Luận văn thạc sĩ sư phạm ngữ văn vận dụng thi pháp văn học trung đại vào dạy học thơ nôm đường luật ở lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TIẾN DŨNG
VẬN DỤNG THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VÀO DẠY HỌC THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
Ở LỚP 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Hoàng Anh
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời tri ân và biết ơn sâu sắc đến Thầy - Phó giáo sư
- Tiến sĩ Nguyễn Viết Chữ, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, động
viên, khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa sau đại học,
Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo
mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy trong Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo, bạn
bè, đồng nghiệp đang giảng dạy, công tác tại trường THPT Giao Thủy C, trường
THPT Quất Lâm, cũng như Sở giáo dục - Đào tạo tỉnh Nam Định, đã tạo mọi điều
kiện tốt nhất cho tôi được học tập nghiên cứu để hoàn thành khóa học. Xin cảm ơn
những người thân yêu trong gia đình dành cho tôi sự quan tâm, chia sẻ, động viên,
khích lệ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Dũng
i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Phương pháp nghiên cứu 6 7. Ý
nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6 8. Cấu
trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7 1.1.
Cơ sở lí luận 7 1.1.1.
Vài nét về thi pháp học 7 1.1.2.
Đặc trưng thi pháp văn học trung đại Việt Nam 8 1.1.2.1.
Hệ thống ưóc lệ trong văn học trung đại 8 1.1.2.2.
Thiên nhiên trong văn học trung đại 13 1.1.2.3.
Quan niệm về không gian, thời gian 17 1.1.2.4.
Quan niệm về con người 20
1.1.3. Thơ Nôm Đường luật và quan niệm dạy học thơ Nôm Đường luật theo
hướng vận dụng thi pháp 26
1.1.3.1. Thơ Nôm Đường luật 26
1.1.3.2. Quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật 26
1.1.3.3. Đặc trưng của thơ Nôm Đường luật 30 1.
2. Cơ sở thực tiễn 34 1.2.1.
Vai trò, vị trí của thơ Nôm Đường luật trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ
thông 34
iii
1.2.2. Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học thơ Nôm Đường luật trong
chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông 36
1.2.2.1. Thuận lợi 36
1.2.2.2. Khó khăn 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG THÍCH HỢP THI
PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀO DẠY HỌC THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
Ở LỚP 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 38
2.1. Thực trạng dạy học thơ trung đại hiện nay 38
2.1.1. Thực trạng dạy học thơ trung đại ở trường trung học phổ thông hiện nay 38
2.1.2. Thực trạng dạy học thơ Nôm Đường luật ở lớp 10 THPT hiện nay 41

3.5. Giáo án thực nghiệm 86
3.5.1. Yêu cầu chuẩn bị 86
3.5.1.1. Đối với giáo viên 86
3.5.1.2. Đối với học sinh 87
3.5.2. Giáo án thực nghiệm 88
3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101 1.
Kết luận 101 2.
Khuyến nghị 103 TÀI
LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ
LỤC 106
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các bài thơ Nôm Đường luật ở THPT 35
Bảng 2.1. Thống kê số câu hỏi thi pháp trong phần tìm hiểu bài của các bài thơ
Nôm Đường luật trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình cơ bản 43
Bảng 2.2. Thống kê kết quả khảo sát giáo án 43
Bảng 2.3. Thống kê kết quả phiếu khảo sát phương pháp dạy học
của giáo viên (15 giáo viên) 44
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 85
Bảng 3.2. Thống kê kết quả tiếp thu kiến thức của học sinh trong sự
so sánh, đối chứng 99
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc dạy học các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn còn là
một thách thức lớn đối với không chỉ người đứng lớp mà cả những nhà nghiên cứu
về phương pháp. Ở mảng văn học này tồn tại không ít những rào cản về văn tự (cả
Hán và Nôm), văn hóa, lịch sử…. trong mối tương quan với thời đại chúng ta.
Văn học trung đại Việt Nam suốt một nghìn năm lịch sử trải qua các triều đại

tảng cho học sinh là rất thiết yếu để các em học sinh có thể chủ động lĩnh hội
khám phá tri thức một cách có sáng tạo. Vì vậy việc vận dụng thi pháp vào dạy
thơ Nôm Đường luật cũng là một hướng đổi mới để các em học sinh có thể tự
nghiên cứu, tìm hiểu được nhiều những tác phẩm thơ Nôm Đường luật không đưa
vào giảng dạy trong nhà trường.
2. Lịch sử nghiên cứu
Dạy học hiện đại phải đi từ khái quát đến cụ thể. Nếu không giải quyết được
cái khái quát thì khi gặp cái cụ thể ta không giải quyết được. Việc nghiên cứu thi
pháp và vận dụng sâu sắc thi pháp văn học trung đại vào dạy học thơ Nôm
Đường luật đang đặt ra những vấn đề có thể nói là rất cấp thiết, vận dụng thi
pháp vào dạy thơ Nôm Đường luật trong nhà trường hiện nay còn nhiều hạn chế.
Bởi lẽ văn học trung đại đã được đưa vào học tập trong nhà trường phổ thông từ
nhiều năm nay, ở cả cấp THCS và cấp THPT. Và ở trường phổ thông cũng đã dành
một thời lượng nhất định để định hướng tìm hiểu một số tác phẩm nhất định. Tuy
nhiên vấn đề vận dụng thi pháp vào trong giảng dạy thì còn nhiều hạn chế. Các
tác giả đã từng nghiên cứu về thi pháp văn học trung đại phải kể đến Trần Đình
Sử với "Thi pháp văn học trung đại" và "Mấy vấn đề về thi pháp văn học trung
đại Việt Nam." Trong các công trình của mình, có thể nói Trần Đình Sử là người
hệ thống và vận dụng lí thuyết thi pháp một cách công phu, bài bản nhất ở cả ba
phương diện: Không gian, thời gian, ngôn ngữ.
2
Nhưng đi sâu vào từng tác phẩm của từng tác giả, phát hiện được những nét
riêng trong cá tính sáng tạo của họ thì như còn để ngỏ.
Nguyễn Đăng Na có "Văn học trung đại Việt Nam tập 1, 2" nhưng cũng chủ
yếu hệ thống sắp xếp lại những thành tựu trước đó của ông. Còn Lã Nhâm Thìn
với "Thơ Nôm Đường luật" thì trong đó tác giả cũng chủ yếu đi sâu phân tích nội
dung các bài thơ mà ít chú ý dến phương pháp. Với Bùi Văn Nguyên và Hà Minh
Đức thì lại đi sâu vào hình thức cổ thể của thơ ca Việt Nam. Trần Nho Thìn thì
chủ yếu khẳng định sự đóng góp của Trần Đình Hượu với văn hóa dân tộc mà
cũng ít chú ý đến thi pháp của văn học.…. Bên cạnh các công trình nghiên cứu còn

khoa học còn mang nặng tính hàn lâm, kinh viện mà ít chú trọng đi vào ứng dụng
trong thực tế giảng dạy.
Tuy nhiên đi vào tìm hiểu thực tế trong quá trình giảng dạy các tác phẩm văn học
nói chung và tác phẩm văn học trung đại nói riêng thì hầu hết các thầy cô giáo và các
em học sinh cũng chưa quan tâm nhiều đến vấn đề thi pháp mà người dạy cũng như
người học mới chỉ chú trọng vào nội dung được thể hiện trong rác phẩm cũng như một
vài bút pháp nghệ thuật tiêu biểu. Thậm chí với một số người khái niệm thi pháp còn
rất xa lạ và họ coi đó là công việc của các nhà nghiên cứu. Ở phạm vi nghiên cứu
của đề tài này tác giả cũng chỉ dám đề cập đến việc vận dụng thi pháp vào trong thực
tế giảng dạy một vài bài thơ Nôm Đường luật cụ thể trong chương trình Ngữ Văn
THPT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở của thi pháp học nói chung và thi pháp văn học trung đại nói riêng
để có những vận dụng linh hoạt vào việc giảng dạy thơ Nôm Đường luật ở
chương trình THPT. Vì thế khi thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm hướng tới
những nhiệm vụ và mục đích sau:
4
- Góp phần giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới
phương pháp dạy học văn hiện nay: Tổ chức hoạt động dạy học tác phẩm văn
chương trong chương trình THPT.
- Nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề vận dụng thi pháp vào giảng dạy, chú ý đến
những ưu thế và tính khả thi của hướng đi này trong việc vận dụng vào thực tế
dạy học bộ môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn
trong nhà trường phổ thông hiện nay.
- Tác giả cũng xin được đề xuất một quy trình, cách thức tổ chức hoạt động dạy
học theo hướng vận dụng thi tháp và thử nghiệm vận dụng thi pháp vào thực tế
giảng dạy khi tiến hành dạy học một số bài thơ Nôm Đường luật ở chương trình
Ngữ văn ở bậc THPT
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

học sinh trong quá trình dạy học nói chung và phù hợp với đặc trưng của việc dạy
học văn nói riêng trên con đường hiện thực hoá luận điểm cơ bản của việc dạy học
văn hiện nay: học sinh là bạn đọc sáng tạo.
- Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng quy trình của phương pháp dạy học vận
dụng thi pháp vào những giờ dạy học văn cụ thể ở trường THPT, góp thêm một
tiếng nói mới, một cách nhìn mới trong nỗ lực tìm kiếm cách thức đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng và biện pháp vận dụng thích hợp thi pháp văn học
trung đại vào dạy học thơ Nôm Đường luật ở lớp 10 Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vài nét về thi pháp học
Thi pháp học là bộ môn khoa học đặc thù, nó hướng tới việc khám phá cấu
trúc biểu hiện của nghệ thuật trên các các cấp độ khi nghiên cứu, phân tích hay phê
bình một tác phẩm văn học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì "thi pháp học là
là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện,
thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học"
[7, tr 304]. Như vậy hiểu một cách đơn giản thì thi pháp học là một bộ môn khoa
học nghiên cứu các hình thức nghệ thuật của văn học. Còn theo Từ điển Bách
khoa văn học giản yếu Nga ghi lại thì "Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của các
tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ mà chúng sử dụng."[5, tr
936]. Trong công trình Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki, tác giả M. Bakhtin
không nêu ra định nghĩa trực tiếp về thi pháp học nhưng nội dung nghiên cứu

1.1.2.1. Hệ thống ưóc lệ trong văn học trung đại
Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng. Ước lệ
là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự v ậ t v à
h i ệ n tư ợ n g h i ệ n l ên đ ú n g v ớ i n h ữ n g q u i ư ớ c v à đ ú n g v ớ i c á c h h i ểu của cả cộn
g đồng .
Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính ước lệ. Bởi lẽ, văn
học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từ mảnh
đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăng kính
thẩm mỹ của thời đại. Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ có tính qui
ước của các nhà văn trong một thời đại, trong một giai đoạn, một dòng văn học nhất
định.
Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam được nhà văn sử dụng triệt để,
nghiêm túc và phổ biến. Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng
hệ thống nghệ thuật ước lệ. Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của
8
văn học. Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong
kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học.
Xã hội phong kiến là một xã hội đẳng cấp, lắm nghi thức, công thức. Xã
hội bị lễ nghĩa trói buộc, nên văn chương tất phải ước lệ. Tấng lớp Nho học xem sách
xưa, lời nói cuả thánh hiền, người trước là chuẩn mực thì văn chương không thể
không đạt đến những mẫu mực về bút pháp, dùng từ, xây dựng hình ảnh, hình
tượng, sử dụng điển tích, điển cố, Với các nhà văn thời này văn chương phải
"Văn dĩ tải đạo", "Thi dĩ ngôn chí"; sáng tác văn học là hình thức
trước thư lập ngôn, nên văn chương ước lệ mới đẹp, mới sang trọng. Trong tác
phẩm, nhà văn càng sử dụng nhiều nghệ thuật ước lệ chừng nào thì càng uyên áo,
càng đẹp; mới thực hiện được chức năng giáo dục đạo lý của nó; mới góp phần
hình thành mẫu người phong kiến lý tưởng.
Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam bao gồm ba tính chất: Tính uyên bác
và cách điệu hóa cao độ. Tính sùng cổ. Tính phi ngã.
* Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ

Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi. Trong cái
nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời
sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách điệu.
Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt
hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc, Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang
sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:
Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Chàng Vương quen mặt ra chào
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa
(Nguyễn Du)
Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như
mai, cúc, tùng, bách, liễu,
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Bà huyện Thanh Quan)
10
Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực. Tả thực nếu có, chỉ
dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh,
Tú bà …
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ?
Thời bấy giờ, người ta quan niệm con người không hòan thiện, hòan mỹ bằng
tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công. Vì thế, những gì cần lý tưởng hóa đều phải
được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của con
người. Con những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của
chúng,mới tả thực.
* Tính sùng cổ:
Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dân tộc
ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ. Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực

sáo réo rắt ngồi trên mình trâu về thôn xa, người lữ thứ bước vội trên đường, chùa
xa chuông ngân tiếng âm trầm giục giã khách giang hồ, Cảnh trăng khuya thì có
thuyền gối bãi, thuyền chở trăng; đêm thì có tiếng dế nỉ non, khoan nhặt, giọt ba tiêu
thánh thót rơi buồn,
Truyện luôn có nhân vật giai nhân tài tử, trai anh hùng gặp gái thuyền
quyên. Gái đẹp luôn được miêu tả: mặt hoa da phấn, "làn thu thủy nét xuân sơn",
lưng ong, gót sen; anh hùng thì râu hùm hàm én; đấng trượng phu, bậc quân tử
được ví như cây tùng, cây bách nơi chốn lâm tuyền, sẽ làm rường cột cho quốc
gia, Cốt truyện thì theo một công thức định sẵn như: gặp gỡ, ly tán, đòan viên,
Thơ phải cách luật. Luật phối thanh bằng trắc của thơ phú cũng quy định
nghiêm ngặt, chặt chẽ, khiến cho người làm thơ phải diễn tả thế giới bằng thính
giác có tinh "phi ngã" của cộng đồng tao nhân mặc khách. Bố cục thơ cũng định
sẵn, bất di bất dịch. Ngay cả tiêu đề thơ cũng quanh quẩn: ngôn hòai, thuật hoài,
ngôn chí,
12
Người viết văn làm thơ có một kho điển cố, điển tích, kho thi liệu, văn liệu
chung. Tất cả đều là những hình ảnh, những ngôn từ ước lệ phi ngã. Nói chuyện tri
âm, tri kỉ thì "mắt xanh chẳng để ai vào", nói tình yêu lỡ dỡ thì có chuyện Thôi
Oanh Oanh, Trương Quân Thụy. Nói người phụ nữ tài hoa thì ví như nàng Ban, ả
Tạ. Cha mẹ là huyên đường, vợ chồng là tao khang. Nhớ quê hương thì trông áng
mây Tần xa xa Tất cả đều có nguồn gốc ở trong văn chương cổ Trung Hoa mà
người viết văn, làm thơ cũng như người đọc văn, đọc thơ phải thông thạo.
Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không có nghĩa trong tác
phẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ. Bởi lao động nghệ
thuật là một họat động sáng tạo; văn học chân chính không chấp nhận công thức,
phi ngã. Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây bút lớn đều khẳng
định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ. Tiến trình văn học đã khẳng
định điều đó. Chúng ta không thể phủ nhận cá tính sáng tạo của Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,
Tản Đà, Chỉ có điều, do tính qui phạm nghệ thuật; nên sự khác biệt trong tư

thể trong văn chương. con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể. Con
người đã gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình. Thiên
nhiên chưa được khám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự là đối tượng
hiện thực của văn học. Người ta tìm đến với thiên nhiên và xem thiên nhiên như
là một tư liệu để để ngụ tình hay giáo huấn đạo đức một cách không tự giác.
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Điều này khác với văn chương hiện đại. Văn chương hiện đại tôn trọng sự
sống riêng của tạo vật thiên nhiên. Thiên nhiên được miêu tả như là một khách thể.
14
Từ tư tưỏng và quan niệm trên, văn chương trung đại đã miêu tả thiên nhiên
theo một bút pháp đặc biệt: không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn của
thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng,
chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người. Thiên nhiên là nơi gởi
gắm những tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người.
Xuân đến trăm hoa nở
Xuân đi trăm hoa rụng

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai
(Mãn Giác Thiền sư)
Thiên nhiên có linh hồn nên cũng sang hèn, quân tử tiểu nhân như con
người. Các nhà thơ xưa không chấp nhận cái thấp hèn, những sự vật tầm thường
nên thiên nhiên trong thơ họ luôn là những tạo vật cao sang. Các nhà thơ bầu
bạn hay tri âm tri kỷ với thiên tao nhã, sang trọng như: "Sơn thủy yên hoa tuyết
nguyệt phong" (Hồ Chí Minh). Họ tự ví mình như cốt cách phong độ của "Mai, lan,
cúc, trúc" hay "Tùng, cúc, trúc, mai".
Quét trúc bước qua lòng suối
Thưởng mai về đạp bóng trăng

Đồng bằng nhô núi biếc
Hình thế tựa diều bay Cầu
vắt qua khe nước Chùa
nằm tít đỉnh mây
(Đề núi cánh diều-Lê Quý Đôn)
Thiên nhiên luôn được tái hiện bằng cảm xúc dạt dào, tình cảm lắng sâu của
người làm thơ. Những vần thơ đã trích là một thí dụ. Đọc những vầng thơ của
Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Lê Quý Đôn,… ta như nghe thấy hơi thở nhịp
16
điệu tâm hồn của các thi nhân ấy. Thơ của các thi nhân ấy là tâm hồn sáng láng,
nhân cách cao cả, phong thái tự tại của chính họ giữa chốn đời bụi bặm này.
1.1.2.3. Quan niệm về không gian, thời gian
* Không gian nghệ thuật
Không gian là nơi con người tồn tại. Trong tác phẩm văn học, không gian
nghệ thuật chính là những nơi chốn, địa điểm được diễn tả trong tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học không gian nghệ thuật được chia thành các hình
thức sau:
Không gian vũ trụ: Rộng lớn, kì vĩ.
Không gian đời thường: Gần gũi, quen thuộc.
Không gian vay mượn: Đó thường là những không gian tượng trưng, được vay
mượn ở Trung Quốc:
Mượn núi, sông để diễn tả sự xa cách, sự ngăn cách.
"Yêu nhau mấy núi cũng leo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua".
Hay: "Núi cao chi lắm núi ơi!
Núi che mặt trời không thấy người thương".
Mượn núi Thái Sơn để diễn tả núi cao.
Mượn Trường An, Lạc Dương để diễn tả kinh đô.
Mượn sông Dịch Thuỷ để diễn tả nơi biệt li.
Mượn sông Tiêu Tương để diễn tả miền thương nhớ.

Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.
(Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn)
Từ kinh nghiệm trực cảm, người xưa có hai nhận thức về thời gian:
18

Trích đoạn Hướng dẫn học sinh xác định những nét tiêu biểu của thi pháp văn học Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội văn bản trên cơ sở thi pháp Hướng dẫn học sinh vượt rào cản ngôn ngữ thông qua hoạt động cắt Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để tìm hiểu về thi pháp được sử Yêu cầu thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status