ, nhất là quan niệm nghệ thuật về con người trong
thơ ông; song vấn đề thi pháp thơ Nôm Đường luật Nguyễn Công Trứ về thực
chất vẫn chưa đặt ra cụ thể và hệ thống. Trước tình hình nghiên cứu như đã trình
bày trên, luận văn của chúng tôi nhằm tập trung phân tích thơ Nôm Đường luật
Nguyễn Công Trứ để chỉ ra những điểm tiếp tục và những điểm sáng tạo của
ông về mặt thi pháp:
Quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về thế giới khách quan
Các phương thức, phương tiện nghệ thuật


5

Đồng thời, từ đó đi đến tìm ra dấu ấn phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Trứ
trong thơ Nôm Đường luật.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Với luận văn này chúng tôi xem xét phần thơ Nôm Đường luật Nguyễn
Công Trứ dưới góc độ thi pháp; với mong muốn tìm ra một cái nhìn tương đối
hệ thống trong việc tìm hiểu về thơ Nôm của một thi sĩ- kẻ sĩ để khám phá thêm
những nét độc đáo trong tư tưởng, nội dung và phong cách thơ của ông trước
thời cuộc..
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng các bài thơ ở thể loại
khác trong sáng tác của ông, và thơ Nôm Đường luật của một số tác giả khác
như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn
Khuyến... có liên quan đến đề tài, qưa đó, nhằm so sánh, đối chiếu để làm sáng
tỏ hơn về thi pháp thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ
Thơ văn Nguyễn Công Trứ được đưa vào giảng dạy trong trường phổ
thông. Không dừng lại ở sáng tác thơ văn, Nguyễn Công Trứ còn là nhân vật
lịch sử, một danh nhân văn hoá. Mong rằng luận văn này sẽ bổ ích ít nhiều cho
giáo viên, học sinh trong dạy và học thơ Nôm Đường luật của Uy Viễn tướng

chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị
nhân văn vốn có của văn học.
Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư
tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ
thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá
đúng thành tựu của họ.
1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Đường luật
1.2.1. Giai đoạn thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII
Đây là giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam phát triển toàn thịnh ở
thế kỷ XV, bắt đầu suy thoái ở thế kỷ XVI và khủng hoảng vào thế kỷ XVIII.
Thành phần văn học Nôm đã xuất hiện trong đời Trần nay tạo thành tác phẩm,
tác giả trong thế kỷ XV
1.2.1.1. Con người trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi
Ý thức cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi là ý thức tự khẳng định, chống
hoà đồng với thói phàm, đứng ngoài thói tục. Ý thức này quyện chặt với con
người rất sâu sắc của Nguyễn Trãi là con người
“ hữu tài thời hữu dụng”
Quốc phú binh cường chăng có chước
Bằng tôi nào thuở ích chưng dân
( Trần tình I)
Với thơ Nôm Nguyễn Trãi, ta bắt gặp một con người có ý thức cao với
đức, tài, lý tưởng, đại dụng, khôn khéo, sâu sắc, tự tin, dũng cảm, tự khẳng định,


7

chọi lại thói phàm tục của người đời, không trùng khít hoàn toàn với khuôn mẫu
nào hết.
Dưới công danh đeo khổ nhục
Trong dại dột có phong lưu

Trọng tâm ý thức cá nhân là giữ mình cho an toàn, thanh thản, yên phận.
Tình cảm cá nhân hầu như không được biểu hiện, ngoài cảm tác về sự ưu việt trí


8

tuệ, biết nhìn xa của mình. So với con người cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi, thì
con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn thanh cao nhưng khép kín
hơn, quyết liệt, tuyệt giao hơn.
1.2.2. Giai đoạn thế kỷ XVIII- XIX
Nét đặc trưng về quan niệm con người trong thơ ở giai đoạn này là nhu cầu
tự nhiên của con người được khẳng định, chữ thân, chữ tài, chữ tình trở thành
khái niệm để con người tự ý thức về chính mình..
1.2.2.1. Con người trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương
Một biểu hiện hiếm có, độc đáo của con người cá nhân trong văn học Việt
Nam thời kỳ này là con người bản năng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Đây là
điều mà nhiều nhà nghiên cứu văn học thời kỳ này khẳng định. Nguyễn Lộc
viết: “Hồ Xuân Hương không giả dối, bà đã công khai nói lên cái sự thật ấy.
Thoả mãn cuộc sống bản năng cũng là khát vọng chính đáng của con người
giống như bất cứ một khát vọng chính đáng nào...” [35; tr 11]
Ý thức về nhu cầu bản năng là biểu hiện của ý thức cá nhân: cá nhân
không thoả mãn bị dồn nén trở thành ám ảnh làm cho thơ Hồ Xuân Hương có
cái nhìn ngộ nghĩnh, nhìn đâu cũng thấy cơ thể người phụ nữ và việc sinh hoạt
chốn buồng khuê. Nhưng điều mới mẻ là nhà thơ xem đó là một nhu cầu đương
nhiên công khai có tính chất thách thức:
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có nhưng mà có mới ngoan
( Không chồng mà chửa)
Hồ Xuân hương đã miêu tả cảnh đèo Ba Dội với một ý nghĩa biểu trưng
về cuộc sống trần tục, đưa cái phàm lên ngôi

1.3. Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Đường luật của
Nguyễn Công Trứ
1.3.1. Con người công danh
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
( Đi thi tự vịnh )
“Đi thi tự vịnh” thể hiện một lẽ sống đẹp, mục đích sống cao đẹp; đó cũng
là một châm ngôn về hoài bão, công danh của người quân tử mưu cầu chí lớn.
Cái chí của Nguyễn Công Trứ khi lên đường đi thi mang dáng dấp những
tráng sĩ thuở xưa với lời thề một đi không trở về, nếu sự nghiệp chưa thành: “Đi
không há lẽ trở về không”. Khi đi thi chưa có gì, nhưng khi về phải “có”, phải
đỗ đạt, quyết chí không chịu về không.
Lý tưởng công danh của Nguyễn Công Trứ chính là sự nối tiếp lý tưởng
anh hùng của những trang hào kiệt trong lịch sử. Phải đặt chí nam nhi, lý tưởng
anh hùng ấy vào hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVIII- XIX, khi điều kiện khách quan
thuận lợi cho tính cách anh hùng nảy nở, mới thấy hết cái đẹp trong nhân cách
nhà thơ.
Trong văn học Việt Nam trung đại, Nguyễn Công Trứ là tác giả nói nhiều
nhất đến “chí làm trai”, đến công danh. Với chí làm trai, với mộng công danh,
Nguyễn Công Trứ đã in bản ngã vào lịch sử văn học dân tộc bằng một phong
cách riêng độc đáo.


10

Trong cuộc trần ai, ai dễ biết
Rồi ra mới biết mặt anh hùng
(Đi thi tự vịnh)
Lời thơ như lời tự nhắc nhở mình và nhắc nhở người đời. Nhìn ra người
tài không dễ, nhưng nhất thiết phải nhìn ra người tài, phải trọng dụng người tài.



11

Mãi thế rối ta sẽ tính đây
(Hội gió mây)
1.3.1.2. Khẳng định sự tồn tại, vị trí quan trọng của chính mình trong cõi trời đất
Con người sinh ra là sự “hữu ý” của trời đất. Nguyễn Công Trứ cho rằng
con người sống ở đời nhất thiết phải làm việc có ích cho đời, không thể “tiêu
lưng ba vạn sáu được”. Nhiều lần trong thơ, ông đặt ra vấn đề này “Đi không
há chẳng lại về không”.
Người chí sĩ phải coi mọi việc trong trời đất đều là việc của mình, phải
ôm mọi việc lớn của non sông, phải cống hiến hết lòng cho đời. Khát vọng thành
danh khẳng định phận sự trong trời đất là một lý tưởng đẹp đẽ, hào hùng, làm
nên những ước vọng cao cả và những ý định siêu phàm. Bởi thế, kẻ sĩ một khi
đã mang lấy cái danh hiệu cao quý thì phải đeo đuổi và làm tròn sứ mệnh thiêng
liêng của mình:
Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi
Vạn sáu tiêu nhăng đã hết rồi!
Nhắn con tạo hoá xoay thời lại,
Để khách tang bồng rộng đất chơi
(Đời người thấm thoắt)
1.3.1.3. Quan niệm công danh
Có người cho quan niệm công danh của Nguyễn Công Trứ chỉ là quan
niệm hưởng thụ, nhà thơ có vẻ say sưa với bả vinh hoa tầm thường. Điều đó
đúng hay sai? Xét toàn bộ cuộc đời và thơ văn ông, phải thấy quan niệm công
danh của nhà thơ trước hết là nghĩa vụ người làm trai, là một món “nợ nần” phải
trả. Kẻ làm trai nếu không trả được món nợ danh dự; ắt phải tự thẹn với mình,
thẹn với giang sơn đất nước:
Cảnh muộn đi về nghĩ cũng rầu,

1.3.2.1. Con người nho sĩ
Sống ở đời, mỗi người có một nghề nghiệp, nghề nghiệp đó vừa là con
đường sinh sống của bản thân, vừa là phương tiện đóng góp cho đời, cho xã hội.
Hơn ai hết, Nguyễn Công Trứ hiểu rõ vị trí nghề nghiệp của mình và ông tự hào
là mình được làm kẻ sĩ. Nhưng đối với Nguyễn Công Trứ, ông chỉ muốn làm kẻ
sĩ kiêm chiến sĩ, để chiến đấu với đời không những bằng bút mực, mà còn bằng
cả cung tên, gươm giáo; để phục vụ triều đình không những bằng công việc
tham mưu hiến kế, mà còn bằng cả con đường tự mình tổ chức và thực hiện
những chủ trương mình đề ra.
Đằng sau danh hiệu “kẻ sĩ” là những khái niệm “phận làm trai”, “chí
nam nhi”, “đấng anh hùng. Danh hiệu nào cũng đều nói lên một mục đích, một
ý chí, một nguyện vọng của Nguyễn Công Trứ.
Nguyễn Công Trứ vào đời với một khát vọng lớn lao, cố gắng học tập,
học tập để đi thi, phò vua giúp nước. Là nho sĩ, nhưng bao giờ ông cũng xuất
hiện với tư thế là một chủ thể tích cực, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu


13

trách nhiệm. Thành công của Nguyễn Công Trứ cũng là thành công của một việc
làm phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội phong kiến.
Cũng như tinh thần hăng hái phấn khởi, tâm trạng thất bại, chán chường
của Nguyễn Công Trứ cũng vang lên trong lời lẽ trách móc và tiếng thở than
bực tức:
Hãy còn quanh quẩn trong vòng ấy
Ắt hẳn ghe phen phải lộn nhào
(Vịnh trò leo dây)
Nguyễn Công Trứ chẳng những không bi quan chán chường phủ định mà
khẳng định cuộc đời và vai trò của con người trong cuộc sống. Cái hấp dẫn lớn
đối với thế hệ thanh niên trong thơ ca ông, là lòng yêu đời, tinh thần lạc quan và

sóng ngọn gió, đảm đương những trách nhiệm khó khăn, làm được những việc
phi thường, tiến tới dựng nên một sự nghiệp anh hùng là cái tột đỉnh của công
danh, cái đích đẹp nhất của chí nam nhi
1.3.2.3. Tuyên ngôn hành động
Nguyễn Công Trứ là người có phẩm chất tài năng thực thụ, ông nhận thức
rất rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước và tuyên bố những dự định lớn lao
mà mình sẽ thực hiện trong cuộc đời
Ông nêu lên lý do tồn tại của mình trên cõi đời, tự chịu trách nhiệm về sự
tồn tại và lý giải sự tồn tại để mọi người biết
Kình thiên một cột giơ tay chống
Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao
( Vịnh cây cau)
Ông cũng khẳng định với mọi người rằng bản thân mình chắc chắn sẽ thực hiện
được điều mà ông tuyên bố:
Đã từng tắm gội ơn mưa móc,
Cũng phải xênh xang hội gió mây.
Hãy quyết phen này xem thử đã,
Xong còn tuổi trẻ chịu chi ngay.
( Hội gió mây)
Ông tin ở chí nguyện của mình, tin quả quyết, tin thành thực, nên dù thi hỏng,
dù đỗ muộn ông vẫn hy vọng
Khi vui giễu cợt mà chơi vậy,
Tuổi tác ngần này đã chịu đâu?
(Muốn thành đạt)
“Tuổi tác ngần này đã chịu đâu?” Câu thơ tràn ngập một niềm hy vọng, sự kiên
nhẫn và niềm lạc quan tin tưởng ở mình
Ông luôn tự kích thích bằng sức tự tin phi thường:
Còn trời, còn đất, còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này
(Người giỏi thường nghèo)

Dầu ai có quấy vấy nên hồ
( Trò đời)
Tuy vẫn chấp nhận khuôn khổ của trật tự xã hội vốn có, nhưng Nguyễn
Công Trứ có cách làm biến dạng và làm thay đổi nó, nếu ông muốn. Ông như
đối lập với chính mình để đi sâu vào tận cõi lòng, hiểu cho rõ hơn tính khí của
mình, từ đó hiểu hơn nỗi đời và ứng xử tốt hơn
Dở dang với rượu khôn từng chén
Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời
( Cầm kỳ thi tửu)
Nguyễn Công Trứ luôn tìm ra rất nhiều những thú vui; từ những thú vui
thanh tao cho đến những thú vui trần tục và từ thú ngao du đến thú rượu thơ,
thậm chí là thú “ đỏ, đen”, kể cả thú ả đào
Non nước, nước non ngao ngán nỗi,
Cỏ hoa hoa cỏ ngẩn ngơ chiều


16

Vườn hoa kia để ai rong rả,
Ong bướm xông pha dáng cũng nhiều
( Trách tình nhân)
Giang hồ bạn lứa câu tan hợp
Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say
(Thú ruộng vườn)
Theo Nguyễn Công Trứ, công danh là cái nợ đã đành, một cái nợ đạo lý
tiền định của kẻ làm trai. Phong lưu cũng là loại nợ, nên dẫu có đam mê thì
cũng chẳng có gì làm xấu hổ.
Của trời trăng gió kho vô tận
Cầm hạc tiêu dao đất nước này
( Thú ẩn dật)

nhàn và hành lạc. Nhàn có thể xem như là cái phần thưởng dành riêng cho người đã
hoạt động nhiều cho nghĩa vụ, nhàn ở đây chỉ bổ túc cho hành động. Đã là phần
thưởng, nên nhàn có tính cách hưởng thụ, nhàn và hành lạc thường đi đôi với nhau.
Đến khi già, Nguyễn Công Trứ đã thực hiện cảnh nhàn như thế nào? Có
phải ông hưởng cái lạc thú điền viên, để tâm hồn phiêu diêu trước cảnh đẹp
thiên nhiên, say sưa với cầm- kỳ- thi- tửu. Từ cái quan niệm“nhàn” đầy lạc
quan trong thời niên thiếu, đến cái “nhàn” khi về già phải qua đoạn đường làm
quan nay vinh mai nhục đã làm cho tâm hồn ông giữ mãi một cảm giác chán
chường, một dư vị đắng cay chua chát:
Liếc mắt coi chơi trời lớn bé,
Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay,
( Thú ẩn dật)
Công danh và phú quý, thế sự thăng trầm, bao nhiêu thành bại đối với
Nguyễn Công Trú chỉ là gió thoảng mây bay, không còn có ý nghĩa thúc giục,
lôi cuốn như trước nữa. Nghĩ lại quá khứ dường như ông không muốn nhìn nhận
nó và đối với ông thú nhàn là quí hơn cả:
Thái bình vũ trụ càng thong thả
Chẳng lợi danh chi lại hoá hay
(Thú ruộng vườn))
“Sống nhàn” của Nguyễn Công Trứ là sự khẳng định cá nhân một cách
tích cực chủ động. Ông không lập luận sống nhàn như thường lệ, mà chỉ cho
rằng sống nhàn như là quyền được sống. “Cái nhàn” của ông là kết quả của sự
nhận thức, của sự tự biết, tự thoả mãn, như là mặt sau của sự tự cho mình đã
sống đủ. Quan niệm “sống nhàn” của Nguyễn Công Trứ mang đến cho chúng ta
ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, độc đáo, đó là “vô sự”, “vô cầu” và “ phi vụ lợi”.
Triết lý hưởng lạc
Trong “Tuyên ngôn” về kẻ sĩ, Nguyễn Công Trứ đã chủ trương con
người có quyền hưởng lạc. Đối với Nguyễn Công Trứ, hành lạc tức là nhàn;
và nhàn phải hành lạc, hai ý niệm chen lẫn, phụ hoạ với nhau và cuối cùng
chỉ là một.

sự sẵn sàng chấp nhận thất bại, là thái độ “nhập cuộc” nghiêm túc song hành với
cái nhìn thanh thản, nhẹ nhõm, cười cợt đối với cuộc chơi
Trời đất cho ta một cái tài,
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
(Cầm kỳ thi tửu)
1.3.4. Con người nhân đạo
1.3.4.1. Con người giàu tình cảm
Tình yêu con người, tình yêu đất nước
Sự nghiệp Nguyễn Công Trứ gồm hai phần: một thuộc về võ công, một
thuộc về chính trị
Về võ công, Nguyễn Công Trứ là một nhà quân sự: dẹp cuộc khởi nghĩa
Phan Bá Vành ở Nam Định (1826), dẹp giặc bể ở Quảng Yên (1838), dẹp cuộc
khởi nghĩa Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833), đánh thành Trấn Tân (1841).


19

Qua những hoạt động quân sự của Nguyễn Công Trứ cho thấy ông là vị tướng
rất năng nổ, sẵn sàng dấn thân xông pha bất cứ chỗ nào có chiến tranh, tự mình
tham gia trận mạc
Về chính trị, Nguyễn Công Trứ là nhà khai hoang có tài, và ông tỏ ra lỗi
lạc trong việc tổ chức khai hoang, làm thuỷ lợi. Trong hoàn cảnh lịch sử đầu thế
kỷ XIX, việc làm của Nguyễn Công Trứ ở Tiền Hải, Kim Sơn nói lên trình độ
của ông một “tổng công trình sư” xuất sắc. Nguyễn Công Trứ đã góp phần công
lao nổi bật trong lịch sử dân tộc và thể hiện người có cái nhìn sáng suốt, mạnh
dạn, thẳng thắn và tiến bộ.
Giáo sư Lê Thước nhận xét: “Cụ Nguyễn Công Trứ là một bậc anh hùng
hào kiệt....một nhà chính trị có tài kiến thiết, có chí kinh luân. Tiếc thay sinh
phải cái thời đại bế tắc, ở vào cái hoàn cảnh hẹp hòi, trên vua thì nghi kỵ, dưới
các quan thì phần nhiều là bọn dung tục chẳng có tin tưởng gì, cao thượng, kiến

Vườn hoa kia để ai rong rả,
Ong bước xông pha dáng cũng nhiều
(Trách tình nhân)
1.3.4.2. Nhà thơ ôm mối sấu nhân thế
Triết thuyết nhân sinh
Trời sinh ra vạn vật phú cho mỗi vật một cái tính, một ít năng lực sống, và
muốn tồn tại thì phải vận dụng cái sở năng ấy. Núi đứng, sông đi, chim bay, hoa
nở. Đó cũng là kiếp của mỗi vật.
Nguyễn Công Trứ nói đến cái nợ phong lưu, cái nợ nguyệt hoa, y như
cái “ nợ tang bồng”. Công danh là cái nợ thì lúc trả xong nợ rồi chẳng có gì
để vênh vang. Đối với ông, không chỉ cầm- kỳ- thi- tửu mới là chơi, mà
công danh sự nghiệp cũng là trò chơi cả. Không chỉ du sơn du thuỷ, đánh bài
đánh bạc, hát ả đào là chơi, mà vận dụng tài trí, thi thố kinh luân, dẹp giặc
an dân cũng là chơi:
Trời đất cho ta một cái tài,
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
(Cầm kỳ thi tửu)
Thái độ ứng xử của Nguyễn Công Trứ trước thực tế trớ trêu: Lúc còn
là “ bạch diện thư sinh” hàn vi, đến khi làm quan Nguyễn Công Trứ vẫn giữ
nguyên quan niệm “phi vụ lợi”. Vì thế, cái nghèo của ông không rơi vào chỗ
ảm đạm, bế tắc, chua chát. Ông lý giải sự nghèo bắng ý thức chấp nhận thái
độ “người giỏi thường nghèo”, “vốn dĩ anh hùng mới có nghèo” Nguyễn
Công Trứ có cái nhìn lạc quan:
Tin xuân đã có nhành mai đó
Chẳng lịch song mà cũng biết giêng
(Vui cảnh nghèo)
Mối sầu nhân thế
Thái độ Nguyễn Công Trứ đối với sự giả dối của người đời: ông rất căm
giận cái giả dối, thường pha một lớp vàng son cho hành động bỉ ổi và ông đả
kích mạnh mẽ sự “tham phú phụ bần”.Với lập trường của một kẻ sĩ, Nguyễn

thưởng thức sự thay đổi hình sắc thiên nhiên trong bức tranh bốn mùa
xuân, hạ, thu, đông: Xuân sang hoa cỏ đua tươi; Hạ sang tàn lửa càng
cao; Trời thu phảng phất gió chiều; Trời đông hơi giá như đồng. Cảnh sắc
thiên nhiên bốn mùa qua cảm nhận tinh tế, tình cảm chân thành của
Nguyễn Công Trứ hiện lên thật thi vị, lãng mạn.
Nguyễn Công Trứ yêu hoa vì hương sắc của hoa, vì hoa vẽ ra dáng dấp
của phái đẹp, vì hoa là sứ giả của tình yêu.
Thiên nhiên còn đi vào trong thơ của Nguyễn Công Trứ với những hình
ảnh quen thuộc. Cây thông có khi là bạn của kẻ ẩn dật: “Bạn tùng cúc xưa kia là


22

cố cựu”. Thông còn biểu tượng cho kẻ trượng phu vì có sự tương đồng giữa chí
khí của trượng phu và sức chịu đựng của cây thông:
Bốn mùa ví những xuân đi cả,
Góc núi ai hay sức lão tùng.
( Vịnh mùa đông)
Buồn kiếp nhân sinh, thi nhân muốn kiếp sau làm một loại thảo mộc
quạnh quẽ nơi góc núi và ngạo nghễ cùng tuyết sương:
.....Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!
Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thi trèo với thông.
( Vịnh cây thông)
Dù có lúc bị nghi ngờ hay bị giáng chức, thì Nguyễn Công Trứ cũng
không nao núng, và luôn giữ một tinh thần khẳng khái, bất khuất:
Kình thiên một cột giơ tay chống
Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao
( Vịnh cây cau)

nghĩa hoàn toàn của nó, có một tâm hồn mà ở đấy lý trí và tình cảm được hoà
hợp cân đối, có một nền học vấn toàn diện, kiêm bách nghệ, có cái hào hoa
phong nhã của người nghệ sĩ lập ngôn, cái khí phách hiên ngang cái thế của
người anh hùng lập công và tâm hồn phóng khoáng “chính tâm” của nhà hiền
triết lập đức.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status