Đặc điểm thi pháp truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận Văn học; Mã số: 60.22.32
Người hướng dẫn: PGS. TS. Lý Hoài Thu
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Trình bày quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Quang Sáng.
Nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang
Sáng. Làm rõ kết cấu - giọng điệu và ngôn ngữ để thấy rõ phong cách của nhà văn
Nguyễn Quang Sáng
Keywords: Văn học Việt Nam; Lý luận văn học; Truyện ngắn
Content
Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Quang Sáng đến với văn chương từ những năm 60 của thế kỉ trước trong mối
“cơ duyên” được xe trên chiến trường ác liệt. Suốt 50 năm hành trình đi tìm kiếm chân lý
nghệ thuật, Nguyễn Quang Sáng đã từng thử sức trên nhiều lĩnh vực: tiểu thuyết, truyện vừa,
kí, kịch bản phim…và cũng đạt được những thành công nhất định. Nhưng thế mạnh thực sự
của ông lại thuộc về thể loại truyện ngắn bởi cứ nhắc đến Nguyễn Quang Sáng là độc giả lại
nhớ đến một cây bút viết truyện ngắn tài năng.
Kể từ tác phẩm đầu tay Con chim vàng (1958) đến nay, Nguyễn Quang Sáng đã cho ra
mắt bạn đọc hơn 100 truyện ngắn gắn liền với hàng loạt các giải thưởng uy tín: giải thưởng
cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất (1959) với tác phẩm Ông Năm Hạng, giải thưởng cuộc
thi truyện ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội (1959) cho tác phẩm Tư Quắn, giải thưởng Hội
với nền văn học hiện đại Việt Nam.
II. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Quang Sáng bắt đầu cầm bút từ 1952 hồi ở U Minh đánh Pháp. Kể từ đó đến nay,
hơn 70 năm tuổi đời, 50 năm tuổi nghề, Nguyễn Quang Sáng vẫn giữ được sức sáng tạo và đổi
mới dồi dào. Sáng tác của ông, bởi thế, cũng thu hút được sự chú ý của không ít nhà phê bình,
nghiên cứu. Các bài viết thường được triển khai theo hai hướng: hoặc khái quát đặc trưng truyện
ngắn Nguyễn Quang Sáng qua tổng kết hàng loạt tác phẩm, hoặc đi sâu vào tìm hiểu một truyện
ngắn tiêu biểu của ông. ở hướng tiếp cận nào thì các công trình đi trước đều đưa ra những gợi ý
thú vị cho người thực hiện luận văn này.
Năm 1969, tác giả Nguyễn Nghiệp đã có bài viết Đất nước và con người miền Nam
trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Sáng đăng trên Tạp chí văn học số 1. Bài viết là những
3
nhận xét khái quát nhất về tập truyện ngắn Chiếc lược ngà. Nguyễn Nghiệp chủ yếu thiên về
tóm tắt lại nội dung các câu chuyện và bước đầu đã đưa ra một số phát hiện về đặc điểm
truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng: “Lối kể chuyện tưởng chừng như rất thoải mái, tuỳ hứng,
nhưng thực ra đã thông qua bàn tay rất chủ động của tác giả (…) Quá khứ với hiện tại xen lẫn
nhau, gắn bó với nhau theo lôgic bên trong của tính cách (…) Những chi tiết đều là chọn lọc
và đã được khai thác đúng mức, hành động bên ngoài nói lên được tâm trạng bên trong” [68;
tr.26]. Bài viết này có ý nghĩa như là một trong những bài phê bình đầu tiên về truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng.
Năm 1975, trên Tạp chí Văn học số 2, tác giả Vân Thanh đã có một bản tổng kết “dày
dặn” và toàn diện hơn về Truyện ngắn Nguyễn Sáng. Nhìn lại chặng đường sáng tác của
Nguyễn Quang Sáng từ 1958- 1975, Vân Thanh đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật làm nên
phong cách truyện ngắn của ông: “Nói được một cái gì thật kì diệu trong những điều tưởng
chừng rất bình thường của cuộc sống, đó là đóng góp đáng chú ý của Nguyễn Sáng (…)
Nhưng làm quen với Nguyễn Sáng, người đọc được tiếp xúc nhiều hơn với những câu chuyện
được xây dựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, lắm khi gay cấn, căng thẳng đầy tính
kịch” [75; tr.17]. Vân Thanh còn đưa ra nhiều nhận định sắc sảo, chính xác về chi tiết, nhân
vật, tính kịch trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng như: “Truyện Nguyễn Sáng giàu chi tiết
(trước và sau 1975), đồng thời tìm ra được mối tương quan phát triển giữa hai chặng đường
này: “Khi nghiên cứu bước đường sáng tác của một nhà văn ta thường thấy có hiện tượng: ở
thời điểm nào đó với những ảnh hưởng và biến đổi nào đó, nhà văn viết khác trước, và cái sự
khác này tạo ra một bước ngoặt. Nhưng có nhà văn, dù cố tình “rẽ ngoặt’ thì vẫn không được,
anh ta phải trở lại chính mình mới được công nhận. Nguyễn Quang Sáng ở vào trường hợp
thứ hai”. Theo Bùi Việt Thắng, truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trước 1975 “ròng ròng
sự sống, một sự sống đa dạng cung bậc, màu sắc, có tiếng khóc và tiếng cười, có khổ đau và
hi vọng” nhưng sau 1975 “khi ông cố đổi giọng cho có vẻ hợp thời thì người đọc thấy chán-
đó là khi đọc Tôi thích làm vua, Thế võ, Nhân vật ấy không được chết…” [79; tr.3]. Chỉ đến
loạt truyện Con mèo của Foujita, Người đàn bà đức hạnh, Người dì tên Đợi… thì Nguyễn
Quang Sáng mới “phát sáng trở lại”. Nhận định này cũng đáng để chúng ta suy nghĩ.
Tuy khiêm tốn tự nhận “những dòng tôi viết chỉ là những cảm nhận sơ lược của một độc
giả viết cho một nhà văn nổi tiếng” nhưng Phan Đắc Lập cũng đã góp phần không nhỏ vào việc
định hình rõ hơn phong cách Nguyễn Quang Sáng. Một mặt, tác giả vẫn đồng tình với đa số nhà
phê bình khác khi thừa nhận lối kể chuyện có duyên, giọng văn dí dỏm, hồn cốt Nam Bộ, sức
hấp dẫn của kịch tính và chi tiết đã tạo nên “chất văn” Nguyễn Sáng. Mặt khác, Phan Đắc Lập
như muốn “bàn luận” với các ý kiến cho rằng các tác phẩm sau 1975 của Nguyễn Quang Sáng
khiến cho ông bớt “phát sáng” (như ý kiến của Bùi Việt Thắng). Ông viết: “Có người đã cho
hàng loạt các tác phẩm này của anh là những thử nghiệm bất thành, vì nó là những chuyện luận
đề, giống như văn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn đầu thế kỉ hai mươi. Một số bạn bè độc
giả, trong đó có tôi lại nghĩ khác. Chúng tôi rất thích những Tôi thích làm vua, Thế võ, Con
khướu sổ lồng…Tôi cho rằng, cùng với truyện ngắn xuất sắc của anh thời kháng chiến như
Chiếc lược ngà, Chị xã đội trưởng…, một số truyện ngắn có thể xếp vào hàng những truyện
5
ngắn hay nhất của văn học Việt Nam từ 1945 trở lại đây” [82; tr.106]. Bằng những dẫn chứng,
phân tích sinh động cả về khoa học lẫn thực tế đời sống, Phan Đắc Lập đã cho thấy nhận xét
trên không hoàn toàn là cảm tính. Bởi lẽ, dù trong những tác phẩm viết về chiến tranh hay
những trang viết sau 1975, thì Nguyễn Quang Sáng vẫn giữ được giọng văn uy- mua, các chi
tiết đắt giá cùng những tình huống giàu kịch tính (Bài học tuổi thơ, Người bạn lính,…). Chính
6
truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng (Phạm Minh Phú, 1993), Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng (Vũ Thị Kim Ngân, 2007). Tiếc rằng, các công trình
này hoặc chọn hướng tiếp cận xã hội học hoặc mới chỉ dừng lại ở mức khởi điểm về mặt lý
luận thi pháp.
Như vậy, đề tài Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng vẫn còn để ngỏ
nhiều hướng nghiên cứu mới cho người đi sau. Các bài nghiên cứu trên sẽ là những gợi mở
cho chúng tôi tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng một cách hệ thống dưới ánh sáng của
thi pháp học.
III. Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
1. Tiếp nối con đường còn để ngỏ của những người đi trước, chúng tôi trong luận văn
này lấy “thi pháp truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng” làm đối tượng nghiên cứu. Luận văn sẽ
đi vào nghiên cứu những yếu tố hình thức mang tính nội dung, mang tính quan niệm của
truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng để có được cái nhìn hệ thống về đặc điểm truyện ngắn của
ông, qua đó khẳng định phong cách nhà văn.
Để làm được điều đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Nguyễn
Quang Sáng ở những phương diện sau:
- Quan niệm nghệ thuật về con người
- Không gian nghệ thuật và Thời gian nghệ thuật
- Kết cấu - Giọng điệu và Ngôn ngữ
2. Nguyễn Quang Sáng là cây bút viết truyện ngắn rất đều tay từ những năm 60
của thế kỉ XX cho đến nay. Bởi vậy, để có được cái nhìn hệ thống về sáng tác của ông,
chúng tôi sẽ nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ở cả hai thời kì (trước và sau
1975), tập trung vào 5 tập truyện chính:
- Con ma da- Chiếc lược ngà
- Người bạn lính
- Nó và tôi – Quán rượu người câm
- Dân chơi- Tôi thích làm vua
- Cánh đồng hoang và các truyện chuyển thể qua phim
IV. Phương pháp nghiên cứu
5. Lê Tiến Dũng, Con mèo của Foujita, những suy tư về cuộc đời,
10/10/1993.
6. Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1996), Địa chí Đồng Tháp Mười: Công trình kỉ niệm 300
năm Nam Bộ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2007), Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử- thi pháp- chân dung,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX:
Những vấn đề lịch sử và lý luận, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8
9. Anh Đức (2002), Truyện ngắn và bút kí, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
10. Hà Minh Đức (2004), Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
11. Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ (1997), Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội nhà văn,
Hà Nội.
12. Hà Minh Đức (chủ biên) (1993), Lí luận văn học, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
13. Phạm Văn Đồng (1973), Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ,
NXB Văn học, Hà Nội.
14. Bảo Định Giang, Hà Huy Giáp, Hoàng Trung Thông (1972),
Mười năm văn học chống Mỹ, NXB Giải phóng, Hà Nội.
15. Trần Vệ Giang, Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Đậm sâu một phong cách Nam Bộ,
15/1/2004.
16. Hà Huy Giáp (1970), Hiện thực cách mạng và văn học nghệ thuật, NXB Văn học,
Hà Nội.
17. Trần Thanh Giao, Chi tiết trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng,
28/1/2009.
18. Đoàn Giỏi (2004), Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, Hà Nội.
19. Nguyễn Thị Thu Hà (1976), Truyện Nguyễn Sáng, Khoá luận
tốt nghiệp, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội.
Hồ Chí Minh.
35. Lê Khánh, Nguyễn Đắc Tường, Nguyễn Quang Sáng (1984), Truyện ngắn Đồng Tháp
Mười, NXB Đồng Tháp, Đồng Tháp.
36. Thạch Lam (1999), Truyện ngắn chọn lọc, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
37. Phạm Hồng Lan (2009), Không gian và thời gian trong tiểu thuyết hiện thực 1930-
1945, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
38. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội.
39. Phong Lê (1972), Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
40. Phong Lê (2005), Phác thảo văn học giải phóng miền Nam 1960- 1975, Nghiên cứu văn
học, (số 5), tr.67-71.
41. Lê Lựu (2002), Thời xa vắng, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
42. Trần Hiếu Minh (1965), Cửu Long cuộn sóng, NXB Văn học, Hà Nội.
43. Sương Nguyệt Minh, Viết về người lính thời bình- sự thách đố các nhà văn,
27/3/2009.
44. Sơn Nam (1996), Hương rừng Cà Mau, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ
Chí Minh.
45. Vũ Thị Kim Ngân (2007), Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
10
Hà Nội, Hà Nội.
46. Lã Nguyên (1995), Diện mạo văn học Việt Nam 1945- 1975 nhìn từ giác độ thi
pháp, Tác phẩm mới, (số 8), tr. 15-19.
47. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí
Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
48. Hoàng Phê (chủ biên) (2001), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
49. Phạm Minh Phú (1993), Một số đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng,
Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội.
50. Nguyễn Văn Quân, Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Tôi là người ham vui,
67. Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Đoàn Bạch Biền (2010),
Chung một con đường: Tuyển tập văn - thơ - chân dung nghệ sĩ đồng hành với tuổi
trẻ, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
68. Phạm Văn Sĩ, Diệp Minh Tuyền, Chu Nga, Vũ Tiến Quỳnh (1998), Anh Đức-
Nguyễn Quang Sáng- Nguyên Ngọc- Đoàn Giỏi, NXB
Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
69. Phạm Văn Sĩ (1976), Văn học giải phóng miền Nam 1954- 1970, NXB Đại học và
trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
70. Hồ Huy Sơn, Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Vẫn miệt mài lao động,
15/7/2010.
71. Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Quang Sáng - Nhà văn chịu chơi,
28/12/2006
72. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
73. Trần Đình Sử (2004), Tự sự học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
74. Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Tú (2001), Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn
Công Hoan, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
75. Vân Thanh (1975), Truyện ngắn Nguyễn Sáng, Văn học, (số 2),
tr. 40-45.
76. Ngô Thảo (1994), Chiến trường sống và viết, NXB Hội nhà văn,
Hà Nội.
77. Lê Văn Thảo (1985), Đêm Tháp Mười, NXB Đồng Tháp, Đồng Tháp.
78. Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thị Năm Hoàng (2006), Anh Đức về tác gia và tác phẩm,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
79. Bùi Việt Thắng (1996), Lời giới thiệu in trong Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng, NXB
Văn học, Hà Nội.
80. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn: Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
81. Nguyễn Thi (1996), Truyện ngắn chọn lọc, NXB Hội nhà văn,
Hà Nội.