BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------
NGÔ THỊ MỸ HUẾ
SỬ DỤNG “BẢN ĐỒ TƯ DUY” TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
MÃ SỐ: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHỆ AN – 2012
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bản đồ tư duy
:
BĐTD
Cơ sở vật chất
:
CSVC
Sách giáo khoa
:
SGK
Thực nghiệm
:
TN
LI CM N
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất đến PGS - TS. Nguyễn Thị H-ờng - ng-ời
đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, h-ớng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo
trong Khoa Giáo dục tiểu học, tr-ờng Đại học
Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc
đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích
lệ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn
thành luận văn.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Ngô Thị Mỹ Huế
nhân dẫn đến kết quả đó.
2
Giáo sư sử học Dương Trung Quốc đã nhận định rằng: “Lịch sử dân
tộc Việt Nam thật bi hùng, nhiều hạnh phúc, nhưng cũng không ít đớn đau, đa
chiều cảm xúc, đủ lay động tâm can mọi con người và giúp họ sống đẹp hơn,
tốt hơn. Nhưng cái được thể hiện trên mặt sách giáo khoa thì vẫn còn khô
khan, đơn điệu, thiếu cảm xúc. Đã như thế thì đánh thức tình yêu lịch sử sao
được?”. “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” –
Câu thơ đầu trong diễn ca “Lịch sử nước ta” của Bác Hồ là lời kêu gọi, lời
răn dạy cho muôn thế hệ con cháu Việt Nam. Thế nhưng như nhận định của
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một diễn đàn về Sử học: “… Lớp trẻ của
chúng ta đã không còn quan tâm tới lịch sử dân tộc…”.
Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra
trong quá khứ, chính vì thế nhiệm vụ dạy học của Lịch sử không phải để nhồi
nhét vào trí nhớ một cách vô cảm những sự kiện, con số, ngày tháng, mà học
Sử là để rung động với sự kiện lịch sử. Học Sử để rút ra những bài học về
nhân văn, về lòng yêu nước, theo phương châm học để hiểu và hành. Nếu một
dân tộc không có sự hiểu biết, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, giữ gìn đúng đắn
lịch sử của mình thì cũng giống như con người không có cội nguồn.
Tiểu học chính là cấp học đầu tiên cung cấp cho các em những kiến
thức lịch sử, làm nền tảng để phát triển lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân
tộc trong mỗi học sinh. Để có thể giúp học sinh nhớ lâu các sự kiện, kích
thích sự hứng thú học tập của các em trong môn Lịch sử, Bản đồ tư duy chính
là một trong những phương pháp học tập đạt hiệu quả cao. Bản đồ tư duy
hoàn toàn có thể giúp học sinh sắp xếp các sự kiện, diễn biến, nhân vật… một
cách hệ thống, dễ nhớ, hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn
đề một cách sâu sắc, “định vị trong đầu” được các kiến thức, có cách nhìn
học môn Lịch sử ở tiểu học
6. Phạm vi nghiên cứu
4
Chương trình Lịch sử lớp 5; ở trường Tiểu học Châu Á - Thái Bình
Dương và trường Tiểu học Á Châu trên địa bàn quận 1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu nhằm xác lập cơ sở
lí luận của đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Tìm hiểu, khảo sát và rút ta nhận xét về thực trạng sử dụng Bản đồ tư
duy trong dạy học môn Lịch sử ở một số trường tiểu học.
- Phương pháp quan sát
Quan sát quá trình dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy học môn
Lịch sử lớp 5 ở một số trường tiểu học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành dạy một số tiết Lịch sử lớp 5 có sử dụng Bản đồ tư duy nhằm
khẳng định tính khả thi của đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lí các số liệu thu được.
8. Đóng góp của luận văn
Đề tài nhằm làm phong phú và nâng cao trình độ nhận thức của bản
thân về lí luận dạy học nói chung, dạy học Lịch sử cũng như phương pháp
vận dụng Bản đồ tư duy vào dạy học Lịch sử nói riêng. Kết quả của đề tài
không chỉ khẳng định vai trò của Bản đồ tư duy là một công cụ hữu ích để
tạo, nó đem lại những hiệu quả thực sự đáng kinh ngạc, nhất là trong lĩnh vực
giáo dục và kinh doanh. Là cha đẻ của phương pháp tư duy này, Tony Buzan
đã đi khắp thế giới để thực hiện sứ mệnh của mình, sứ mệnh giải phóng sức
mạnh của bộ não, nhằm khám phá và sử dụng năng lực sáng tạo mạnh mẽ của
mỗi con người một cách dễ dàng nhất. Bản đồ tư duy đã được phổ biến rộng
rãi trên khắp thế giới thông qua nhiều cuốn sách của Tony Buzan, tiêu biểu
như:
- “Mind maps at work” – “Bản đồ tư duy trong công việc” là cuốn
sách đầu tiên về Bản đồ tư duy được dịch ra tiếng Việt. Với cuốn sách này
bạn không chỉ hiểu được: – Bản đồ tư duy là gì? Tại sao nên ứng dụng Bản
đồ tư duy? mà còn được trả lời câu hỏi: – Sử dụng Bản đồ tư duy như thế nào
trong việc học tập, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và tạo ra các sản phẩm
dịch vụ?
- “Use your head” – “Hơn nhau ở cái đầu” là cuốn sách viết về hoạt
động của bộ não giúp chúng ta hiểu hơn về nguyên lý hoạt động của bộ não,
nên sử dụng nó như thế nào để có hiệu quả tối ưu hay có thể ghi nhớ lâu hơn,
đọc nhanh hơn, hiệu quả hơn. Không những thế, chúng ta còn thấy được sự
7
tương thích giữa Bản đồ tư duy với cấu tạo chức năng và hoạt động của bộ
não.
- “How to mind map” – “Lập bản đồ tư duy” giúp chúng ta tiếp cận
khái niệm Bản đồ tư duy; chỉ ra các bước để tạo ra một Bản đồ tư duy hoàn
chỉnh và đưa ra các ví dụ minh họa.
- Với “Mind maps for kids” – “Bản đồ tư duy cho trẻ em” Tony Buzan
đã khẳng định vai trò to lớn của Bản đồ tư duy trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống. Đồng thời, khẳng định Bản đồ tư duy phù hợp với đặc điểm và tâm lý
nhận thức của trẻ em từ 7 – 18 tuổi. Cuốn sách sẽ hướng dẫn cho các em cách
biết đến. Chủ yếu vẫn tập trung ở các thành phố lớn. Khi Bản đồ tư duy được
ứng dụng vào nước ta, nó đã mang lại rất nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh
vực, đặc biệt trong kinh doanh và giáo dục.
Trong kinh doanh, việc ứng dụng Bản đồ tư duy đã giúp cho công ty
quảng cáo Stormn Eye có nhiều dự án, chiến lược thành công trong nhiều
năm qua, giúp Trung tâm phát triển, đào tạo quản lí và Anh ngữ ITD tại Việt
Nam mở rộng các lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mình.
Trong giáo dục, công cụ này chưa được vận dụng nhiều. “Dạy tốt – học
tốt ở tiểu học bằng Bản đồ tư duy” và “Dạy tốt – học tốt các môn học bằng
Bản đồ tư duy” của TS. Trần Đình Châu cùng với TS. Đặng Thị Thu Thuỷ,
đây là hai tác giả đầu tiên ở Việt Nam phổ biến công cụ này tới hệ thống các
trường phổ thông. Theo tìm hiểu của chúng tôi, cũng có một số giáo viên đã
chịu khó tìm tòi và vận dụng Bản đồ tư duy trong các môn học: Văn học, Sinh
học, Toán học, … Tiêu biểu là thầy giáo Hoàng Đức Huy đã vận dụng rất
hiệu quả phương pháp này trong dạy học Ngữ Văn và được các nhà giáo dục
công nhận.
Hiện nay, Bản đồ tư duy của Tony Buzan đang được hơn 250 triệu
người trên thế giới sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực như kinh doanh và đặc
biệt là giáo dục. Tuy nhiên, nghiên cứu Bản đồ tư duy trong dạy học môn
9
Lịch sử lớp 5 với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học thì chưa thấy tác giả nào
đề cập đến. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề này nghiên cứu nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn Lịch sử lớp 5 nói riêng và Lịch sử ở
chương trình tiểu học nói chung.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.1.2.1. Tư duy
Để định nghĩa tư duy, chúng tôi nhận thấy các tác giả, mỗi người có
mới, nhờ chủ thể đưa các đối tượng ở vị trí ban đầu vào trong các mối liên hệ
mới. Mỗi lần như vậy, tư duy tựa như lật ra một khía cạnh mới, phát hiện và
rút ra hết được các thuộc tính và quan hệ mới của chúng. [19]
Như chúng ta đã biết, quá trình tư duy chỉ diễn ra khi xuất hiện vấn đề,
nhưng đòi hỏi chủ thể phải ý thức rõ ràng được vấn đề và tiếp nhận nó như
một mâu thuẫn cần phải hành động để giải quyết. Theo X L. Rubinstêin, tư
duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên, sự thắc
mắc hay từ một mâu thuẫn nào đó lôi cuốn cá nhân vào hoạt động tư duy.
Những vấn đề đó được ông gọi là “tình huống có vấn đề”. Để một vấn đề trở
thành tình huống có vấn đề của tư duy, đòi hỏi chủ thể phải có nhu cầu, mong
muốn giải quyết vấn đề đó. Mặt khác, chủ thể cũng phải có tri thức cần thiết
có liên quan thì việc giải quyết vấn đề mới có thể diễn ra, quá trình tư duy
mới được diễn ra.
Từ cách tiếp cận mô hình xử lý thông tin, tác giả Đặng Phương Kiệt
quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng
mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn”. [24]
Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng, các quá trình tư duy của con
người được diễn ra ở đoạn trên cùng của trình tự xử lý thông tin và điều gì sẽ
diễn ra khi đạt tới giai đoạn này của quá trình xử lý thông tin thì được gọi là
tư duy. Dựa trên cơ sở những mối liên hệ, quan hệ vốn có của các sự vật, hiện
tượng trong thế giới khách quan và lý thuyết phản ánh, tác giả Mai Hữu Khuê
11
cho rằng “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ
giữa các đối tượng hay các hiện tượng của hiện thực khách quan”. [23]
Tác giả cho rằng, tư duy khác hẳn với tri giác ở chỗ tư duy không chỉ
thực hiện được những bước như đã xảy ra ở tri giác, là tách các phần riêng lẻ
của sự vật, mà còn cố gắng hiểu các phần đó có quan hệ với nhau như thế nào.
nghĩa: BĐTD là phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh
của bộ não. Đây là cách ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích vấn đề
thành một dạng của lược đồ phân nhánh. [36]
Biên dịch Thanh Huyền trong cuốn “Bản đồ tư duy cho trẻ em” đã
quan niện Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là một phương tiện
ghi chép hiệu quả thể hiện sự “sắp xếp” ý nghĩ của bạn. [32]
Bên cạnh đó, một số trang web trên mạng cũng đưa ra một số quan
niệm về Bản đồ tư duy: Theo nguồn tin từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,
Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương
tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để
ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng
của lược đồ phân nhánh. Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu
tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố
xuất hiện của một câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các
dữ kiện với nhau. Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.
[43]
13
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ
ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình, trong đó các đối tượng
liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi
nhớ, nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn. Thay vì dùng chữ viết để miêu
tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh
hai chiều. Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các
khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong
của một vấn đề lớn. [43]
BĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và
đào sâu các ý tưởng. BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu
Từ khóa
=
+
BẢN ĐỒ TƯ DUY
Não trái phải
Theo điều khảo sát thì phần đông những người biết đến BĐTD đều
đồng ý với quan niệm của nhóm Tư duy mới – New Thinking Group trong
cuốn “Sử dụng Bản đồ tư duy trong công việc”: BĐTD là một hình thức ghi
15
chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng, đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản
đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm
này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều
được nối với ý trung tâm. Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh
nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa. Nhờ sự kết nối giữa các
nhánh mà các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa vào mối liên hệ của bản thân
các ý. Điều này khiến BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm
vi sâu rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thông thường không thể làm được.
Mặc dù diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các quan niệm trên đều hướng
đến một kết luận chung: BĐTD là công cụ tổ chức tư duy, giúp con người làm
việc khoa học, sáng tạo.
1.1.2.3. Phương pháp dạy học
dãy. Kiểu ghi này sẽ hạn chế khả năng của chúng ta trong việc nhận ra được
bức tranh, mô hình và mối tương quan giữa những ý tưởng mà chúng ta đang
ghi chép. Khi vẽ bản đồ chúng ta không những có thể ghi ý tưởng bằng từ ngữ
mà còn có thể ghi lại bằng kí hiệu, biểu tượng. Như thế có nghĩa là cả hai kiểu
xử lí đều đã được đem ra ứng dụng.
17
BĐTD không những sử dụng chữ và số mà nó còn sử dụng cả màu sắc
và hình ảnh; nhờ vậy nó kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu não trái và
phải. Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não, và
kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não. Điều này
giải thích vì sao bạn có thể phát huy toàn bộ khả năng tư duy của mình khi sử
dụng BĐTD. Mỗi bán cầu não đều đồng thời nhận sự hỗ trợ và củng cố của
nửa kia nhằm đem đến một khả năng sáng tạo vô biên. Nếu chúng ta kích
thích nó bằng những công cụ tư duy và học tập phù hợp chắc chắn sẽ đem lại
những giải pháp tuyệt vời cho bất kì vấn đề nào, đó là chìa khóa dẫn tới thành
công.
Thứ hai: Nhìn thấy bức tranh tổng thể
Ưu điểm của BĐTD là giúp người ta nhìn vấn đề toàn thể hơn, theo
một cách nói khác thì BĐTD là tư duy hệ thống nhìn thấy cả rừng, tức là
không chỉ nhìn thấy cây mà còn thấy cả rừng. Mỗi BĐTD đều bắt đầu từ hình
ảnh hay từ khóa nằm ở vị trí trung tâm và bao quanh là các nhánh rẽ thể hiện
mối quan hệ với vấn đề chính. Vì thế khi nhìn vào BĐTD chúng ta nhanh
chóng biết đâu là trọng tâm, những ý nào giải thích cho ý trọng tâm đó. Từ
đó, cho phép người học có được cái nhìn tổng quan về vấn đề đang nghiên
cứu. Ý trọng tâm nằm ở vị trí này sẽ tạo thuận lợi trong việc liên kết với
những ý phân cấp khác giúp ta dễ dàng triển khai một hệ thống hài hòa, đồng
thời nó giữ vai trò định hướng để phát triển các ý sau. Hình ảnh trung tâm là
thông tin, kiến thức chứa trong não nhiều như một kho sách vở, báo chí, băng
đĩa đồ sộ trong thư viện ấy. Nếu thư viện ấy không tổ chức sắp xếp, phân loại
các tài liệu thì khi chúng ta đi tìm một cuốn sách hay một cái đĩa CD trong đó,
chúng ta sẽ phải đánh vật với một đống tài liệu mà cũng chưa chắc đã tìm ra.
Khi thư viện đó được sắp xếp một cách gọn gàng, khoa học theo từng thể loại,
chuyên đề, xuất xứ, năm xuất bản, tác giả… với mã số riêng được ghi trên
từng cuốn sách… thì việc tìm kiếm sẽ trở nên dễ dàng hơn. Tương tự như
19
vậy, nếu bộ não được tổ chức tốt thì việc ghi nhớ thông tin và sự tư duy sẽ
hiệu quả hơn rất nhiều.
Trí nhớ được tạo thành bằng cách liên kết từng mảng thông tin với
nhau. Hay nói một cách cụ thể hơn, việc ghi nhớ một thông tin mới chỉ đơn
giản là liên kết thông tin đó với một thông tin khác chúng ta đã biết. BĐTD đã
thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động. Đó là liên kết,
liên kết và liên kết. Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần
có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng. Khi có một thông
tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các
thông tin cũ đã tồn tại trước đó. Vì vậy, BĐTD hỗ trợ đắc lực cho việc ghi
nhớ các kiến thức, đồng thời nhớ lại và vận dụng các kiến thức đã học.
Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ não, thì BĐTD cho
phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay khi nó được sinh ra vào một hệ
thống có tổ chức. Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu. Nó như một phương
tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi
tưởng rất nhanh gọn.
Cách tốt nhất là sử dụng các hình ảnh, bức tranh, kí hiệu, mã số, màu
sắc, sự liên tưởng bởi trí nhớ được tạo thành, bằng cách liên kết từng mảng
thông tin với nhau. BĐTD đã kết hợp tất cả những kĩ năng của bộ não để tạo
quan trọng, đó là cơ sở để phát huy tính tích cực của người học. Để tạo được
hứng thú học tập điều cốt yếu là làm cho nhu cầu nảy sinh, hình thành và phát
triển.
Một lí do khiến vẽ BĐTD trở thành một phương pháp học dành cho
mọi lứa tuổi là vì nó đã làm cho việc học trở nên thú vị hơn và bổ ích hơn.
Quá trình vẽ, sử dụng hình ảnh, kí hiệu, màu sắc và việc khuyến khích ghi lại
những ý tưởng theo cách đặc biệt là một cơ hội để nghỉ ngơi, thư giãn trước
việc quá tải thông tin trên giấy hoặc trên màn hình máy tính. Hơn nữa, BĐTD
còn giúp giáo viên (GV) nhìn thấu được suy nghĩ của HS và có thể biết chúng
21
hiểu như thế nào về bài học. BĐTD có tính độc nhất. Mỗi một BĐTD là một
cách nhìn riêng của mỗi một bộ não – thế giới nội tâm đa dạng của mỗi người.
Vẽ BĐTD là cách tốt nhất để phân loại cảm xúc, suy nghĩ, giảm bớt sự
căng thẳng. Trong giờ học, nếu GV cứ nói liên tục với giọng đều đều, tẻ nhạt
chắc chắn sẽ tạo không khí nặng nề, kết quả là HS cảm thấy chán, không thích
học, không tập trung chú ý nên hiệu quả đạt được cũng không cao. Thay vào
đó nếu sử dụng BĐTD thì kiến thức được truyền tải bằng hình ảnh, từ khóa,
sự liên kết và cả những yếu tố khác như màu sắc, hình dạng, kích thước làm
cho những điều quan trọng được nổi bật lên chắc chắn rằng sẽ thu hút sự tập
trung của HS. Một khi đã tạo được hứng thú học tập thì bộ não cảm thấy hưng
phấn, lĩnh hội kiến thức được tốt hơn, phát huy được tính độc lập, sáng tạo và
khả năng tư duy.
Thứ sáu: Truyền đạt thông tin
BĐTD có chức năng truyền đạt thông tin rất tốt. Nó có thể chuyển tải
một lượng thông tin khổng lồ từ một văn bản viết tay hay một lát cắt của văn
bản thành một sơ đồ rất đơn giản nhưng ý nghĩa quan trọng. Thông tin trên
Bản đồ đòi hỏi phải chính xác, ngắn gọn, súc tích nhưng phải bao hàm nội
lưu trữ.
- Vẽ BĐTD bằng máy đòi hỏi người thực hiện cần có vốn hiểu biết cơ bản về
các phần mềm vẽ BĐTD.Vẽ máy phần nào hạn chế sự sáng tạo.
- Trong giáo dục, BĐTD thường chỉ áp dụng với các môn học thuộc khoa học
xã hội và một số ít môn thuộc khoa học tự nhiên, nói chung là các môn học có
nhiều phần lý thuyết. GV cũng cần có những thủ pháp sư phạm khéo léo,
hướng HS tập trung phát biểu, xây dựng theo chủ ý của mình.
1.1.3.2. Một số cách tạo lập Bản đồ tư duy
Tạo lập Bản đồ tƣ duy bằng thủ công