LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Khi nói đến sản xuất kinh doanh thì cho dù là dưới hình thức kinh tế xã
hội nào vấn đề được nêu ra trước tiên cũng là hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh
là mục tiêu phấn đấu của mọi doanh nghiệp, là thước đo cho thành công của
doanh nghiệp. Lợi nhuận kinh doanh luôn là mục tiêu hàng đầu mà doanh
nghiệp hướng tới. Để đạt được điều đó mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt, giá
thành hợp lý, doanh nghiệp vẫn vững vàng trong cạnh tranh thì các doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, trong đó
quản lý và sử dụng vốn là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định kết quả và
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong cơ chế bao cấp trước đây vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Nhà Nước được nhà nước cấp phát vốn, đồng thời nhà nước cũng
quản lý về giá cả, sản lượng theo chỉ tiêu kế hoạch lãi Nhà Nước thu- lỗ Nhà
Nước bù, do vậy các doanh nghiệp Nhà Nước hầu như không quan tâm đến
hiệu quả sử dụng của đồng vốn. Nhiều doanh nghiệp không bảo toàn và phát
triển vốn được, hiệu quả sử dụng vốn còn thấp, tình trạng các doanh nghiệp
Nhà Nước làm ăn thua lỗ xảy ra phổ biến trong lúc bấy giờ.
Hiện nay đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc chuyển
dịch cơ cấu quản lý kinh doanh đó là việc mở rộng quyền tự chủ, giao vốn
cho các doanh nghiệp tự quản lý và sử dụng theo hướng lời ăn, lỗ chịu. Bên
cạnh đó nước ta đang đang trong quá trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp
đang đối mặt với cạnh tranh gay gắt, mọi doanh nghiệp đều thấy rõ điều này,
Nhà Nước và doanh nghiệp cùng bắt tay nhau hội nhập. Điều này tạo cơ hội
và thách thức cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Bên
cạnh những doanh nghiệp năng động , sớm thích nghi với cơ chế thị trường đã
sử dụng vốn có hiệu quả còn những doanh nghiệp khó khăn trong tình trạng
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
1
sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn không còn là khái niệm mới mẻ, nhưng nó luôn được đặt ra trong suốt
- Đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu: bao gồm cả số liệu sơ cấp và thứ cấp.
Phương pháp phân tích dữ liệu: bao gồm các phương pháp so sánh,
phương pháp tỷ lệ, phương pháp chuyên gia.
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
3
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Khái quát về vốn trong doanh nghiệp.
1.1. Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp.
- Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn, đứng trên các giác độ khác
nhau ta có các cách nhìn khác nhau về vốn. Sau đây là một số quan điểm về
vốn của một số nhà kinh tế học.
• Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố
sản xuất thì Mark cho rằng: : “Vốn chính là tư bản, là giá trị mang lại
thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên, Mark quan
niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây
là một hạn chế trong quan điểm của Mark.
• Còn theo Paul A. Samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết
hiện đại cho rằng: “Vốn là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá
trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp”.
• Còn theo D. begg tác giả của cuốn “kinh tế học” thì cho rằng vốn
bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa,
sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác. Vốn tài chính là tiền
và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo định nghĩa trên D.Begg đã đồng
nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền
của tất cả tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất.
• Một cách thông dụng nhất, Vốn được biểu hiện là giá trị của toàn
bộ tài sản do Doanh nghiệp quản lý và sử dụng tại một thời điểm nhất định.
Mỗi đồng vốn phải gắn liền với một chủ sỡ hữu nhất định. Tiền tệ là hình thái
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
5
nghiệp đó là vốn huy động. Để có được những số vốn cần thiết cho các dự án
phát triển của công ty hay những nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp phát
sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi một số vốn trong một thời
gian ngắn nhất mà doanh nghiệp không đủ số vốn cần thiết khi đó đòi hỏi
doanh nghiệp cần có sự liên kết hay huy động vốn từ các nguồn vốn khác
dưới nhiều hình thức khác nhau.
Vốn vay: doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng,
các cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập để tạo lập và tăng thêm nguồn vốn
cho mình.
Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng là một nguồn vốn quân
trọng đối với doanh nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các
khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp trên
cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
Vốn huy động thông qua hình thức phát hành trái phiếu đây là hình
thức quan trọng để sử dụng vào mục đích vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phát hành trái phiếu giúp cho doanh
nghiệp có thể huy động được số vốn nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Vốn liên doanh liên kết: doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết
với các doanh nghiệp khác nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đây là hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên
kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ giữa các bên tham gia giúp đổi
mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Vốn tín dụng thương mại: tín dụng thương mại là các khoản mua
chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm
thời chiếm dụng. Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hóa cụ
thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
mua tài sản từ người cho thuê. Thuê tài chính có 2 loại đặc trưng sau:
Thời hạn thuê tài sản của các bên phải chiếm phần lớn hữu ích của tài
sản và hiện giá trị thuần của toàn bộ các khoản cho thuê phải đủ để bù đắp
những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Ngoài khoản tiền thuê phải trả cho bên cho thuê các loại chi phí bảo
dưỡng, vận hành, phí bảo hiểm… cũng như các khoản rủi ro khác đối với tài
sản phải do bên thuê chịu.
b. Phân loại theo thời gian: thì nguồn vốn được chia thành vốn ngắn
hạn và vốn dài hạn. Vốn ngắn hạn là vốn có thời hạn dưới 1 năm, vốn dài hạn
là vốn có thời hạn từ 1 năm trở lên.
c. Phân loại theo phương thức chu chuyển: thì vốn của doanh nghiệp
được chia thành 2 loại là vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định: là biểu hiện thành tiền của tài sản cố định, đó chính là
số vốn doanh nghiệp đầu tư mua sắm, trang bị cơ sở vật chất. Để là tài sản cố
định phải đạt được 2 tiêu chuẩn. Một là, phải đạt được về mặt giá trị đến một
mức độ nhất định. Hai là, thời gian sử dụng phải từ một năm trở lên. Với
những tiêu chuẩn như vậy thì hoàn toàn bình thường với đặc điểm hình thái
vật chất của tài sản cố định giữ nguyên trong thời gian dài. Tài sản cố định
thường được sử dụng nhiều lần, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh
doanh và chỉ tăng lên khi có sửa chữa hoặc mua sắm mới. Qua quá trình sử
dụng, tài sản cố định hao mòn dần dưới 2 dạng là hao mòn hữu hình và hao
mòn vô hình. Hao mòn vô hình chủ yếu do tiến bộ công nghệ mới và năng
suất lao động xã hội tăng lên quyết định. Hao mòn hữu hình phụ thuộc vào
mức độ sử dụng khẩn trương tài sản cố định và các điều kiện ảnh hưởng tới
độ bền lâu của tài sản cố định như chế độ quản lý sử dụng, bảo dưỡng, điều
kiện môi trường… Những chỉ dẫn trên đưa ta tới một góc nhìn về đặc tính
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
8
chuyển đổi thành tiền chậm chạp của tài sản cố định. Tuy thế, các tài sản cố
định có giá trị cao có thể có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn.
xuất. Vì vậy khi nghiên cứu để xây dựng và cải tiến cơ cấu vốn cố đinh hợp lý
cần chú ý xem xét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này. Trong kết quả của
sự phân tích, đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa các bộ phận Vốn cố định
được biểu hiện bằng máy móc thiết bị và bộ phân Vốn cố định được biểu hiện
nhà xưởng vật kiến trúc phục vụ sản xuất.
- Vốn lưu động: là số vốn doanh nghiệp đầu tư để dự trữ vật tư, để chi
phí cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chi phí cho hoạt động quản lý
của doanh nghiệp. Hoàn toàn khách quan không như vốn cố định, Vốn lưu
động tham gia hoàn toàn vào quá trình sản xuất kinh doanh chuyển qua nhiều
hình thái giá trị khác nhau như tiền tệ, đối tượng lao động, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, thành phẩm và trở lại hình thái tiền tệ ban đầu sau khi tiêu
thụ sản phẩm. Như vậy vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định, quá
trình vận động của Vốn lưu động thể hiện dưới hai hình thái :
* Hình thái hiện vật: đó là toàn bộ nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, thành phẩm.
* Hình thái giá trị: là toàn bộ giá trị bằng tiền của nguyên vật liệu, bán
thành phẩm, giá trị tăng thêm do việc sử dụng lao động sống trong quá trình
sản xuất và những chi phí bằng tiền trong lĩnh vực lưu thông.
Sự lưu thông về mặt hiện vật và giá trị của Vốn lưu động ở các doanh
nghiệp sản xuất có thể biểu diễn bằng công thức chung:
T – H – SX – H' – T'
Trong quá trình vận động, đầu tiên Vốn lưu động biểu hiện dưới hình
thức tiền tệ và khi kết thúc cũng lại bằng hình thức tiền tệ. Một vòng khép kín
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
10
đó gợi mở chúng ta thấy hàng hóa được mua vào để doanh nghiệp sản xuất
sau đó đem bán ra, việc bán được hàng tức là được khách hàng chấp nhận và
doanh nghiệp nhận được tiền doanh thu bán hàng và dịch vụ cuối cùng. Từ
kết quả đó giúp chúng ta sáng tạo ra một cách thức quản lý vốn lưu động tối
ưu và đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.3. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp.
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp. Vốn là điều
kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản
ánh nguồn lực tài chính được đầu tư sản xuất kinh doanh.
a. Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp.
- Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập doanh nghiệp. Về mặt
nguyên tắc mỗi doanh nghiệp thành lập phải có một lượng vốn nhất định và
phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do nhà nước quy định đối với lĩnh
vực kinh doanh đó. Như vậy có lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và
tồn tại của doanh nghiệp đó trước pháp luật.
- Giá trị vốn ban đầu có thể nhiều hoặc ít tùy theo quy mô, ngành
nghề, loại hình doanh nghiệp. Vốn pháp định nhà nước chỉ quy định đối với
các ngành nghề liên quan đến lĩnh vực tài chính như Chứng khoán, bảo hiểm,
kinh doanh tiền tệ… Còn các lĩnh vực khác không quy định cụ thể mức vốn
cần thiết để thành lập doanh nghiệp.
b. Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và
loại hình sản xuất kinh doanh nào. Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuấn
cơ bản P= F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản
xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T). Hơn nữa, trong hàm
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
12
sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và
công nghệ có thể mua được khi có vốn.
- Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh.
Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm nguyên
vật liệu, máy móc; trả lương... Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài
nguồn vốn của doanh nghiệp. Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu
cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình
2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
2.1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn.
Để hiểu rõ về hiệu quả sử dụng vốn trước hết ta nên tìm hiểu về hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực, tài lực
của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh
doanh với chi phí thấp nhất. Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế luôn là
mục tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp
tại VN. Sản xuất kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào cũng được biểu
hiện dưới dạng mối quan hệ giữa vốn và lao động: Q = f (K, L) trong đó K là
vốn, L là lao động.
Như ta đã thấy ở trên kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có
quan hệ mật thiết với nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, lao động… vì vậy để
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì cần phải khai thác và sử dụng
nguồn vốn 1 cách hợp lý.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: là phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa mà chi phí bỏ ra thấp nhất.
Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
14
của quá trình sản xuất kinh doanh cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao
hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có
hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh
nghiệp cần phải giải quyết được các vấn đề như: đảm bảo tiết kiệm, huy động
thêm để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và doanh nghiệp
phải đạt được các mục tiêu đề ra trongq quá trình sử dụng vốn của mình.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
2.2.1. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
- Hiệu quả sử dụng tài sản:
Trong đó:
Số vốn cố định bình
quân trong kỳ
=
Số vốn cố định đầu kỳ + Số vốn cố định cuối kỳ
2
Số vốn cố
định đầu kỳ
(cuối kỳ)
=
nguyên giá
TSCD đầu kỳ
(cuối kỳ)
-
khấu hao lũy
kế đầu kỳ
(cuối kỳ)
- Chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định: chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn
cố định trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
Hàm lượng vốn cố
định
=
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:
Tỷ suất lợi nhuận
vốn cố định
=
Lợi nhuận trước thuế
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
hệ số đảm nhiệm =
vốn lưu động Tổng doanh thu thuần
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
17
2.3. Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
Ở đây ta có thể sử dụng 2 phương pháp để phân tích tài chính tài chính
cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đó là phương pháp so sánh
và phương pháp phân tích tỉ lệ.
2.3.1. Phương pháp so sánh.
- Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động
kinh doanh.
+ Điều kiện so sánh được: Các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất.
Để đảm bảo tính thống nhất người ta cần phải quan tâm tới phương
diện được xem xét mức độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác
cần phải có, thời gian phân tích được cho phép.
+ Kĩ thuật so sánh:
• So sánh bằng số tương đối: biểu hiện khối lượng quy mô của
các hiện tượng kinh tế.
• So sánh bằng số tuyệt đối: biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc
độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.
• So sánh bằng số bình quân trung bình: biểu hiện kết cấu, mối
quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.
• So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô:
được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu có liên quan, theo hướng quyết
định quy mô chung.
Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực
hiện theo ba hình thức:
• So sánh theo chiều dọc: Là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ
lệ quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ của báo cáo kế toán - tài
chính, nó còn gọi là phân tích theo chiều dọc (cùng cột của báo cáo).
mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để đạt được
lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ sản
xuất kinh doanh trong đó sử dụng vốn là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp phải có một chế độ bảo
toàn vốn trước hết từ đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh. Trước đây trong cơ chế kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp, doanh nghiệp coi nguồn vốn từ ngân sách Nhà Nước cấp cho nên
doanh nghiệp không quan tâm đến hiệu quả, kinh doanh thua lỗ đã có Nhà
Nước bù đắp, điều này gây ra tình trạng vô chủ trong quản lý và sử dụng vốn
dẫn tới lãnh phí vốn, hiệu quả kinh tế thấp. Khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động theo phương thức hạch toán
kinh doanh. Nhà nước không tiếp tục bao cấp về vốn cho doanh nghiệp như
trước đây. Để duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp phải
bảo toàn, giữ gìn số vốn Nhà Nước giao, tức là kinh doanh ít nhất cũng phải
hòa vốn, bù đắp được số vốn đã bỏ ra để tái sản xuất giản đơn. Đồng thời
doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi để tích lũy bổ sung vốn, là đòi hỏi với
các doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh
nghiệp. Hoạt động trong cơ chế thị trường doanh nghiệp luôn đề cao tính an
toàn tài chính. Đây là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Hoạt động trong cơ chế thị trường doanh nghiệp đề cao tính an
toàn tài chính. Đây là vấn đề có tính ảnh hưởng đến sự tồn tịa và phát triển
của doanh nghiệp. Việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn giúp cho doanh
nghiệp nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ dễ dàng hơn, khả
năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo toàn, doanh nghiệp có đủ nguồn
lực để khắc phục những khó khăn và rủi ro trong kinh doanh.
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
20
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả
năng cạnh tranh. Đáp ứng yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng
nghiệp
2.5.1. Đối với doanh nghiệp nói chung.
a. Nhân tố khách quan:
- Các chính sách vĩ mô: trên cơ sở pháp luật, các chính sách kinh tế
tạo môi trường cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Bất kỳ
một sự thay đổi trong chính sách này đều có tác động đáng kể đến doanh
nghiệp. Đối với hiệu quả sử dụng vốn thì các quy định như thuế vốn, thuế giá
trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp… đều có thể làm tăng hoặc giảm
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: do tác động của nền kinh tế
tăng trưởng chậm nên sức mua của thị trường giảm sút. Điều này làm ảnh
hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ khó tiêu thụ hơn, làm giảm doanh thu và như thế sẽ làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn.
- Biến động của thị trường đầu vào và đầu ra: biến động thị trường
đầu vào là những biến động về tư liệu lao động, là những thay đổi về máy
móc thiết bị, công nghệ, lao động... biến động thị trường đầu ra là nhu cầu về
sản phẩm của người tiêu dùng.
- Đối thủ cạnh tranh: sự phát triển của các đối thủ cạnh tranh trong
cùng một ngành cũng ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi nhuận của
doanh nghiệp. Từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
22
- Rủi ro: do những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh
doanh mà các doanh nghiệp thường gặp phải những khó khăn nhất là trong
điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
- Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ: nên sẽ làm
giảm giá trị tài sản vật tư… Vì vậy nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này
để có những điều chỉnh kịp thời thì sẽ gây những khó khăn không nhỏ trong
tác động khác nhau tới tiến độ sản xuất, phương pháp và quy định vận hành máy
móc, số ca, số tổ sản xuất, số bộ phận phục vụ sản xuất...
Mặt khác, đặc điểm của công tác hạch toán, kế toán nội bộ của doanh
nghiệp có tác động không nhỏ tới sự phát triển của doanh nghiệp. Công tác kế
toán góp phần đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Kế toán
phải có nhiệm vụ phát hiện những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn và đề
xuất những biện pháp giải quyết.
- Trình độ đội ngũ lao động: nếu công nhân có trình độ cao đủ để
thích ứng với trình độ công nghệ dây chuyền sản xuất thì các máy móc trong
dây chuyền sẽ được sử dụng tốt hơn và năng suất chất lượng sẽ cao hơn. Song
trình độ lao động phải được bố trí phù hợp thì sẽ đạt hiệu quả công việc cao.
Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả cao nhất doanh nghiệp phải
có một cơ chế khuyến khích vật chất cũng như trách nhiệm một cách công
bằng. Ngược lại, nếu cơ chế khuyến khích không công bằng, quy định trách
nhiệm không rõ ràng, dứt khoát sẽ làm cản trở mục tiêu nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
2.5.2. Đối với Cảng Hải Phòng:
a. Nhân tố khách quan.
- Do tính chất đặc thù của Cảng Hải Phòng nên ngoài các nhân tố trên
còn có 1 vài nhân tố ảnh hưởng đến Cảng Hải Phòng.
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
24
• Các chiến lược phát triển của tổng công ty hàng hải VN: Cảng
Hải Phòng là công ty con của tổng công ty hàng hải VN. Tổng công ty có
quyền quyết định điều chỉnh tăng giảm vốn điều lệ của Cảng, ảnh hưởng trực
tiếp đến các chiến lược phát triển của Cảng Hải Phòng.
• Sự phát triển của các Cảng trong tổng công ty hàng hải: sự phát
triển mạnh mẽ của các Cảng lân cận tác động trựcc tiếp đến doanh thu của
Cảng Hải Phòng như Cảng Quảng Ninh, Cảng Đà Nẵng...
• Trọng tải của tàu cập bến tại Cảng: do Cảng Hải Phòng có bờ