Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
HÀ THỊ KIM THOA
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LỚP TỪ, NGỮ
THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG,
NGUYỄN KHUYỄN, TÚ XƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
HÀ NỘI – 2013
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
HÀ THỊ KIM THOA
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hà Thị Kim Thoa
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Hiệu quả sử dụng
lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nôm Đường luật của
Hồ Xuân Hương, Nguyễn khuyến, Tú Xương” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, kết quả này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả
khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hà Thị Kim Thoa
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Bình, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1983), Phong cách học và đặc
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………… 1
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài………………………… 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………. 6
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………... 6
NỘI DUNG ................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ..................................................................... 7
1.1 Phong cách ngôn ngữ hội thoại…………………………………………7
1.1.1 Định nghĩa phong cách hộthoại…………………………………..7
1.1.2 Đặc trưng của phong cách hội thoại……………………………...7
1.1.2.1 Tính cá thể……………………………………………………... 7
1.1.2.2 Tính cụ thể…………………………………………………….. 7
1.1.2.3 Tính cảm xúc…………………………………………………... 7
1.1.3 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của phong cách hội thoại…………..8
1.1.3.1 Cách thức sử dụng từ ngữ……………………………………... 8
1.1.3.2 Cách thức sử dụng câu………………………………………… 8
1.1.3.3 Cách thức sử dụng biện pháp tu từ……………………………. 9
1.2 Từ khẩu ngữ………………………………………………………….....9
1.2.1 Khái niệm………………………………………………………... 9
1.2.2 Đặc điểm………………………………………………………… 9
1.2.3 Cách cấu tạo…………………………………………………….10
1.2.4 Hiệu quả sử dụng từ khẩu ngữ…………………………….........12
1.3 Thơ Nôm Đường luật………………………………………………….13
1.3.1 Khái niệm…………………………………………………………13
1.3.2 Đặc điểm..………………………………………………………...14
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
quan trọng bởi những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của văn
học dân tộc về cả hai phương diện: thực tiễn sáng tác và ỹ nghĩa lí luận. Thơ
Nôm Đường luật là một hiện tượng vừa tiêu biểu vừa độc đáo. Tiêu biểu ở
chỗ nó phản ánh những điều kiện, bản chất, quy luật của quá trình giao lưu
tiếp nhận văn học. Độc đáo bởi tuy mô phỏng thể thơ ngoại lai nhưng lại có vị
trí đáng kể bên cạnh các thể thơ dân tộc. Làm nên giá trị to lớn của thơ Nôm
Đường luật trong lịch sử văn học Việt Nam bên cạnh hệ thống đề tài, chủ thể,
hình tượng nghệ thuật phải kể đến hệ thống ngôn ngữ. Hệ thống ngôn ngữ dân
tộc và ngôn ngữ đời sống được các tác giả Đường luật Nôm tiêu biểu từ
Nguyễn Trãi đến Tú Xương, Nguyễn Khuyễn sử dụng với tần số khá cao góp
phần “Thể hiện một cách trực tiếp, cụ thể sinh động hiện thực cuộc sống và
tâm trạng đặc biệt dân tộc và dân dã”.
Chính vì thế, việc nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật có ỹ
nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cái hay cái đẹp của tác phẩm, đồng thời
góp phần khẳng định được nét độc đáo, phong cách riêng của mỗi tác gia văn
học.
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyễn và Tú Xương là những đỉnh cao của
thơ Nôm Đường luật. Bạn đọc biết đến Hồ Xuân Hương với cái tên xứng
đáng: “Bà chúa thơ Nôm”, “Nhà thơ dòng Việt độc đáo đến hai lần” [10]. Bạn
đọc cũng biết đến tài năng và nhân cách của Nguyến Khuyễn - vị Tam
Nguyên làng Yên Đổ với mệnh danh “Nhà thơ trào phúng, nhà thơ của dân
tình, làng cảnh Việt Nam”. Người ta còn biết đến tên tuổi của Tú Xương -
1
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
điểm như: giá trị biểu cảm cao, tính ẩn dụ có thể cảm nhận được bằng trực
giác, tính đa dạng của các biến thể và trong từ vựng khẩu ngữ có thành phần
nghĩa đánh giá.
Trong Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 2/1998 có bài “Tiếng lóng
trong giao thông vận tải” của tác giả Chu Thị Thanh Tâm. Sau quá trình tập
hợp những định nghĩa từ các từ điển giải thích, tác giả rút ra mấy ý về định
nghĩa tiếng lóng. Tiếng lóng là một từ ngữ thông tục, không mang tính truyền
thống. Nó là cách nói tỉnh lược và là thứ ngôn ngữ dùng để trêu đùa, vui vẻ,
hoặc bí mật.
Đặc biệt cuốn Phong cách học tiếng Việt do Đinh Trọng Lạc (chủ
biên), Nxb Giáo dục 2002 (tái bản) đã trình bày rất khoa học và dễ hiểu về
đặc điểm cũng như hiệu quả sử dụng của lớp từ ngữ thuộc phong cách hội
thoại. Chúng tôi sẽ chủ yếu dựa vào quan điểm nghiên cứu trong cuốn sách
này làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
Như vậy, các tác giả các nhà nghiên cứu đã bước đầu tìm hiểu về các
lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại. Song, hầu hết các nhà nghiên cứu mới
chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét, đều mới chỉ khai thác ở khía cạnh này hay
khác, mang tính đơn lẻ chứ chưa có cái nhìn tổng quát và có cách phân tích
khoa học về vấn đề được nêu.
* Nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật nói chung và
thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương nói riêng, các nhà
nghiên cứu đã khai thác ở những khía cạnh sau:
Tác giả Hà Như Chi khi xem xét về nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân
Hương đã đưa ra nhận định “…Thơ Hồ Xuân Hương thoát ra ngoài khuôn
sáo, không dùng điển cố Hán văn, lời thơ có khi đặt Nôm mà lại thường
ca dao, tục ngữ. Tú Xương rất khéo nhồi nhuyễn tục ngữ, thành ngữ và hiện
tượng thơ ca dân gian vào trong thơ mình” [11].
Xuân Diệu đưa ra một kết luận khác: “Tú Xương đã viết một giọng
văn kín đáo, hai nghĩa vì như thế tiện lợi hơn” [4].
Như vậy, qua những ý kiến đã tổng hợp trên, chúng ta thấy: Ở góc độ
ngôn ngữ, các tác giả các nhà nghiên cứu chủ yếu đi sâu khai thác, khám phá
4
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
tính chất khẩu ngữ, dân dã của thơ Nôm Đường luật. Biểu hiện cao nhất của
tính chất ngôn ngữ ấy là việc học tập, tiếp thu lời ăn tiếng nói hàng ngày của
nhân dân thông qua việc vận dụng tục ngữ, thành ngữ, ca dao để khéo léo đưa
vào trong thơ.
Từ những định hướng về cơ sở lí luận có tính gợi mở như trên của
những người đi trước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả sử dụng
lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nôm Đường luật của
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần khẳng định hiệu
quả nghệ thuật khi sử dụng một cách sáng tạo các từ, ngữ thuộc phong cách
hội thoại trong thơ Nôm Đường luật của ba tác giả lớn thời Trung đại đồng
thời góp thêm tiếng nói khẳng định phong cách cá nhân độc đáo, sáng tạo của
ba nhà thơ trên.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn hướng tới mục đích củng cố và vận dụng
- Nguyễn Khuyến thơ và đời, Nxb Văn học.
- Hồ Xuân Hương thơ và đời, Nxb Văn học.
- Thơ văn Trần Tế Xương, Kiều Văn (biên soạn), Nxb Đồng Nai.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại.
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp tổng hợp.
6
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Phong cách ngôn ngữ hội thoại
1.1.1 Định nghĩa phong cách hội thoại
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã
khẳng định: Phong cách hội thoại (hay còn có tên gọi khác là phong cách sinh
hoạt hàng ngày, phong cách khẩu ngữ) là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng
lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện “vai” của nhân vật tham gia giao
tiếp trong sinh hoạt hàng ngày [6, 122].
1.1.2 Đặc trưng của phong cách hội thoại
1.1.2.1 Tính cá thể
Tính cá thể của phong cách hội thoại thể hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ
tiết, thượng cẳng chân hạ cẳng tay…”.
Phong cách hội thoại sử dụng nhiều ngữ khí từ, trợ từ, thán từ, tình thái
từ để thực hiện chức năng tạo tiếp như: đấy, nhé, nhỉ, thôi, thế thôi, ôi, ơi,…
Ví dụ: Anh sắp đi đâu đấy? (Để hỏi người đang ở trước mặt).
Eo ôi! Con rắn to quá! (Chỉ sự ngạc nhiên nhưng thường có ý
trách mắng hay ghê tởm).
Phong cách hội thoại còn sử dụng các từ láy mang màu sắc khẩu ngữ
“Và vì vậy đã sinh ra những từ láy giàu sắc thái cụ thể, gợi hình, gợi cảm. Láy
vần có tác dụng gợi cảm rất mạnh: loanh quanh, lững thững…Láy âm hoàn
toàn có giá trị gợi cảm, nhấn mạnh ý: sè sè, rầu rầu…Những từ bốn âm tiết
láy âm có tác dụng nhấn mạnh và châm biếm: ngớ nga ngớ ngẩn, đủng đà
đủng đỉnh…[6, 133].
Bên cạnh đó, phong cách hội thoại cũng thường sử dụng cách nói vận
dụng thành ngữ, tục ngữ (Vẽ đường cho hươu chạy, mượn gió bẻ măng…)
hay cách nói tắt (“Cửa hàng bách hóa tổng hợp” có thể nói tắt thành “Bách
hóa tổng hợp”).
1.1.3.2 Cách thức sử dụng câu
Phong cách hội thoại hay dùng những câu hỏi, những câu cảm thán,
những câu nói trực tiếp, những câu đưa đẩy.
8
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
Phong cách hội thoại có những kết cấu cú pháp riêng mà các phong
cách khác thường ít dùng.
+ Dùng “đã…lại” thay cho “không những - mà còn”.
Ví dụ: So sánh từ khẩu ngữ với các từ ngữ khác có nghĩa tương đương
ta sẽ thấy rõ sự khác biệt về tính hình ảnh và tính biểu cảm.
Chẳng hạn: nỏ mồm
/
nói nhiều
ăn đòn
/
bị đánh
đàn ông đàn ang /
nam giới
1.2.3 Cách cấu tạo
Theo Cù Đình Tú, Khảo sát từ vựng tiếng Việt theo bình diện phong
cách ngôn ngữ, (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt tu từ,
H.,1982) thì từ khẩu ngữ được cấu tạo theo bốn cách sau đây:
1.2.3.1 Thêm yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là người ta thêm yếu tố vào đơn
vị nguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ khẩu ngữ. Theo
nguyên tắc chung này ta có 4 kiểu:
Kiểu 1. Mẫu: ngon thêm ơ thành ngon ơ.
Ví dụ: mốc thêm thếch thành mốc thếch.
trắng thêm dã thành trắng dã.
Cách cấu tạo này do khuynh hướng nói tắt, tỉnh lược thành tố của
phong cách khẩu ngữ tự nhiên tiếng Việt chi phối. Đơn vị mới tuy không có
sắc thái biểu cảm nhưng vẫn là từ khẩu ngữ, sắc thái ỹ nghĩa có phần cụ thể.
1.2.3.3 Biến yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là biến yếu tố ở các đơn vị
nguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới: từ khẩu ngữ.
Tùy theo yếu tố bị biến đổi ngữ âm và ngữ nghĩa mà chia ra ba kiểu cấu
tạo sau đây:
Kiểu 1: biến âm.
Mẫu: vẫn biến âm thành vưỡn.
hăm mươi bảy biến âm thành hăm bảy.
Cách thức biến âm có thể là:
Bớt phụ âm đầu:
Ví dụ: khối thành ối.
tất thàn tuốt.
11
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
Đồng hóa dị âm:
Ví dụ: ba mươi hai thành thành băm hai.
Kiểu 2: biến nghĩa.
Mẫu: chơi (chơi bóng) biến nghĩa thành chơi (một vố).
nện (đất, đá) biến nghĩa thành nện (cho một trận).
Kiểu cấu tạo này có sức sinh sản lớn so với các kiểu khác. Hiện nay các
từ khẩu ngữ mới được cấu tạo chủ yếu theo cách này.
tiếng Việt giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm xuất hiện chính là để đáp ứng
nhu cầu diễn đạt nói trên. Nói năng sinh hoạt hàng ngày mà thiếu từ khẩu ngữ
thì sự diễn đạt sẽ trở nên sơ lược, tẻ nhạt, sẽ chỉ còn lại là một hoạt động đưa
tin - nhận tin thuần túy không kèm theo một chút thái độ bình giá nào, bởi vì
mọi chi tiết sinh động sống thực đã bị tước bỏ”[1, 138].
Trong sáng tác văn học, “Về cơ bản từ khẩu ngữ là những từ thuần
Việt, rất giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm, đó là những từ luôn gắn chặt
với cuộc sống sôi nổi, sinh động. Cho nên từ khẩu ngữ tiếng Việt thuộc loại
công cụ lợi hại nhất để nhà văn có thể miêu tả, tái tạo được cuộc sống thực
trong tác phẩm” [1, 138]. Từ khẩu ngữ giúp các nhà văn miêu tả sự vật sinh
động và chân thực hơn. “Nếu như trong văn, từ là cái quan trọng nhất (Phạm
Văn Đồng), nếu như trong văn, từ là cái bộ quần áo của sự kiện (Gorki) thì
trong vốn từ ngữ của một nhà văn, từ khẩu ngữ là thành phần cơ bản nhất,
nòng cốt nhất. Vốn từ ngữ phong phú và tài nghệ sử dụng từ ngữ của nhà văn
thể hiện một cách tập trung và rõ nét ở từ khẩu ngữ. Nhà văn nào cũng quan
tâm trau dồi vốn từ nhưng trước nhất là vốn từ khẩu ngữ của dân chúng. Như
thế đứng về mặt bình giá ngôn ngữ nhà văn thì vốn từ khẩu ngữ và khả năng
sử dụng, từ khẩu ngữ được xem như một tiêu chuẩn đánh giá. Những nhà văn
có tài phải là những nhà văn vừa biết sử dụng vừa biết sáng tạo từ khẩu ngữ
theo những cách của nó.
1.3 Thơ Nôm Đường luật
1.3.1 Khái niệm
Thơ Nôm Đường luật bắt nguồn từ thể thơ Đường ở Trung Quốc, được
sáng tác theo kết cấu số câu, số chữ như ở thơ Đường luật Trung Quốc. “Đó
13
Khóa luận tốt nghiệp
14
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
thơ, hồn văn, tài văn của mình nở hoa kết trái tự nhiên hơn, lắm sắc màu hơn,
ngọt dịu hơn”. Và việc sáng tạo ra thể thơ Nôm Đường luật; việc “nhập lệch”
thành công thể thơ này vào văn học nước nhà là một bước nhảy vọt tạo tiền đề
cho việc hiện đại hóa văn học nước ta từ đầu thế kỉ XX trở đi.
1.3.3 Bản chất
1.3.3.1 Bản chất của thơ Nôm Đường luật về phương diện nội dung
Về phương diện nội dung, bản chất của thơ Nôm Đường luật thể hiện
rõ nhất thông qua hệ thống đề tài, chủ đề. Đề tài, chủ đề của thơ Nôm Đường
luật rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều vấn đề lớn của lịch sử, của thời
đại, của đất nước cũng như khía cạnh tinh tế, phức tạp trong đời sống tinh
thần của mỗi con người. Đặc biệt, thơ Nôm Đường luật hướng nhiều về
những đề tài, chủ đề chứa đựng yếu tố dân chủ như nhu cầu giải phóng tình
cảm, quyền sống hạnh phúc, chống lễ giáo phong kiến…
Nếu các yếu tố Đường luật mang đến phong vị cổ thi cho thơ Nôm
Đường luật thì yếu tố Nôm lại khiến thể loại này thấm đượm hồn dân tộc và
khu biệt nó với thơ Đường luật chữ Hán. Yếu tố Nôm trong hệ thống đề tài,
chủ đề thể hiện ở chỗ thơ Nôm Đường luật hướng tới những đề tài mang tính
chất dân tộc, dân dã, đời thường. Đó là những bức tranh thiên nhiên dân dã,
mang vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của làng quê Việt Nam. Đó còn là bài học đạo
đức, triết lí nhân sinh mang tinh thần dân tộc, tư tưởng nhân dân: coi trọng
tình nghĩa, thương yêu đoàn kết, cần cù, giản dị, chân thành…Ngay cả khi
viết về các phạm trù đạo đức Nho gia như “ái ưu”, “trung hiếu”, các tác giả
16
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH HIỆU QỦA SỬ DỤNG LỚP TỪ, NGỮ
THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG
LUẬT CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG, NGUYỄN KHUYẾN, TÚ XƯƠNG
2.1 Kết qủa khảo sát thống kê, phân loại
Trong thơ Nôm đường luật, đặc biệt là trong thơ của các tác giả thế kỉ
XVIII, XIX như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và Tú Xương, lớp từ ngữ
thuộc phong cách hội thoại đã được tiếp thu, vận dụng nhiều và hết sức sáng
tạo. Qua bàn tay sáng tạo của các nhà thơ, lớp từ ngữ thuộc phong cách hội
thoại đã nhuyễn vào câu thơ, đem đến cho thơ Nôm Đường luật một phong vị
đậm đà, một tính chất dân dã, bình dị, gần gũi với cuộc sống đời thường mà
không một thể loại văn học chữ Hán nào có được.
Qua khảo sát những bài thơ Nôm Đường luật trong cuốn “Hồ Xuân
Hương thơ và đời”, Nxb Văn học; cuốn “Nguyễn Khuyến thơ và đời”, Nxb
Văn học và cuốn “Thơ văn Tú Xương”, do Kiều Văn (biên soạn), Nxb Đồng
Nai chúng ta thấy tần số xuất hiện của từ ngữ thuộc phong cách hội thoại
trong các bài thơ là rất lớn 1177 phiếu với những sắc thái ý nghĩa phong phú,
chia làm nhiều tiểu loại khác nhau, cụ thể như sau:
17
18
60
(5,09%)
từ, đại từ
từ, trợ
taọ từ
biến âm để ngữ khí
(3,73%)
44
(1,17%)
13
(1,18%)
14
(1,44%)
17
hóa
săc thái
(11,21%)
132
(5,36%)
63
(3,39%)
40
(2,465)
29
thành ngữ
dụng
Sự vận
(1,86%)
22
(0,77%)
9
Sự vận
1177
404
423
350
phiếu
ngữ, tục ngữ, ca dao
Sự vận
Tổng số
Sử dụng lối nói dẫn thành
Các lớp từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ hội thoại
Khóa luận tốt nghiệp
Hà Thị Kim Thoa K35B - SP Ngữ Văn