VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ Ở CHƯƠNG TRÌNH LỚP 5 - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Vận dụng phương pháp Bản đồ tư duy vào dạy học phân môn Địa lí
lớp 5” đề cập đến một số vấn đề về sử dụng “Bản đồ tư duy” trong quá trình dạy
học Địa lí ở các trường tiểu học mà đa số giáo viên còn gặp nhiều khó khăn
trong khi thực hiện. Với mong muốn tháo gỡ một phần nào khó khăn trên, đem
lại hứng thú cho các em học sinh và nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí ở
tiểu học trong thời gian tới, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu nghiên cứu phân tích
thực trạng vận dụng “Bản đồ tư duy” ở một số trường tiểu học với tinh thần tích
cực tiếp thu, tham khảo trao đổi ý kiến với các thầy, cô giáo có kinh nghiệm trong
nghề, thu thập xử lí các tài liệu, các nguồn thông tin liên quan từ đó xây dựng và
thử nghiệm hệ thống nguyên tắc, qui trình sử dụng “Bản đồ tư duy” trong dạy học
địa lí ở tiểu học để đưa ra đề tài này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn
nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo và có hiệu quả của các thầy, cô giáo
trong khoa Tiểu học - Mầm non, trường Đại học Tây Bắc. Với tấm lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Văn Đăng người đã
trực tiếp hướng dẫn đề tài, cùng thầy, cô giáo trong khoa; Giáo viên và học sinh
trường Tiểu học Hải Ninh bạn bè và gia đình.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, nghiên cứu, bám
sát thực tiễn để đề tài có tính khả thi cao nhưng đây là đề tài nghiên cứu đầu
tiên, kinh nghiệm chưa nhiều nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,
hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô
giáo và các bạn để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thuý
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Cấu trúc đề tài 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƢƠNG PHÁP BẢN ĐỒ TƢ DUY VÀO DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ
LỚP 5 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.1. Khái niệm về phương pháp, phương pháp dạy học 7
1.2.2. Khái niệm về tư duy 10
1.2.3. Khái niệm “Bản đồ tư duy” 11
1.3. Một số vấn đề về sử dụng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí
lớp 5 12
1.3.1. Khái quát đặc điểm chương trình, sách giáo khoa phần Địa lí lớp 5 và
việc sử dụng phương pháp bản đồ tư duy 12
1.3.2. Vai trò của “Bản đồ tư duy” 13
1.3.3. Tác dụng của “Bản đồ tư duy” trong dạy học Địa lí ở tiểu học 16
1.3.4. Các nguyên tắc sử dụng "Bản đồ tư duy" 19
1.3.5. Cách lập một "Bản đồ tư duy" 21
1.4. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 23

3.4. Tổ chức thực nghiệm 47
3.5. Nội dung thực nghiệm 48
3.6. Kết quả thực nghiệm 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
1. Kết luận 52
2. Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: Giáo dục - Đào
tạo thực sự là quốc sách hàng đầu. Thông qua đổi mới toàn diện giáo dục và đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt
Nam. Với các biện pháp cụ thể là: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương
pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, phát huy trí
sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Hội nghị lần thứ VI của
ban chấp hành TW Đảng khoá X, trong “chiến lược phát triển giáo dục 2001 -
2010” các văn kiện đều nhấn mạnh “đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo
dục chuyển từ truyền đạt trí thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn
người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học
phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân
tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ
động, tính tự học của học sinh…”(48, tr 30).
Giáo dục tiểu học là cơ sở ban đầu đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện
nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ
giáo dục quốc dân. Cho nên, việc đổi mới phương pháp dạy học ở cấp học này
đang diễn ra mạnh mẽ.
Trong những thập kỉ gần đây, thế giới đã tiếp cận chuyển hoá các phương

điểm kiến thức của từng bài, từng chương có mối quan hệ chặt chẽ, lôgic, hệ
thống nên việc sử dụng “Bản đồ tư duy” sẽ có nhiều ưu thế trong việc “mã hoá”
hệ thống, mối quan hệ các kiến thức đó.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy giáo viên đã nhận thức được sự cần
thiết phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, có ý thức cải tiến phương
pháp dạy học. Tuy nhiên, việc dạy và học các môn học nói chung và Địa lí nói
riêng chưa vượt qua quỹ đạo cũ. Đó là phương pháp dạy học theo kiểu truyền
thống, học sinh tiếp thu kiến thức một cách bị động. Mà kiến thức trong chương
trình Địa lí lớp 5 đã được đưa vào dạy học với nhiều phương pháp dạy học khác
nhau như phương pháp trực quan, phương pháp dùng lời, phương pháp tranh
ảnh… Trong khi đó, phương pháp bản đồ tư duy là một công cụ có ưu thế để
“mô hình hoá” các mối quan hệ, hệ thống các đối tượng địa lí lại hầu như không

3
được sử dụng. Một số giáo viên khi sử dụng cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng
trong thiết kế và hướng dẫn học sinh khai thác tri thức.
Chính vì những lí do này nên chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng phương
pháp bản đồ tư duy vào dạy học Địa lí lớp 5” nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy - học phân môn Địa lí ở tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học
phân môn Địa lí lớp 5.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Địa lí lớp 5.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn Địa lí lớp 5.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao được chất lượng dạy học phân môn Địa lí lớp 5 nếu chúng
ta biết vận dụng phương pháp bản đồ tư duy một cách khoa học, phù hợp với đặc

rút ra được những nội dung kiến thức cơ bản.
Các bản đồ như: bản đồ địa lí thế giới, bản đồ khí hậu thế giới, bản đồ dân
cư thế giới… Các lược đồ như: lược đồ tự nhiên, lược đồ kinh tế, lược đồ dân
cư… của lớp 5. Các tranh ảnh có liên quan như: tranh ảnh về con người, cảnh
quan thiên nhiên, hoạt động kinh tế…
Thông qua nghiên cứu bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh sẽ giúp người
nghiên cứu tìm hiểu được những nội dung kiến thức về đặc điểm địa lí châu Âu.
Từ đó vận dụng vào trong giảng dạy để đạt hiệu quả cao hơn. Trong phần thực
nghiệm, những kết quả xử lí, tính toán trong khi kiểm tra được tác giả xây dựng
thành các biểu đồ cột. Các biểu đồ thể hiện được chính xác và mang tính trực
quan hơn.
6.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Đề tài được thực nghiệm ở trường Tiểu học Hải Ninh, trước khi thực
nghiệm, người nghiên cứu trao đổi với cô giáo hiệu trưởng trường Tiểu học
Hải Ninh về đặc điểm tâm lý, nhận thức của các em học sinh, những em học

5
sinh học tốt, những em học không tốt để có thể chuẩn bị tâm lí vững vàng khi
lên lớp.
Người nghiên cứu xin ý kiến giáo viên chỉ đạo góp ý cho giáo án để phù
hợp với đối tượng học sinh tại trường.
6.4. Phương pháp thực nghiệm
Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài. Để
kiểm nghiệm các giáo án đã soạn xem có thực sự phù hợp, chúng tôi tiến hành
thực nghiệm tại trường tiểu học Hải Ninh. Trên cơ sở những kết quả thu được
sẽ khẳng định kết quả của đề tài. Phương pháp này được tiến hành qua việc
kiểm tra đánh giá sau khi học và qua việc thăm dò qua phiếu điều tra.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, cấu trúc đề tài gồm ba
chƣơng:

Đến giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã
truyền bá kĩ xảo về bản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện
giáo dục.
Ở Việt Nam, TS. Trần Đình Châu cùng với TS. Đặng Thị Thu Thuỷ là hai
tác giả đầu tiên phổ biến “Bản đồ tư duy” tới hệ thống các trường phổ thông ở
Việt Nam.
TS. Trần Đình Châu đã chủ trì nhóm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và
tham mưu được với Bộ Giáo dục - Đào tạo được thành chuyên đề ứng dụng
“Bản đồ tư duy” hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học tới các bộ quản lí và giáo
viên trung học cơ sở.
Trong ba năm gần đây, TS. Trần Đình Châu cùng các cán bộ nghiên cứu
thuộc Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam, dự án phát triển giáo dục trung học sơ

7
sở II kết hợp với Vụ giáo dục trung học và Cục nhà giáo của Bộ Giáo dục - Đào
tạo và Sở Giáo dục - Đào tạo các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên
cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hi vọng sẽ giúp học sinh thoát
khỏi lối học vẹt, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục.
Năm 2010, ứng dụng “Bản đồ tư duy” trong dạy và học đã được triển khai thí
điểm tại 355 trường trên toàn quốc và được cả giáo viên cũng như học sinh các
trường hồ hởi tiếp nhận.
Năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định đưa chuyên đề phương
pháp dạy học bằng bản đồ tư duy thành một trong năm chuyên đề tập huấn cho
giáo viên trung học cơ sở trên toàn quốc. Tuy nhiên, việc đi sâu vào nghiên cứu
ứng dụng “Bản đồ tư duy” vào dạy học phân môn Địa lí ở tiểu học vẫn chưa được
quan tâm đúng mức.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về phương pháp, phương pháp dạy học
Con người sống và tồn tại bao giờ cũng gắn liền với hoạt động, hoạt động của
con người muôn hình muôn vẻ. Cùng với việc hiểu xem cần làm gì, thì bao giờ

một phương pháp hoàn chỉnh. Lí thuyết bao giờ cũng có trước, phương pháp có
sau. Nhưng ngược lại, khi đã có được hệ thống phương pháp hoàn chỉnh nó sẽ
tác động lại lí thuyết, làm cho lí thuyết phát triển lên những bước mới có chất
lượng cao hơn.
Như vậy, phương pháp có mối liên hệ mật thiết với mục đích và nội dung
của hoạt động.
Trên cơ sở khái niệm phương pháp nói chung, người ta đã xây dựng khái
niệm phương pháp dạy học trên cơ sở mục đích và nội dung dạy học. Phương
pháp dạy học được xây dựng vào một quá trình cụ thể, quá trình dạy học là một
phạm trù cơ bản của khoa học giáo dục.
Phương pháp dạy học được các nhà nghiên cứu đưa ra với nhiều định nghĩa:
IuK Babanxki cho rằng: “Phương pháp dạy học là một cách thức tương tác
giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát
triển trong quá trình dạy học” [9].

9
I.Ia Leene quan niệm: “Phương pháp dạy học một hệ thống những hoạt
động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành
của học sinh, đảm bảo các em lĩnh hội nội dung học vấn” [9].
Theo I.D.Dverep thì: "Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương
hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích. Hoạt động này được thể hiện trong
việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc
lập của học sinh và cách thức điều chỉnh quá trình nhận thức của giáo viên” [9].
Theo V.K.Điachenco cho rằng: “Phương pháp dạy học là cấu trúc tổ chức
của quá trình dạy học”.
Còn rất nhiều quan niệm khác về phương pháp dạy học nhưng nhìn chung
các tác giả đều nhận xét trên nhiều mặt khác nhau của quá trình dạy học.
Mặc dù chưa đi đến một ý kiến thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy
học, song các tác giả đều thừa nhận phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc
trưng sau đây:

đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật
chất. Theo Gearge Wilhemr Fridrick Heghen: “Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên
của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện
mà thôi”[1]. Karl Marx nhận xét: “Đối với Heghen, vận động của tư duy được
ông nhân cách hoá dưới tên gọi “ý niệm” là chúa sáng tạo ra hiện thực, hiện thực
chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm” [2].
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật
chất phát triển đến trình độ tổ chức cao. Về lí thuyết, Karl Marx cho rằng: “Vận
động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào
và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh” [3].
Theo tâm lí học, tư duy là một quá trình phản ánh những thuộc tính bản
chất, những mối liên hệ vào quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện
tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [92].
Những luận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của Ivan
Petrovich Pavlov nhà sinh lí học, nhà tư tưởng người Nga. Bằng các thí nghiệm tâm
– sinh lí áp dụng trên động vật và con người, ông đi đến kết luận: “Hoạt động tâm lí
là kết quả của hoạt động sinh lí của một bộ phận nhất định của bộ óc” [4].

11
Như vậy ở đề tài này, chúng tôi xin được theo khái niệm: Tư duy trước hết
là sự phản ánh ở trình độ cao bằng con đường khái quát hoá, hướng sâu vào
nhận thức bản chất, quy luật của đối tượng. Phản ánh ở đây hiểu theo quan
niệm của chủ nghĩa Mác là phản ánh biện chứng “là một quá trình phức tạp
và mâu thuẫn của sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức
lí tính, giữa hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, như là một quá trình
trong đó con người không thích nghi một cách thụ động với thế giới bên
ngoài, mà tác động tới nó, cải tạo nó và bắt nó phải phục tùng những mục
đích của mình” [2]. Đó là phản ánh tâm lí, là sự phản ánh một cách trọn vẹn các
thuộc tính, các mối quan hệ, liên hệ bản chất, quy luật vận động và phát triển của
các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan [3].

đến gần.
Trên cơ sở vận dụng những khái niệm, mối quan hệ địa lí đơn giản của
chương trình lớp 4, địa lí lớp 5 trình bày kiến thức theo hai phần gồm: Địa lí
Việt Nam và Địa lí thế giới.
Về phần Địa lí Việt Nam: Nội dung được sắp xếp theo một cách tương đối
hệ thống theo trật tự từ đặc điểm tự nhiên, dân cư tới đặc điểm kinh tế Việt Nam.
Về phần Địa lí thế giới: Giới thiệu tất cả các châu lục, đại dương và một số
quốc gia ở châu lục đó nhưng không đề cập toàn diện đến các yếu tố tự nhiên,
kinh tế xã hội mà chỉ cho học sinh có tính chất "chấm phá" nghĩa là chọn những
nội dung nêu bật được một vài nét tiêu biểu của từng châu lục, đai dương và một
số quốc gia. Chương trình cũng giành thời lượng để dạy về Châu Á nhiều hơn
các châu lục khác.
So với chương trình cũ, chương trình mới tăng thời lượng phần Địa lí Việt
Nam và bỏ bớt một số nội dung địa lí thế giới. Đã có sự giảm tải về mức độ yêu
cầu, thiên về mô tả sự vật, hiên tượng hơn là giải thích chúng. Tăng cường tìm
hiểu về địa lí đất nước, nét tiêu biểu của châu lục, quốc gia.
- Sách giáo khoa:
Các kiến thức Địa lí lớp 5 được thể hiện trong sách giáo khoa trên cả hai
kênh: Kênh chữ và kênh hình.
+ Kênh chữ: Diễn giải nội dung chứa đựng trong đề mục và là nguồn kiến
thức quan trọng đối với học sinh trong quá trình học tập. Nội dung trọng tâm của

13
bài đặt trong phần đóng khung và hệ thống câu hỏi cuối bài. Những câu hỏi và
lệnh ở giữa bài được in nghiêng, nhằm yêu cầu học sinh phải động não suy nghĩ
và làm việc với kênh hình để tìm tòi kiến thức.
+ Kênh hình bao gồm: Tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, sơ đồ
Chúng không chỉ là phương tiện minh họa cho bài học mà còn là một bộ phận
gắn bó hữu cơ với kênh chữ, là phần kiến thức không thể thiếu được của nội
dung học tập. Trong một số trường hợp, kênh hình là nguồn cung cấp thông tin

hình ảnh. Màu sắc mang đến cho “Bản đồ tư duy” những rung động công hưởng,
mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”.
Ở vị trí trung tâm, “Bản đồ tư duy” là một hình ảnh hay một từ khoá thể
hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Từ ý trung tâm hay hình ảnh trung tâm
toả ra các nhánh chính, ta gọi là nhánh cấp 1, từ các nhánh chính lại có sự phân
nhánh đến các nhánh phụ, gọi là nhánh cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế, sự
phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kết nối với
nhau. Chính sự liên kết này, sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung
tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
Theo một số kết quả nghiên cứu, “Bản đồ tư duy” giúp thể hiện ra bên
ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động: Khi có một thông tin mới được
đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng ta cần kết nối với các thông tin cũ đã
tồn tại trước đó.
Việc sử dụng các từ khoá, chữ số, màu sắc và hình ảnh sẽ đem lại một công
cụ lớn vì huy động được cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động. Sự kết hợp
này, sẽ tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não và kết quả là tăng cường trí
tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não. “Bản đồ tư duy” là một công cụ hữu
ích trong học tập và giảng dạy ở trường phổ thông cũng như các bậc học cao hơn
vì chúng giúp học sinh và giáo viên trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ
ràng, suy nghĩ, sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của bài học
hay một cuốn sách, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ,
đưa ra ý tưởng mới. Do sự kết hớp giữa đường nét, màu sắc, chữ viết và hình
ảnh liên tưởng nên “Bản đồ tư duy” như một “bức tranh hội hoạ - kiến thức”.
Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi học mà chơi, chơi mà học, tò mò, hiếu

15
động. Sự hứng thú, khả năng tập trung chú ý của học sinh thường được kích
thích bởi những hình ảnh đẹp mắt - “Bản đồ tư duy” phát huy được thế mạnh đó.
Kiểu ghi chép của “Bản đồ tư duy” thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu
sắc được tuân theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng, giúp dễ

tư duy” nên người thiết kế “Bản đồ tư duy” phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp
xếp bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic. Vì vậy, sử dụng “Bản đồ tư
duy” sẽ giúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.
c. Sử dụng “Bản đồ tư duy” giúp giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà
trường lập kế hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ
tiêu, phương pháp, biện pháp và dễ theo dõi quá trình thực hiện, đồng thời có thể
bổ sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp một cách rất dễ dàng so với việc viết kế
hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ. “Bản đồ tư duy” có thể vận
dụng được bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có
thể thiết kế “Bản đồ tư duy” trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc cũng có thể thiết kế
trên phần mềm “Bản đồ tư duy”.
Việc sử dụng “Bản đồ tư duy” giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát
toàn bộ vấn đề, giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh tích
cực học tập. Đó chính là một trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung
dạy học có hiệu quả - nội dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo
dục và Đào tạo phát động.
1.3.3. Tác dụng của “Bản đồ tư duy” trong dạy học Địa lí ở tiểu học
Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết
về trái đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia và quốc tế,
làm cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng tình cảm
đúng đắn. Đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hành động, ứng xử phù
hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế
của thời đại. Cùng với các môn học khác, Địa lí góp phần bồi dưỡng cho học
sinh ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con
người và đất nước. Theo đó mục tiêu của phân môn Địa lí chú trọng đến việc
hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cần thiết con người lao động
mới. Để đạt được mục tiêu này thì cần thiết phải có sự đổi mới sách giáo khoa và
phương pháp dạy học một cách phù hợp, tương xướng.


đầu của mục tiêu giáo dục. Để hướng học sinh có cách thức học tập tích cực và

18
tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà còn
phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng được một
“hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích
đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng
và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các
“hình ảnh liên kết” là “Bản đồ tư duy”.
Vì thế, “Bản đồ tư duy” có tác dụng rất lớn trong dạy học Địa lí ở tiểu học.
Qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm chúng tôi thấy rằng việc vận dụng “Bản
đồ tư duy” vào dạy học Địa lí lớp 5 là rất cần thiết và có hiệu quả tốt. Bên cạnh
giúp học sinh hiểu và ghi nhớ bài học tốt hơn thì việc vận dụng “Bản đồ tư duy”
vào dạy học Địa lí lớp 5 còn rèn luyện cho các em kĩ năng làm việc cũng như
sắp xếp cuộc sống một cách khoa học hơn, tập luyện sự kiên trì và phát triển trí
tưởng tượng, sáng tạo hiệu quả, khai thác tối đa ý đồ của sách giáo khoa, đồng
thời giảm sự nhàm chán trong cách học.
Với phương pháp bản đồ tư duy trong giảng dạy từng bước giáo viên sẽ
giúp học sinh tự mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học. Bắt đầu bằng
những kiến thức tổng quát nhất - trọng tâm bài học - trung tâm bản đồ. Giáo viên
giúp học sinh tái hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những
ý nhỏ trong từng ý lớn cứ như vậy đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức
tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng tạo, sinh động trên bản đồ.
Không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổng thể, bản đồ tư duy còn giúp
cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ đó đưa ra các ý tưởng
mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài tức tìm ra
mạch lôgic của bài học. Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản đồ là có thể
tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học. Đồng thời, học
sinh cũng có thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác
định ý chính, ý phụ và lên kế hoạch học tập hiệu quả.

"Bản đồ tư duy" sử dụng công cụ hình ảnh, màu sắc, từ khóa, liên kết để thể
hiện vấn đề, làm cho vấn đề trở nên trực quan và có tổ chức. Nguyên tắc cơ bản
của "Bản đồ tư duy" là sử dụng hình vẽ, màu sắc, thứ tự dạng cây để thể hiện ý
tưởng. Ở trung tâm hình vẽ là chủ đề chính, các chủ đề con được phát triển từ
chủ đề chính bằng các đường dạng cây, các chủ đề được phát triển theo chiều

20
kim đồng hồ, bắt đầu từ bên trái và mở rộng dần ra. Các ý lớn gồm chủ đề trung
tâm, các ý nhỏ được phát triển ra từ các ý lớn. Các chủ đề được viết dưới dạng từ
khóa. Khuyến khích sử dụng màu sắc và hình ảnh để thể hiện ý tưởng.
"Bản đồ tư duy" có nguyên lí hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng "ý này
gợi ý kia" của bộ não. Chúng ta có thể tạo ra một "Bản đồ tư duy" ở dạng đơn
giản theo nguyên tắc phát triển ý: Từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi
nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận. Ví dụ, như
chúng ta muốn lập bản đồ tư duy cho một tuần làm việc, hãy vẽ chủ đề trung tâm
tuần sau vào giữa trang giấy trắng. Từ chủ đề chúng ta vẽ 7 nhánh lớn là thứ 2,
thứ 3 cho đến chủ nhật, mỗi nhánh một màu. Rồi từ mỗi thứ, chúng ta lại vẽ ra
các nhánh nhỏ là các công việc chúng ta định làm trong thứ đó, mỗi công việc lại
triển khai ra các ý chi tiết hơn như chúng ta định làm công việc đó với ai (who),
ở đâu (where), bao giờ (when), bằng cách nào (how)
Cứ như vậy, chúng ta sẽ có trên cùng một trang giấy các công việc mà mình
định làm trong một tuần và cái hay của bản đồ tư duy ở chổ là nó giúp cho chúng ta
có cái nhìn tổng thể, không bỏ sót các ý tưởng, từ đó chúng ta có thể dễ dàng đánh
số thứ tự ưu tiên các công việc trong tuần để sắp xếp và quản lí thời gian một cách
hiệu quả và hợp lí hơn so với một quyển sổ liệt kê các công việc thông thường.
Mặc dù, nguyên tắc cơ bản của "Bản đồ tư duy" là sử dụng hình vẽ, màu
sắc, thứ tự dạng cây để thể hiện các ý tưởng nhưng chúng ta cần lưu ý:
Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Tuy nhiên, chúng ta
cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc. Chúng ta có thể sử dụng hai
đến ba màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian. Nếu chúng ta thấy mất quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status