ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TIẾN DŨNG
VẬN DỤNG THI PHÁP VĂN HỌC TRUNGĐẠI
VÀO DẠY HỌC THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
Ở LỚP 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Viết Chữ
HÀ NỘI - 2014
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời tri ân và biết ơn sâu sắc đến Thầy - Phó giáo sư
-
Tiến sĩ Nguyễn Viết Chữ, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, động
viên, khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa sau đại học,
Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và
tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy trong Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo,
bạn bè, đồng nghiệp đang giảng dạy, công tác tại trường THPT Giao Thủy C,
trường THPT Quất Lâm, cũng như Sở giáo dục – Đào tạo tỉnh Nam Định, đã tạo
mọi điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập nghiên cứu để hoàn thành khóa học.
Xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình dành cho tôi sự quan tâm, chia
sẻ, động viên, khích lệ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để tôi hoàn
thành luận văn này.
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Phương pháp nghiên cứu 6
7.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
8.
Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1.
Cơ sở lí luận 7
1.1.1.
Vài nét về thi pháp học 7
1.1.2.
Đặc trưng thi pháp văn học trung đại Việt Nam 8
1.1.2.1.
Hệ thống ưóc lệ trong văn học trung đại 8
1.1.2.2.
Thiên nhiên trong văn học trung đại 13
1.1.2.3.
Quan niệm về không gian, thời gian 17
1.1.2.4.
Quan niệm về con người 20
1.1.3.
Thơ Nôm Đường luật và quan niệm dạy học thơ Nôm Đường luật theo
hướng vận dụng thi pháp 26
1.1.3.1.
Thơ Nôm Đường luật 26
1.1.3.2.
Quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật 26
1.1.3.3.
Đặc trưng của thơ Nôm Đường luật 30
1. 2. Cơ sở thực tiễn 34
Những yêu cầu có tính nguyên tắc 49
2.2.1.1.
Bám sát thi pháp của thơ HánNôm Đường luật trung đại 49
2.2.1.2.
Bám sát văn bản gốc và giai đoạn sáng tác của tác phẩm văn học
trung đại 50
2.2.1.3.
Đối chiếu các văn bản, phát hiện, khơi gợi, kích thích sự hình thành
năng lực so sánh, liên tưởng, tưởng tượng 51
2.2.1.4.
Tạo không khí tranh luận, đối thoại giữa các tổ, nhóm, cá nhân 54
2.2.2.
Biện pháp vận dụng thích hợp thi pháp văn học trung đại vào dạy học thơ
Nôm Đường luật ở chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT 56
2.2.2.1.
Hướng dẫn học sinh xác định những nét tiêu biểu của thi pháp văn học
trung đại liên quan đến tác phẩm 56
2.2.2.2.
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội văn bản trên cơ sở thi
pháp tác giả 58
2.2.2.3.
Hướng dẫn học sinh vượt rào cản ngôn ngữ thông qua hoạt động cắt
nghĩa, chú giải 72
2.2.2.4.
Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để tìm hiểu về thi pháp được sử
dụng trong tác phẩm 81
5
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 84
3.1.
Mục đích thực nghiệm 84
Bảng 2.1. Thống kê số câu hỏi thi pháp trong phần tìm hiểu bài của các bài thơ
Nôm Đường luật trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình cơ bản 43
Bảng 2.2. Thống kê kết quả khảo sát giáo án 43
Bảng 2.3. Thống kê kết quả phiếu khảo sát phương pháp dạy học
của giáo viên (15 giáo viên) 44
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 85
Bảng 3.2. Thống kê kết quả tiếp thu kiến thức của học sinh trong sự
so sánh, đối chứng 99
1
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Việc dạy học các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn còn là
một thách thức lớn đối với không chỉ người đứng lớp mà cả những nhà nghiên
cứu về phương pháp. Ở mảng văn học này tồn tại không ít những rào cản về văn
tự (cả Hán và Nôm), văn hóa, lịch sử…. trong mối tương quan với thời đại
chúng ta.
Văn học trung đại Việt Nam suốt một nghìn năm lịch sử trải qua các triều
đại phong kiến với bao truyền thống hiển hách dựng nước và giữ nước…Hơi
thở của dân tộc đọng lại trong từng câu chữ với bao vẻ đẹp hào sảng kết tinh ở
nhiều thể loại: Chiếu, Biểu, Hịch, Phú, Cáo, Văn tế và các thể tài văn xuôi khác
Mảng văn học này chiếm một vị trí đặc biệt trong nhà trường và rất cần
được dạy học một cách bài bản, sâu sắc bởi nó tác động đến từng học sinh theo
những cách riêng
Nhưng xác định rõ thi pháp của thời kỳ, giai đoạn này cũng như trào lưu
của từng tác giả, tác phẩm vẫn còn là cái gì đó chưa được chú ý một cách
nghiêm túc. Vì vậy công việc dạy học bộ phận văn học này gần như chưa đi
đúng được các vấn đề bản chất sâu sắc cần thiết.
Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam. Đó là
những bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể Đường luật (gồm cả những bài
chế. Bởi lẽ văn học trung đại đã được đưa vào học tập trong nhà trường phổ
thông từ nhiều năm nay, ở cả cấp THCS và cấp THPT. Và ở trường phổ thông
cũng đã dành một thời lượng nhất định để định hướng tìm hiểu một số tác phẩm
nhất định. Tuy nhiên vấn đề vận dụng thi pháp vào trong giảng dạy thì còn
nhiều hạn chế. Các tác giả đã từng nghiên cứu về thi pháp văn học trung đại
phải kể đến Trần Đình Sử với “Thi pháp văn học trung đại” và “Mấy vấn đề về
thi pháp văn học trung đại Việt Nam.” Trong các công trình của mình, có thể
nói Trần Đình Sử là người hệ thống và vận dụng lí thuyết thi pháp một cách
công phu, bài bản nhất ở cả ba phương diện: Không gian, thời gian, ngôn ngữ.
Nhưng đi sâu vào từng tác phẩm của từng tác giả, phát hiện được những nét
riêng trong cá tính sáng tạo của họ thì như còn để ngỏ.
Nguyễn Đăng Na có “Văn học trung đại Việt Nam tập 1, 2” nhưng cũng chủ
3
yếu hệ thống sắp xếp lại những thành tựu trước đó của ông. Còn Lã Nhâm Thìn
với “Thơ Nôm Đường luật” thì trong đó tác giả cũng chủ yếu đi sâu phân tích
nội dung các bài thơ mà ít chú ý dến phương pháp. Với Bùi Văn Nguyên và Hà
Minh Đức thì lại đi sâu vào hình thức cổ thể của thơ ca Việt Nam. Trần Nho
Thìn thì chủ yếu khẳng định sự đóng góp của Trần Đình Hượu với văn hóa dân
tộc mà cũng ít chú ý đến thi pháp của văn học.…. Bên cạnh các công trình
nghiên cứu còn phải kể đến các bài báo, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
quan tâm tìm hiểu đến văn học trung đại và thi pháp của văn học trung đại.
Nhìn chung các tác giả nghiên cứu đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau
để tìm hiểu nghiên cứu về thi pháp văn học trung đại nói chung và thi pháp của
thơ Nôm Đường luật nói riêng. Tuy nhiên việc nghiên cứu vận dụng thi pháp
của văn học trung đại vào giảng dạy thì thực sư chưa được quan tâm, đặc biệt là
việc vận dụng thi vào dạy những bài thơ Nôm Đường luật ở chương trình Ngữ
Văn 10 THPT.
Ở nước ngoài đặc biệt là ở phương Tây vấn đề vể thi pháp đã được tìm hiểu
và nghiên cứ khá sớm nên họ đã hình thành cả một bộ môn thi pháp học để
nghiên cứu về thi pháp trong sáng tác. Thuật ngữ thi pháp học (poetika) đã được
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở của thi pháp học nói chung và thi pháp văn học trung đại nói riêng
để có những vận dụng linh hoạt vào việc giảng dạy thơ Nôm Đường luật ở
chương trình THPT. Vì thế khi thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm hướng tới
những nhiệm vụ và mục đích sau:
Góp phần giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới
phương pháp dạy học văn hiện nay: Tổ chức hoạt động dạy học tác phẩm văn
chương trong chương trình THPT.
–
Nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề vận dụng thi pháp vào giảng dạy, chú ý đến
những ưu thế và tính khả thi của hướng đi này trong việc vận dụng vào thực tế
dạy học bộ môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn
trong nhà trường phổ thông hiện nay.
5
–
Tác giả cũng xin được đề xuất một quy trình, cách thức tổ chức hoạt động dạy
học theo hướng vận dụng thi tháp và thử nghiệm vận dụng thi pháp vào thực tế
giảng dạy khi tiến hành dạy học một số bài thơ Nôm Đường luật ở chương trình
Ngữ văn ở bậc THPT
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về thi pháp học nói chung và thi pháp văn
học trung đại nói riêng, chúng tôi đã tìm hiểu, đối chiếu để vận dụng thi pháp
văn học trung đại vào dạy thơ Nôm Đường luật ở lớp 10 THPT nhằm giải quyết
một cách tốt nhất hướng tiếp cận các tác phẩm thơ Nôm Đường bằng các biện
pháp thích hợp nhất để đạt hiệu quả tối ưu theo định hướng dạy học đọc - hiểu
văn văn bản như hiện nay.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
–
Đề tài góp phần khẳng định ưu điểm của phương pháp dạy học vận dụng thi
pháp – một phương pháp có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh trong quá trình dạy học nói chung và phù hợp với đặc trưng của
việc dạy học văn nói riêng trên con đường hiện thực hoá luận điểm cơ bản của
việc dạy học văn hiện nay: học sinh là bạn đọc sáng tạo.
–
Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng quy trình của phương pháp dạy học vận
dụng thi pháp vào những giờ dạy học văn cụ thể ở trường THPT, góp thêm một
tiếng nói mới, một cách nhìn mới trong nỗ lực tìm kiếm cách thức đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng và biện pháp vận dụng thích hợp thi pháp văn học
trung đại vào dạy học thơ Nôm Đường luật ở lớp 10 Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1.
Cơ sở lí luận
1.1.1.
Vài nét về thi pháp học
Thi pháp học là bộ môn khoa học đặc thù, nó hướng tới việc khám phá cấu
trúc biểu hiện của nghệ thuật trên các các cấp độ khi nghiên cứu, phân tích hay
phê bình một tác phẩm văn học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “thi pháp
học là là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức,
môn khác trong khoa văn học là thi pháp chỉ nghiên cứu cấu trúc và thuộc tính
nghệ thuật của văn học từ góc độ nghệ thuật. Thi pháp học còn bao gồm sự miêu
tả, khám phá hệ thống các phương tiện cấu trúc nghệ thuật cụ thể mang sắc thái
dân tộc và cá nhân, như thi pháp văn học Nga, thi pháp văn học Trung Quốc,
hoặc trong nước thì có thi pháp văn học trung đại, thi pháp văn học hiện đại, thi
pháp thơ Tản Đà, thi pháp thơ Tố Hữu…
1.1.2.
Đặc trưng thi pháp văn học trung đại Việt Nam
1.1.2.1.
Hệ thống ưóc lệ trong văn học trung đại
Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng. Ước lệ
là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự
vật và hiện tượng hiện lên đúng với những qui ước và đúng với cách hiểu
của cả cộng đồng.
Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính ước lệ. Bởi lẽ,
văn học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từ
mảnh đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăng
kính thẩm mỹ của thời đại. Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ có
tính qui ước của các nhà văn trong một thời đại, trong một giai đoạn, một dòng
văn học nhất định.
Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam được nhà văn sử dụng triệt để,
nghiêm túc và phổ biến. Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới
bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ. Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của
văn học. Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong
kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học.
9
Xã hội phong kiến là một xã hội đẳng cấp, lắm nghi thức, công thức. Xã
hội bị lễ nghĩa trói buộc, nên văn chương tất phải ước lệ. Tấng lớp Nho học xem
sách xưa, lời nói cuả thánh hiền, người trước là chuẩn mực thì văn chương
không thể không đạt đến những mẫu mực về bút pháp, dùng từ, xây dựng hình
(Nguyễn Du)
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân gìau đủ khắp đòi phương.
(Nguyễn Trãi)
Văn chương của tao nhân mặc khách, nên có khuynh hướng lý tưởng hóa,
“văn chương hóa”, Các nhà văn thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật
riêng khác với thế giới đời thường. Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trang
văn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ. Hình tượng nghệ
thuật càng cách điệu hóa càng đẹp.
Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi. Trong cái
nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời
sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách
điệu. Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày
liễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc, Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang
sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:
Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Chàng Vương quen mặt ra chào
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa
(Nguyễn Du)
Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như
mai, cúc, tùng, bách, liễu,
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Bà huyện Thanh Quan)
Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực. Tả thực nếu có, chỉ dùng
cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh,Tú bà…
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
11
Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ?
giữ mình, biết nhún mình, thu mình lại, hạ thấp cái tôi cá nhân của mình.
12
Chính điều kiện xã hội ấy đã sinh ra hệ thống ước lệ trong văn chương, một
ước lệ nghệ thuật có tính phi ngã. Nhà văn cảm thụ và diễn tả thiên nhiên không
bằng cái nhìn hữu ngã và bằng ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu do cá nhân mình
sáng tạo.
Tranh vẽ, thơ vịnh đều có sự quy định theo một công thức nhất định: tứ
quý, tứ linh, tứ thú, Tạo vật thì phải là xuân lan, thu cúc, hoa điểu, tùng hạc,
con người thì ngư, tiều, canh, mục. Buổi chiều phải có chim bay về tổ, mục
đồng thổi sáo réo rắt ngồi trên mình trâu về thôn xa, người lữ thứ bước vội trên
đường, chùa xa chuông ngân tiếng âm trầm giục giã khách giang hồ, Cảnh
trăng khuya thì có thuyền gối bãi, thuyền chở trăng; đêm thì có tiếng dế nỉ non,
khoan nhặt, giọt ba tiêu thánh thót rơi buồn,
Truyện luôn có nhân vật giai nhân tài tử, trai anh hùng gặp gái thuyền
quyên. Gái đẹp luôn được miêu tả: mặt hoa da phấn, “làn thu thủy nét xuân
sơn”, lưng ong, gót sen; anh hùng thì râu hùm hàm én; đấng trượng phu, bậc
quân tử được ví như cây tùng, cây bách nơi chốn lâm tuyền, sẽ làm rường cột
cho quốc gia, Cốt truyện thì theo một công thức định sẵn như: gặp gỡ, ly tán,
đòan viên,
Thơ phải cách luật. Luật phối thanh bằng trắc của thơ phú cũng quy định
nghiêm ngặt, chặt chẽ, khiến cho người làm thơ phải diễn tả thế giới bằng thính
giác có tinh “phi ngã” của cộng đồng tao nhân mặc khách. Bố cục thơ cũng định
sẵn, bất di bất dịch. Ngay cả tiêu đề thơ cũng quanh quẩn: ngôn hòai, thuật hoài,
ngôn chí,
Người viết văn làm thơ có một kho điển cố, điển tích, kho thi liệu, văn liệu
chung. Tất cả đều là những hình ảnh, những ngôn từ ước lệ phi ngã. Nói chuyện
tri âm, tri kỉ thì “mắt xanh chẳng để ai vào”, nói tình yêu lỡ dỡ thì có chuyện
Thôi Oanh Oanh, Trương Quân Thụy. Nói người phụ nữ tài hoa thì ví như nàng
Ban, ả Tạ. Cha mẹ là huyên đường, vợ chồng là tao khang. Nhớ quê hương thì
trông áng mây Tần xa xa Tất cả đều có nguồn gốc ở trong văn chương cổ
học phương Đông: con người hòa đồng với vạn vật, tạo vật và con người
tương sinh trong thế giới này. Và cũng có thể xuất phát từ đời sống văn hóa
tín ngưỡng Tô-tem hay tín ngưỡng phồn thực phương Đông.
Hiện tượng này cũng có thể lý giải bằng hệ tư duy tổng hợp Đông phương,
bằng tính cách duy cảm của dân tộc ta. Con người không nhìn nhận mình là chủ
14
thể mà cảm nhận mình là một yếu tố cùng với thiên nhiên tạo nên sự sống của
thế giới thực tại này. Con người duy cảm nên luôn đắm mình vào những biến
thái mong manh, tinh vi của tạo vật để giao cảm, giao hòa. Vì vậy, ta hiểu văn
chương trung đại thơ ca chiếm một vị trí quan trọng và trong văn xuôi lại thắm
đượm chất thơ, cảm xúc trữ tình.
Vì những căn cứ trên, thiên nhiên không tách khỏi con người như một khách
thể trong văn chương. con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể. Con
người đã gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình.
Thiên nhiên chưa được khám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự là
đối tượng hiện thực của văn học. Người ta tìm đến với thiên nhiên và xem
thiên nhiên như là một tư liệu để để ngụ tình hay giáo huấn đạo đức một cách
không tự giác.
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Điều này khác với văn chương hiện đại. Văn chương hiện đại tôn trọng
sự sống riêng của tạo vật thiên nhiên. Thiên nhiên được miêu tả như là một
khách thể.
Từ tư tưỏng và quan niệm trên, văn chương trung đại đã miêu tả thiên nhiên
theo một bút pháp đặc biệt: không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn của
thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng,
chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người. Thiên nhiên là nơi
gởi gắm những tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người.
Xuân đến trăm hoa nở
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi
dịch thơ:
Ngủ dậy ngó song mây
Xuân về vẫn chửa hay
16
S
o
g
song đôi bướm trắng
Phấp phới sấn hoa bay.
(Xuân hiểu-Trần Nhân Tông)
Thiên nhiên trong thơ thường được phối màu thanh đạm, đường nét thanh
tao; nhưng mang đậm chất sống ngồn ngộn tươi rói như thiên nhiên trong cuộc
sống đời thường.
Đồng bằng nhô núi biếc
Hình thế tựa diều bay
Cầu vắt qua khe nước
Chùa nằm tít đỉnh mây
(Đề núi cánh diều-Lê Quý Đôn)
Thiên nhiên luôn được tái hiện bằng cảm xúc dạt dào, tình cảm lắng sâu của
người làm thơ. Những vần thơ đã trích là một thí dụ. Đọc những vầng thơ của
Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Lê Quý Đôn,… ta như nghe thấy hơi thở nhịp
điệu tâm hồn của các thi nhân ấy. Thơ của các thi nhân ấy là tâm hồn sáng láng,
nhân cách cao cả, phong thái tự tại của chính họ giữa chốn đời bụi bặm này.
1.1.2.3.
Quan niệm về không gian, thời gian
* Không gian nghệ thuật
Không gian là nơi con người tồn tại. Trong tác phẩm văn học, không gian
cảm thì khoảng cách đó có thể thu hẹp được:
"Yêu nhau chẳng ngại đường xa
Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”.
Còn sống mà có khoảng cách về tâm lí thì gần cũng trở nên xa.
*
Thời gian nghệ thuật
Con người thời cổ đại và trung đại chưa xem thời gian và không gian như
những phạm trù trừu tượng. Thời ấy, người ta cảm nhận thời gian bằng sự trực
cảm, bằng những tín hiệu không gian, bằng sự vận động của thiên nhiên và sự
sống của con người. Bước đi của thời gian được theo dõi bằng thời tiết bốn mùa,
bằng thời vụ nông tang, bằng sen tàn, cúc nở, bằng oanh vàng liễu biếc hay
tiếng Đỗ quyên kêu.
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
18
(Nguyễn Du)
Hay:
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.
(Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn)
Từ kinh nghiệm trực cảm, người xưa có hai nhận thức về thời gian:
Quan sát cận cảnh hằng ngày, nhận thức thời gian tuyến tính một đi không trở
lại. Thời gian tuyến tính vận động mau lẹ, đầy hình ảnh, đầy màu sắc cụ thể và
giàu chất sống. Thời gian tuyến tính là thời gian của thế giới phàm tục
Quan sát thế giới từ xa, nhận thức thời gian tuần hòan qua sự tuần hòan của
vũ trụ. Đây là quan niệm thời gian theo chu kỳ, thời gian quay tròn không đi
mất, động mà tĩnh, ngưng đọng, phi thời gian. Thời gian chu kỳ là thời gian của
cõi trời, cõi tiên, của thế giới thanh cao bất tử.