BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------
V
THI HÁ TR
HƯ NG
N NG N NG
N
H I
ẬN VĂN THẠC Ĩ NGỮ VĂN
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Nghệ An – 2012
1975
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------
V
THI HÁ TR
TRANG
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
5. Phương pháp nghiên cứu
9
6. Đóng góp của luận văn
11
7. Cấu trúc của luận văn
12
32
Ch ơng 2.
ẾT CẤ VÀ Q
N NI M NGH TH ẬT
VỀ CON NGƯỜI TRONG TR
N NG N NG
N
H I
1975
2.1. Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Khải
38
2.1.1. Cách sắp xếp các sự kiện
38
2.1.2. Cách phối hợp các kiểu kết cấu
41
H I 1975
3.1. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
68
3.1.1. Không gian thị thành
68
3.1.2. Không gian làng quê
73
3.2. Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
75
3.2.1. Trình tự thời gian
75
3.2.2. Nhịp điệu thời gian
78
3.3. Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải
80
97
H O
100
1
MỞ ĐẦ
1. ý
chọn đ tài
Nguyễn Khải (1930 2008) mở đầu sự nghiệp văn chương bằng truyện
ngắn Ra ngoài đăng trên tạp chí Lúa mới của chi hội Văn nghệ Liên khu
năm 1950. Gần sáu mươi năm cầm bút với những thành tựu to lớn, ông được
giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1985 1988), giải thưởng Hồ Chí
Minh năm 2000 (đợt 2) cho chùm tác phẩm Xung đột, Gặp gỡ cuối năm, Cha
và con và…, giải thưởng văn học
s an (2000). Nguyễn Khải để lại một số
lượng tác phẩm khá lớn thuộc nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch
Nguyễn Khải luôn có tác phẩm mới và ông luôn khiến cho giới nghiên cứu
phê bình văn học và người đọc tốn hao nhiều bút mực luận bàn. Với ng i bút
hiện thực đ c sắc, năng lực quan sát và óc phân tích sắc sảo, Nguyễn Khải đã
đ m đến cho người đọc những trang văn đầy bất ngờ và thú vị.
Nguyễn Khải sáng tác ở nhiều thể loại và truyện ngắn là mảng sáng tác
nổi bật của Nguyễn Khải và ông đã để lại cho đời khoảng bảy chục truyện
Khi nghiên cứu về văn chương của Nguyễn Khải, với bài viết Nguyễn
Khải trong sự vận động của văn học cách mạng từ sau 1945, Vương Trí Nhàn
đã có sự so sánh khá lý thú về hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975 của
nhà văn, ông cho rằng “ ột
n là cái n ng n i v t m của tu i tr một
n
3
là nh ng chuyện chi m nghiệm th m tr m s u sắc của tu i già
ào ào n i lấy đ
c một
ột
nn i
n vừa n i vừa ngập ngừng vừa chậm rãi chỉ s
mình khái quát sai một l n n a”. [ 33, tr.35 ]
Là nhà văn hiện thực, tác phẩm của Nguyễn Khải đã phản ánh thực tiễn
đời sống một cách sâu sắc và toàn diện, giúp ông có những thành công đáng
kể trong sự nghiệp văn chương của mình.
Trong cuốn Nhà văn iệt Nam 1945 – 19 5 tập 2), Phan Cự Đệ khi
nói về chất trí tuệ trong những sáng tác của Nguyễn Khải, ông đã có nhận x t
sau
ớc đ
ng t t
ng và sáng tác của nguyễn Khải
ng rất ti u iểu của chuyển động văn học ta suốt một
ài và kh ng h đ n giản
ễ àng, tiểu iểu nhất là
Khải ch nh vì đấy đúng là cái tạng của anh và c ng vì anh là ng
Nguyễn
i tài năng
nhất c ng trung thực với ch nh mình”. [ 25 ]
Khi bàn về hình tượng tác giả trong những sáng tác của Nguyễn Khải,
với bài viết ài
kiến v tác ph m Nguyễn Khải, Nguyễn Văn Hạnh đã nhận
4
ra hình tượng tác giả qua cái nhìn đ c trưng của nhà văn. “Nhà văn c một cái
nhìn nhạy én thấu suốt vào một số nh ng mặt chủ yếu nh ng vấn đ khá
phức tạp của cuộc sống”. [ 7 ]
Thống nhất với ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Hạnh, trong bài viết
các thế hệ . [ 33, tr.383]
Nhóm những ý kiến đánh giá về thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau
1975.
Với phần “Truyện ngắn Nguyễn Khải in trong ruyện ngắn iệt Nam
l ch s chân dung thi pháp, Phan Cự Đệ đã đề cập đến truyện ngắn Nguyễn
Khải thông qua những tập truyện được đánh giá là khá tiêu biểu của nhà văn.
Ông cho rằng, nếu như trước 1975,
c ng cuộc
ùa lạc là “ ản tráng ca lãng mạn của
y ựng chế độ mới hủ ngh a ã hội [ 4, tr.608 ] thì sau 1975,
qua tập truyện
ột ng
i Hà Nội (1990), nhà văn có sự thay đổi đáng kể
trong quan niệm nghệ thuật. Tập truyện ngắn này đ m đến cho thế giới nghệ
thuật một khoảng trời mới, nền văn hóa cố đô “phong l u đài các , “thâm
5
tr m ung
[4, tr.609], ở đây con người được khám phá với cách nhìn cách
ngh mới.
Trong bài hế giới nh n vật của Nguyễn Khải trong cảm hứng nghi n
Nguyễn Khải c n nhi u quyến luyến”. [33, tr.122]
Nhận x t đ c điểm ng i bút hướng về nhân cách sống của nhà văn, đ c
biệt ở mảng sáng tác sau 1975, Nguyễn Văn Kha khẳng định “ rong m i l nh
vực đạo l n đ i
ng đ u nhìn thấy iểu hiện của con ng
i
thể n i
ng
đã gồng” mình l n để nắm ắt soi tỏ cuộc sống đ y rối rắm và phức tạp của
th i sau chiến tranh từ cuộc sống qu n sự chuyển sang đ i sống
n n kinh tế ao cấp đang m m m từng
on ng
i
trong ối cảnh đ c
n sự từ
ớc chuyển sang kinh tế th tr
iết ao cảnh ngộ
ng
ngắn đã thể hiện được tính chất đa thanh, một sự đầu tư đúng mực của nhà
văn vào trong sáng tác.
Trong bài viết
ảm nhận v con ng
i trong sáng tác gần đây của
Nguyễn Khải, Nguyễn Thị Huệ cho rằng ý thức mở rộng khả năng chiếm l nh
hiện thực, khả năng khám phá, phát hiện về con người đã trở thành thường
trực trong ng i bút của nhà văn. Nếu thời k trước 1975 văn xuôi nói chung,
chủ yếu tiếp cận con người ở bình diện, lập trường địch ta; x m x t, lý giải,
đánh giá cuộc sống và con người th o những yêu cầu chuẩn mực của đạo đức
cách mạng thì đến đầu những năm 80, cùng với Nguyễn Minh Châu, Ma Văn
Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn,
và các đồng nghiệp khác, những sáng
tác văn xuôi của Nguyễn Khải đã nỗ lực tìm t i khơi sâu thêm, mở rộng tiếp
7
thu tư duy nghệ thuật trên các phương diện khác nhau của sự tồn tại con
người như không gian và thời gian, khả năng nhận thức và tự ý thức ở mỗi
con người trước đời sống hiện thực “ on ng
Khải đ u nh ng năm 80 đ
khác nhau
c nhìn nhận
uy
đa chi u nhi u lật tr và một khả năng sáng tạo đặc sắc Nguyễn Khải đã tạo
ựng đ
c cho mình một phong cách văn u i đa ạng độc đáo vừa n đ nh
vừa iến h a sắc sảo mà ung
”. [24, tr.243]
Khi viết cuốn Nhà văn t t
nhận x t về Nguyễn Khải đ i ng
ng và phong cách, Nguyễn Đăng Mạnh có
i đ i văn như sau “ à trong mảng hiện
thực gắn li n với cái t i Nguyễn Khải ng
i ta thấy uất hiện nh ng g
ng
mặt hoàn toàn mới ngh a là ch a h c trong thế giới nghệ thuật của ng
tr ớc kia nh ng g
ng mặt của Hà Nội
kh ng chỉ là nhà văn của nh ng n ng
ỹ… Ông c n là nhà văn
i thuộc một thế giới khác hẳn thế giới th
của nh ng con ng
các của Hà Nội vang
ng l u đài
ng một th i”…”. [ 21, tr.139]
Trong cuốn Nhà văn iệt Nam 1945 1975 tập 2 , nhà nghiên cứu
Phan Cự Đệ đã ch ra phong cách văn xuôi hiện thực t nh táo trong sáng tác
của Nguyễn Khải. Th o ông, sức hấp d n của truyện ngắn Nguyễn Khải là
nhờ ở những chi tiết tâm lý sâu sắc và chi tiết sự việc sống động. “ ruyện
ngắn và truyện vừa c màu sắc tr tuệ của Nguyễn Khải v n tạo n n một sức
hấp
n đặc iệt nh
t nh th i sự nhạy én của các sự kiện và
ài của các vấn đ đặt ra nh
ngh a l u
nh ng chi tiết t m l s u sắc và chi tiết sống
động nh ng chi tiết lấp lánh rải rác trong các truyện của anh nh
phong phú khác nhau”. [ 33, tr.91]
Với bài viết Sự đ i mới quan niệm nghệ thuật v con ng
truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 trên ạp ch Giáo
i trong
c, Đ ng Thị Mây đi
sâu bàn về con người cá nhân trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 “
on ng
i trong sáng tác của ng Nguyễn Khải nhất là nh ng truyện ngắn
g nđ yđ
căn ản
c đặt trong nhi u chi u đ
c đ nh v với nh ng giá tr c t nh
n v ng ph quát chứ kh ng chỉ là ti n tiến hay lạc hậu đ cao
9
hay ph phán một chi u
thức m rộng khả năng chiếm l nh hiện thực khám
phá phát hiện v con ng
Luận văn hướng đến việc xác định những đ c điểm về thi pháp truyện
ngắn Nguyễn Khải sau 1975. Thông qua đó, luận văn làm r hơn những đóng
góp của ông đối với truyện ngắn Việt Nam hiện đại, đồng thời ch ra được sự
tài hoa nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Khải ở thể loại truyện ngắn.
3.2. Nhiệm v nghiên c u
Để đạt được những mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là
10
Thứ nhất, khảo sát một cách có hệ thống các tập truyện ngắn của
Nguyễn Khải sau 1975.
Thứ hai, tìm hiểu những n t riêng của thi pháp truyện ngắn Nguyễn
Khải sau 1975 so với các tác giả khác.
4. Đối t
4.1. Đối t
ng và h m vi nghiên c u
ng nghiên c u
Với đề tài hi pháp truyện ngắn của Nguyễn Khải sau 1975, chúng tôi
hướng đến việc ch ra những biểu hiện của thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải
sau 1975 ở các truyện ngắn của ông.
4.2. h m vi nghiên c u
Nguyễn Khải có toàn bộ 5 tập truyện ngắn, nhưng do thời gian có hạn,
và những khó khăn trong việc tìm kiếm văn bản tác phẩm chúng tôi ch có thể
tập trung nghiên cứu thi pháp của truyện ngắn Nguyễn Khải qua các tác phẩm
sau:
Thứ nhất, các truyện ngắn sau 1975 trong
uyển tập truyện ngắn
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài
đ u Kết luận và ài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương.
12
Chương 1 Những vấn đề chung về thi pháp và thể loại truyện ngắn
trong sáng tác của Nguyễn Khải.
Chương 2 Kết cấu và quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện
ngắn Nguyễn Khải sau 1975.
Chương 3 Không gian, thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ, giọng điệu
trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975.
13
Ch ơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CH NG VỀ THI HÁ
VÀ THỂ OẠI TR
N NG N TRONG ÁNG TÁC CỦ NG
N
H I
1.1. Những vấn đ chung v thi pháp
ng thức ph
ng tiện
ng nghệ thuật trong sáng tác văn
c đ ch của thi pháp học là chia tách và hệ thống h a các văn ản
14
nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật ấn t
ng th m mỹ
và chi u s u phản ánh của sáng tạo nghệ thuật”. [ 29, tr.304]
ừ điển u từ- phong cách- thi pháp học khẳng định “thi pháp học là
khoa học v thi pháp t ng kết khoa học đại c
ng v thi pháp Ngoài ra c n
c thi pháp học l ch s nghi n cứu l ch s phát triển và hình thành của các thi
pháp; thi pháp học so sánh nghi n cứu sự khác nhau gi a đặc tr ng nghệ
thuật ằng ph
ng pháp so sánh . [9, tr.212]
Sự ra đời của thi pháp học đã đ t ra nhiều điều thú vị trong việc nghiên
cứu tác phẩm văn chương.
M.B.Khrapch nko quan niệm “
ng . [ 6 ]
V.Vinogradop cho rằng “ hi pháp học là khoa học v các hình thức
các ạng thức các ph
ng tiện ph
ng thức t chức tác ph m của sáng tác
ng n từ v các kiểu cấu trúc và các thể loại tác ph m văn học N muốn ao
quát kh ng chỉ là các hiện t
ng của ng n từ th mà c n là cả các kh a cạnh
khác nhau nhất của tác ph m văn học và sáng tạo
n gian . [ 32, tr.5]
Trần Đình Sử là một trong những người nghiên cứu nhiều về thi pháp,
trong Thi pháp văn học trung đại iệt Nam ông đã giải thích “Thi pháp là
một hệ thống các nguy n tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của một hệ
thống nghệ thuật với các đặc sắc của n
hi pháp kh ng phải là nguy n tắc
15
c tr ớc nằm
n trong của hình thức nghệ thuật … nhiệm
v của thi pháp học ch nh là nghi n cứu cái l của hình thức vậy … hình
thức mang t nh quan niệm này o cuộc sống và thế giới quan quy đ nh nh ng
n đã ng ng kết thành cái nhìn thành ph
ng thức t
uy của nhà nghệ s
… cái l của hình thức nghệ thuật chỉ ộc lộ rõ rệt trong hình thức của n
mà tr ớc hết là iểu hiện
t nh lặp lại của các yếu tố tác ph m . [28, tr.12]
Trong D n luận thi pháp học, Trần Đình Sử đã đưa ra khái niệm “Thi
pháp học là ộ m n khoa học c nhiệm v đặc thù khi ph
ình ph n t ch tác
ph m văn học n h ớng tới khám phá cấu trúc iểu hiện nghệ thuật tr n các
cấp độ Khi nghi n cứu l ch s văn học n h ớng tới sự khám phá tiến h a
của các ph
ng thức ph
ng tiện và hình thức nghệ thuật Khi nghi n cứu l
luận của văn học n tập trung khám phá các cấu trúc iểu hiện ản chất
i…
iểm uất
phát của thi pháp là coi tác ph m văn học là văn ản ng n từ Nếu mỹ học là
l luận các nghệ thuật thì thi pháp là mỹ học của văn học là l luận của văn
học
ậy thi pháp gắn chặt với ng n ng học và mỹ học
hi pháp hay l luận
văn học th o đ nh ngh a của acga arga tr ớc hết nghi n cứu các ph
ng
thức nghệ thuật mi u tả các đặc tr ng thể loại văn học từ đ mới tìm t i các
t ng lớp ngh a n giấu của tác ph m”. [8, tr.5]
Trong Ph n t ch tác ph m văn học từ g c độ thi pháp, tác giả Nguyễn
Thị Dư Khánh cho rằng
h o chúng t i c thể ác lập của nội ung của
khái niệm thi pháp từ ch nh nội ung ng ngh a của n
h
thi”
đ y
n…”. [11, tr.7]
Từ đó tác giả đưa ra khái niệm “ hi pháp chủ yếu là n i đến quá trình
sáng tạo nh ng hình thức nghệ thuật của tác ph m là n i đến nh ng ph
thức ph
tr.10]
ng
ng tiện nh ng thao tác nghệ thuật của nhà nghệ s ng n từ . [11,
17
Như vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về thi pháp học. Tuy nhiên, khi
nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải, chúng tôi hiểu th o khái niệm
của Trần Đình Sử để dựa trên cơ sở đó tìm hiểu về thi pháp truyện ngắn
Nguyễn Khải.
1.1.2. Những yếu tố quan trọng của thi há
Thi pháp không phải là ph p cộng đơn giản giữa những yếu tố riêng lẻ,
thi pháp là một hệ thống với những yếu tố mang tính siêu tổng cộng. Những
yếu tố hình thức ấy có quan hệ ch t chẽ với nhau để cùng nhau tạo nên một
thế giới nghệ thuật như một ch nh thể. Thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn
học là phản ánh của thế giới thực tại vốn đã là một hệ thống bao gồm con
người, không gian, thời gian, sự kiện, ngôn ngữ
Nhưng tính hệ thống của
thế giới nghệ thuật c n được tăng bởi quan niệm chủ quan của nhà văn nhìn
nhận lại, tổ chức lại hình ảnh của thực tại. Giữ vai tr trung tâm của hệ thống
ng
c ộc lộ trọn vẹn hình thức nghệ
i ùng để cảm th cuộc đ i
mới ch nh là các hình thức mà con
hi pháp học c nhiệm v phát hiện các
nguy n tắc tạo ựng n n các hình thức tinh th n của sáng tác văn học . [28,
tr.16]
18
Th o Lê Ngọc Trà xác định trong tác phẩm văn chương các lớp yếu tố
cần nghiên cứu “Lớp yếu tố thứ nhất là ng n từ nghệ thuật , “Lớp thứ hai là
thế giới nghệ thuật , “Lớp thứ a là kết cấu tác ph m . [ 35 ]
Trong D n luận thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng “ hi pháp học
nhằm khám phá cái nhìn hình thức nghệ thuật thi pháp học tìm vào
hế giới
n trong” của tác ph m nghệ thuật c nh ng quy luật tác động qua lại ri ng
của n
c các k ch th ớc ri ng c
ngh a ri ng nh là một hệ thống”
m hình thế giới làm c s cho t chức tác ph m và mi u tả hình t
. [32, tr.32]
Trong Ph n t ch tác ph m văn học từ g c độ thi pháp, tác giả Nguyễn
Thị Dư Khánh cho rằng các yếu tố quan trọng của thi pháp là yếu tố giọng
điệu, vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật, kết cấu.
Thi pháp học không lần tìm nội dung ý ngh a nhân sinh của tác phẩm
văn học. Nó tìm nguyên nhân sâu xa của ý ngh a khám phá giá trị của cái hình
thức bên trong, phát hiện ra quy luật và nguyên tắc miêu tả đã lần tìm ra mô
hình thế giới, làm cơ sở cho tổ chức tác phẩm và miêu tả hình tượng, mô hình
đó bao gồm thứ nhất thế giới được miêu tả như con người, không gian, thời
gian, đồ vật, màu sắc, thiên nhiên chi tiết, xung đột,
thứ hai thế giới miêu tả
và thế giới cái miêu tả bao gồm nhân vật, người kể chuyện, nhân vật trữ tình,
19
lời của nhân vật, lời trần thuật, giọng điệu, hình tượng tác giả. Tất cả các yếu
tố trên là các yếu tố quan trọng của thi pháp học.
Yếu tố đầu tiên chúng tôi muốn nêu ra đó là yếu tố thời gian nghệ
thuật. Thời gian nghệ thuật thể hiện ý thức độc đáo và sâu sắc của tác giả văn
học. Khi xây dựng tác phẩm, nhà văn luôn có ý thức xây dựng thời gian như
một phương tiện, một công cụ phục vụ đắc lực cho ý đồ triển khai thế giới
nghệ thuật của mình. Chính vì thế, thời gian nghệ thuật là một trong những
yếu tố quan trọng của thi pháp học.
Trong D n luật thi pháp học, Trần Đình Sử nhấn mạnh “ h i gian
nghệ thuật là một trong nh ng phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học
i vì n thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của nghệ s ” Nghệ s c thể
chọn điểm ắt đ u và kết thúc c thể kể nhanh hay chậm c thể kể u i hay
Một yếu tố khác cũng không k m phần quan trọng của thi pháp học đó
là không gian nghệ thuật.
Theo ừ điển huật ng văn học “Kh ng gian nghệ thuật gắn với cảm
th v kh ng gian n n cảm t nh chủ quan”
độc lập t
ng đối kh ng đ
Kh ng gian nghệ thuật c t nh
c qui vào kh ng gian đ a l ”
Kh ng gian nghệ
thuật chẳng nh ng cho thấy cấu trúc nội tại của tác ph m văn học các ngôn
ng t
ng tr ng mà c n thấy quan niệm v thế giới chi u s u cảm th
cảm
th của tác giả hay một giai đoạn văn học N cung cấp c s khách quan để
khám phá t nh độc đáo c ng nh nghi n cứu loại hình của các hình t
ng
nghệ thuật . [29, tr.160-161]
Trong hi pháp th
ố H u, phần không gian nghệ thuật, Trần Đình Sử
phẩm) nhưng mang những giá trị mới và ch khi nào tác giả thổi được vào
không gian trong tác phẩm của mình một “hồn sống , một ý ngh a thẩm mỹ
thì đó mới thật sự trở thành không gian nghệ thuật. Chẳng hạn như hai câu thơ
sau:
Nắng uống tr i l n s u ch t v t
Sông ài tr i rộng ến c li u
(Tràng giang – Huy Cận)
Đây ch là một không gian ảo mộng cho thấy niềm khát khao giao cảm
với con người. Giữa không gian vắng l ng với cảnh “s ng ài tr i rộng , con
người càng cảm thấy nhỏ b cô đơn. Nỗi buồn ấy sâu thăm thẳm th o chiều
kích to lớn của không gian.
Không gian căn ch i bên bờ sông, nơi Chí Phèo và Thị Nở g p gỡ và
ăn nằm với nhau. Tuy không gian ấy không lãng mạn, ước lệ nhưng nó mang
bên trong là cả một ý ngh a to lớn đối với Chí, đây là nơi tràn đầy yêu thương
giữa hai con người xa lạ, nhưng có những cảm xúc mãnh liệt, đồng cảm với
nhau. Trong căn ch i này Chí đã ăn bát cháo hành của Thị Nở, từ đó đã đánh
thức bản chất lương thiện của Chí sau gần hai mươi năm đi tù và cũng chính
không gian này đã mở ra cánh cửa đi đến lương thiện của Chí.
Một yếu tố khác tiếp th o không k m phần quan trọng mà th o tác giả
Nguyễn Thị Dư Khánh cho rằng “
lẽ giọng điệu là một trong nh ng yếu tố
nghệ thuật c
ngh a nhất trong thi pháp c ng nh phong cách nhà văn
nh ng lại kh