ĐẶC điểm THI PHÁP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 - Pdf 30

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
Người viết: TS. Đặng Thị Mây
http://caodanghaiduong.edu.vn/index.php/vi/don-vi-truc-thuoc/Khoa-Xa-hoi/DAC-
DIEM-THI-PHAP-TRUYEN-NGAN-VIET-NAM-SAU-1975-82/
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể loại văn học là một cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và giao
tiếp nghệ thuật; một khi đã hình thành thì sẽ tạo nên một hệ thống các phép tắc,
chuẩn mực hình thức nhất định; cũng như những đòi hỏi đặc thù về các phương
diện ngôn từ, kết cấu, dung lượng, nhân vật
Qua quá trình vận động và phát triển, thể loại truyện ngắn, tuy có những khác biệt,
biến đổi nhất định về phương thức tự sự, nhưng các yếu tố tạo thành chất "truyện"
và những đặc điểm chung về hình thức thể loại vẫn là những yếu tố định hình
không dễ thay đổi.
Kết hợp và thống nhất những mặt đối lập trong bản thân thể loại - giữa tính chất
định hình, bất biến với sự linh hoạt, biến đổi; giữa yếu tố truyền thống với yếu tố
hiện đại là quy luật vận động, phát triển tất yếu của thể loại truyện ngắn nói chung,
của thi pháp truyện ngắn Việt Nam sau 1975 nói riêng.
2. NỘI DUNG
2.1. Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 - sự kết hợp giữa truyền thống và
hiện đại, ổn định và biến đổi trong nội dung và hình thức thể loại
2.1.1. Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là sự kế thừa truyền thống để bảo
lưu "mã di truyền" của hình thức thể loại
Tính ổn định của thể loại gắn liền với tính kế thừa lịch sử. Nói như M. Bakhtin:
"Xét về thực chất, thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết
sức bền vững trong sự phát triển văn học. Ở thể loại bao giờ cũng bảo lưu những
yếu tố cơ sở bất tử. Thật ra, cái cơ sở này được bảo lưu chỉ nhờ vào sự đổi mới
thường xuyên, có thể nói là nhờ được hiện đại hóa. Thể loại bao giờ cũng vừa là nó
vừa không phải là nó, nó bao giờ cũng đồng thời vừa cũ kĩ vừa mới mẻ ( ). Thể
loại là kẻ đại diện của kí ức sáng tạo trong quá trình phát triển của văn học"
[8.101]. Tính ổn định của thể loại không phải là bảo thủ, mà gắn liền với sự đổi
mới, vì nếu nhìn thể loại theo con mắt lịch đại sẽ thấy rõ thể loại không ngừng vận

một cấu trúc tự sự mới, trong đó câu chuyện được kể lại chủ yếu để gợi ra ấn tượng
về một thế giới đang tồn tại trong tâm tưởng của con người. Cốt truyện thường ít sự
kiện hành động. Sự phát triển của tác phẩm thường dựa vào một tình huống trữ tình
giàu sức gợi để bày tỏ, bộc lộ thế giới tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của nhân vật.
Nhân vật thường không được miêu tả cụ thể, sắc nét ở ngoại hình và hành động, ít
có những biến đổi lớn về cuộc đời, tính cách mà chủ yếu là những diễn biến tinh tế
của các trạng thái tâm lý, tình cảm, tư tưởng bên trong. Truyện ngắn trữ tình
thường không có cốt truyện; cho nên tiếp cận, đọc hiểu truyện ngắn trữ tình không
nhất thiết phải qua cách tiếp cận cốt truyện truyền thống mà nên đi vào khám phá
thế giới tâm trạng, cảm xúc và cảm giác của nhân vật. Khi viết về con người trong
các mối quan hệ, các nhà văn ít chạy theo sự kiện mà chủ yếu khám phá vấn đề
thông qua thế giới tâm hồn, đặc biệt qua sự trải nghiệm về tinh thần của nhân vật.
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần đã vượt ra ngoài
phương thức miêu tả vừa thực vừa hư, vừa trần thế vừa ảo mộng, chuyện hiện tại,
chuyện dĩ vãng nhằm tạo dựng cuộc sống ở nhiều chiều, khai thác chiều sâu những
góc uẩn khúc trong thế giới bên trong của con người. Nhiều truyện ngắn trữ tình
được viết bằng năng lực biểu cảm cuộc sống qua thế giới tâm hồn của nhân vật
"tôi". Phương thức thể hiện này không chỉ làm cho hiện thực được phản ánh có
chiều sâu mà còn giàu sức khái quát, sức ám ảnh lớn.
Loại "truyện ngắn - tiểu thuyết hóa" là một loại truyện tổng hợp loại thể, ở đó các
thủ pháp kịch và trữ tình vẫn được sử dụng nhưng không nhằm diễn tả hành động,
hay trạng thái cảm xúc mà trước hết là để phân tích, lý giải đời sống qua mối quan
hệ của con người với môi trường, hoàn cảnh, tính cách. Với kiểu truyện ngắn này,
tình huống truyện phổ biến là tình huống đời thường và tình huống luận đề đánh
dấu sự quay trở lại với cuộc sống đời thường của văn học, và từ tình huống ấy,
nhân vật cũng như người đọc sẽ chiêm nghiệm ra những điều sâu sắc trong cuộc
sống. Trong truyện, chức năng phân tích và giải thích trở thành nguyên tắc tự sự
kiểu mới. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn thường tập trung vào việc phân tích, giải
thích về tính cách, số phận một cách biện chứng trong quan hệ với hoàn cảnh nên
nhân vật thường có chiều sâu và sức khái quát lớn.

chiều có phần cứng nhắc; thì đến thế kỷ 15 - 17, Lê Thánh Tông (Thánh Tông di
thảo), Nguyễn Dữ (Truyền kỳ mạn lục) đã đưa truyện trung đại thoát khỏi mối ràng
buộc chặt chẽ của văn học dân gian và văn học chức năng. Đồng thời với việc hoàn
thành quá trình văn học hóa truyện dân gian theo ba xu hướng chính: dân gian hóa
truyện lịch sử, lịch sử hóa truyện dân gian và sáng tạo truyện truyền kỳ - thế tục,
các tác giả đã đem đến một cái nhìn "phản truyền thống" về con người. Với tài
năng, bản lĩnh và trí tưởng tượng phong phú, Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã
"làm một hành trình ngược lại" với khuôn mẫu truyền thống: trần tục hóa thánh
thần. Con người không còn là những khung giá trị khô cứng. Mô hình con người lí
tưởng - con người thánh nhân, con người "văn hóa hóa, xã hội hóa triệt để", đoạn
tuyệt với bản năng, khắc kỷ, quay lưng với tiếng nói của thân xác bị xô lệch, bị
kéo ngược trở lại đến gần những giá trị mới - trở lại với tự nhiên.
Từ đầu thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19, truyện ngắn truyền kì không tìm được chỗ
đứng trong một giai đoạn lịch sử đầy bão táp và biến động, thay vào đó là sự cách
tân truyền kì trên quan điểm hiện thực, hình thành một dạng thức mới của truyện
ngắn trung đại - truyện về người thật việc thật (kiến văn) và truyện ngụ ngôn -
truyền kì. Trên chặng đường phát triển tiếp theo của mình, truyện ngắn trung đại
càng đến gần với chủ nghĩa hiện thực; kéo theo đó, các quan niệm giá trị của văn
hóa truyền thống không ngừng bị giải thể, biến đổi đồng thời với quá trình hình
thành các quan niệm giá trị mới do giao lưu văn hóa với phương Tây.
Cùng với sự chuyển biến của nền văn học Việt Nam từ phạm trù trung đại sang
hiện đại là sự thay thế từng bước văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm bằng bộ
phận văn học viết bằng chữ quốc ngữ. Những cây bút tiên phong trong việc tạo
dựng thể loại truyện ngắn quốc ngữ hiện đại là Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn
mặc dù vẫn quan niệm thiên chức của nhà văn là viết văn để "treo gương luân lí",
bảo vệ đạo đức truyền thống và nhân vật trung tâm là con người - đạo đức, bổn
phận, nhưng đã bước đầu rời bỏ sự quy phạm trong ý thức của một nhà nho phong
kiến về sự cần thiết của một thể loại mới để phản ánh đời sống, đáp ứng nhu cầu
thẩm mỹ và thị hiếu mới của công chúng đầu thế kỷ 20.
Từ 1930 đến 1945, truyện ngắn Việt Nam có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng

huyền thoại hóa. Huyền thoại hóa là phương thức nghệ thuật độc đáo: cái thực được
diễn đạt qua cái ảo, cái bình thường được thể hiện bằng cái kì lạ, phi thường mà
qua đó nhà văn bộc lộ một quan niệm sâu sắc về con người và đời sống. Nó được
tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được thể hiện bằng các yếu tố hoang đường, siêu
nhiên, kì lạ. Nó là sự phản ứng trước những trật tự gò bó, cũ kĩ, làm lộ ra khả năng
hoài nghi đối với những gì mà lí trí thuần túy kiểm soát được. Nói như Roger
Caillois: "mọi cái kì ảo đều là một sự vi phạm trật tự quen thuộc, một sự đảo lộn
của cái không thể tiếp nhận được trong lòng những quy luật bất biến của đời
thường", nó phản ánh "một sự đụng chạm, một chỗ nứt rạn, một sự tràn ngập đột
ngột gần như không chịu đựng nổi trong thế giới thực tại" [16]. Trong truyện ngắn
trung đại Việt Nam, cái kỳ được sử dụng như một thủ pháp để xây dựng những
biểu tượng nghệ thuật mang tính ám chỉ hai mặt; những nhân vật đội lốt hay biến
hình (người - hồn ma - vật báo thù - kiếp luân hồi) là tự tìm đến một "vỏ bọc an
toàn" che giấu sự phản ứng trước đời sống thực tại, để thể hiện khát vọng hôn nhân,
yêu đương tự do, khát vọng công danh phú quý mà cuộc đời thực không cho phép
họ thực hiện (Duyên lạ xứ hoa- Lê Thánh Tông, Chuyện cây gạo, Chuyện nghiệp
oan của Đào Thị - Nguyễn Dữ).
Ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, truyện ngắn hiện đại cũng có xu
hướng gia tăng chất huyền ảo - điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật vận động
của thể loại. Vì với tư cách là một thể loại văn học năng động, truyện ngắn vừa ổn
định, vừa biến đổi, một mặt nó lưu giữ những yếu tố hạt nhân, "những mã di
truyền" để bảo tồn trạng thái ổn định tương đối của loại hình tự sự cỡ nhỏ, mặt
khác, nó luôn có xu hướng tự thay đổi tạo nên các biến thể phong phú phù hợp với
yêu cầu của thời đại và công chúng văn học mới. Chính mầu sắc huyền thoại đậm
đặc, sự gia tăng của chất giai thoại trong quan hệ chặt chẽ với chất ngụ ngôn của
truyện ngắn hiện đại là phương tiện hỗ trợ cho người đọc đi sâu vào tác phẩm, vượt
qua lớp "sương mù huyền thoại" để thức tỉnh mọi miền tâm thức. Yếu tố kì ảo trong
truyện ngắn hiện đại không mất đi vẻ hồn nhiên, tươi mát từ cội nguồn văn học dân
gian, cũng không bị thay thế bằng sự áp đặt lí tính chủ quan với mục đích giáo huấn
lộ liễu như nhiều truyện ngắn trung đại, mà là sản phẩm của ý thức sáng tạo tự giác

có của người đời. Hạnh của Nguyễn Minh Dậu là niềm tin vào quy luật nhân quả,
tin vào sự bất diệt và trường cửu của lương tri, của lòng tốt và vị tha. Hoa chanh
cuối vụ của Văn Như Cương cũng là câu chuyện ấm áp, ẩn chứa cái nhìn đầy nhân
hậu về cuộc đời, làm sáng lên niềm tin vào con người cả trong những hoàn cảnh
trắc trở, bất hạnh. Chi tiết kỳ ảo bàn tay đứa bé bị quắp bẩm sinh “từ từ nở ra như
năm cánh hoa. Giữa bàn tay trắng hồng là một nụ hoa chanh còn tươi nguyên và
cũng đang từ từ xòe cánh”. Bàn tay ấy đã cứu được người mẹ hồi sinh, là niềm tin
của tác giả vào “phép lạ thường ngày”, lẽ công bằng và sự bồi hoàn đền đáp của số
phận. Thông qua yếu tố kỳ ảo, các nhà văn bộc lộ quan niệm về một thế giới đa
chiều. Thế giới đa chiều là thế giới ở đó tồn tại song song những yếu tố khả giải -
bất khả giải, duy lý - phi lý, tất nhiên - ngẫu nhiên…
Một trong những phương tiện hữu hiệu làm cho tác phẩm mơ hồ, đa nghĩa, là "vận
dụng các mô típ thần thoại, các hình thức biến hoá hư ảo". Dấu ấn của thần thoại,
truyền thuyết, cổ tích trong cách xây dựng thế giới hình tượng của văn xuôi đương
đại, việc vận dụng các mô típ kì ảo cổ điển và hiện đại để khắc hoạ không - thời
gian nghệ thuật, chân dung nhân vật cũng như xây dựng cốt truyện,…có tác dụng
không nhỏ trong việc gia tăng biên độ của ý nghĩa, mở rộng liên tưởng của người
đọc.
Quan niệm sáng tác viết như một sự giải tỏa, như một nhu cầu đi tìm lời đáp
của nhiều nhà văn sau 1975 đã lý giải sự bất tín trước những trật tự ổn định, những
quan hệ những cái nhìn nghệ thuật bất biến Nếu huyền ảo cổ điển, yếu tố "ma",
yếu tố "kinh dị", hoang đường được sử dụng như một phương thức phản ánh hiện
thực (truyện truyền kỳ, chí dị) thì ở huyền ảo hiện đại, các yếu tố này bị giảm thiểu
đến mức tối đa; và thay bằng việc sử dụng trực tiếp yếu tố ảo, các nhà văn thường
nâng một sự việc, một hiện tượng gần gũi hơn với đời sống con người lên tầm
huyền thoại và xếp đặt một cách bình thường các yếu tố siêu nhiên bên cạnh các
yếu tố thực của đời sống; tức là đã xóa bỏ khoảng cách giữa cái dị biệt và cái bình
thường, và bình thường hóa những điều kỳ lạ.
- Sự gia tăng thủ pháp phân mảnh trong kỹ thuật tự sự - một cách phá vỡ cấu
trúc truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam.

nhau trong truyện ngắn hiện đại, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn.
Như vậy, cốt truyện truyện ngắn Việt Nam hiện đại không biến mất mà ở từng phần
cụ thể, mỗi người viết có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà
mục đích cuối cùng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả hơn.
Sự kết hợp hài hoà giữa chất tự sự và chất thơ vừa như một lực nam châm hút văn
xuôi về phía cuộc sống, là đôi cánh nâng chất liệu tự sự vút lên những tầm cao, làm
giàu thêm xúc cảm thẩm mĩ của người đọc hôm nay. Với văn xuôi có yếu tố kì ảo,
cảm quan về thế giới thể hiện trong tác phẩm được xem như là sự cảm nhận hồn
nhiên, như là thứ "ngữ pháp ánh trăng" (theo cách nói của T.Mann, để đối lập với
sự sáng rõ bên ngày, dưới ánh sáng mặt trời của tư duy duy lí nghiêm ngặt) đầy
chất thơ huyền thoại. Sự kết hợp giữa thơ và văn xuôi trong nhiều truyện ngắn sau
1975 khiến truyện trở về với dáng dấp thể tài biền văn của văn học trung đại. Nếu
chất văn xuôi góp phần thể hiện chất liệu tự sự, là sợi dây kết nối văn học với thực
tại thì thơ nâng chất liệu này lên hình thức tinh luyện, mở rộng biên độ tưởng tượng
ở độc giả.
“Xu hướng lắp ghép liên văn bản là một trong những yếu tố không thể không kể
đến của thi pháp cốt truyện truyện ngắn hiện đại. Truyện được viết một cách tự
nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống, được hình thành bằng cách
lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự
thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của tác giả, tạo ra "truyện trong
truyện". Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như không quan hệ, liên đới được
xích lại gần nhau. Cùng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển các điểm nhìn, là tư duy
nghệ thuật trong sự quy ước vừa chặt chẽ, vừa co giãn của cấu trúc thể loại”[77.
229].
Truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975 đa dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong
phú hơn trong hình thức diễn đạt, tự do hơn ở cách thức dựng truyện. Bên cạnh
những truyện ngắn tuân thủ cốt truyện truyền thống, tuân thủ kết cấu cốt truyện rõ
ràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc là những cốt truyện dựa trên thi pháp hiện
đại vận động theo dòng ý thức, giàu tâm trạng, là những cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép,
kết thúc mở Cốt truyện lỏng lẻo, khó tóm tắt, cấu trúc định hình bị phá vỡ, thay

Tóm lại, để luôn tự làm mới mình, truyện ngắn Việt Nam đã không ngừng
biến đổi qua các giai đoạn phát triển. Để tác phẩm không ngừng tạo sinh ý nghĩa,
làm cho khả năng tiếp nhận được mở ra nhiều hướng, nhiều chiều, để thấy được
"cái tuyệt vời ở bên kia âm hưởng", "cái thi vị ở phía bên kia từ ngữ", cái "biểu
tượng ngoài biểu tượng" , truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã sáng tạo ra một hiện
thực khác với hiện thực quen thuộc trong văn học. Có lúc, có khi là sự hóa giải mọi
cái là thiêng liêng, mực thước, ngôi thứ; biến sử thi thành thế sự, đời thường hóa
văn chương, trần tục hóa thánh thần; thậm chí đưa đến trạng thái hoài nghi một thứ
hiện thực hoàn toàn hợp lý
Nhưng sự tìm tòi của truyện ngắn hiện đại có trở thành quy luật phát triển
của thể loại không? Có thể khẳng định đổi mới kĩ thuật và thủ pháp tự sự là sự vận
động tất yếu để phát triển của bản thân thể loại. Sự biến đổi của thể loại để tự đổi
mới; sự giao thoa thể loại do bản chất của nghệ thuật là quá trình sáng tạo không
ngừng; do tác giả tự đổi mới, không lặp lại mình; đồng thời cũng do nhu cầu tiếp
nhận, thị hiếu người đọc đòi hỏi - họ không thích kiểu truyện ngắn cũ, được dẫn
dắt, biết trước
Như vậy, sự vận động, đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 không nằm
ngoài quy luật chung của sự vận động đổi mới của văn học dân tộc. Song điều khác
biệt của lớp nhà văn đi trước là sự đổi mới trên cơ sở kế thừa cái cũ, những giá trị
truyền thống (mà tiêu biểu là Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu) với lớp nhà văn
trưởng thành sau chiến tranh (Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng
Anh, Nguyễn Ngọc Tư ) đang tự tìm dấu ấn để phân biệt thế hệ mình: "Lớp sau,
cái trách nhiệm đem lại một bài học gì đó, một lý tưởng nào đó đến cho người đọc
coi bộ được xem nhẹ hơn lớp trước. Có lẽ họ thích nói bằng cách này hay cách
khác, gián tiếp hay trực tiếp cái tôi của mình hơn, thích chứng tỏ cá tính của mình
cho người đọc hơn là hướng dẫn người đọc" [3].
2.2. Phá vỡ sự đơn nhất về cấu trúc nghệ thuật để tạo nên tính dân chủ
và đối thoại củatruyện ngắn Việt Nam sau 1975
Nếu nói rằng văn xuôi trước năm 1975 nổi bật ở tính thống nhất một khuynh
hướng, thì điều ấy có nghĩa là: do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, do hoàn cảnh bất

chơi" với người đọc. Độc giả không bị áp đặt chân lí mà được quyền bình đẳng
cùng nhà văn trong hành trình tìm kiếm chân lí. Sự trần thuật từ nhiều điểm nhìn là
bằng chứng quan trọng về đổi mới quan niệm văn xuôi. Mỗi điểm nhìn là một ý
thức độc lập, qua đó, sự việc, con người sẽ được nhận thức từ nhiều phía. Gia tăng
điểm nhìn trần thuật, tác phẩm văn học bắt đầu hướng tới cấu trúc ngỏ hoặc đa
thanh. Sáng tác của những tác giả có cách tân nổi bật ở phương diện này nhìn
chung khước từ quan niệm "chủ đề rõ ràng", với tinh thần tin cậy, tôn trọng bạn
đọc.
Sự thay đổi trong quan hệ nội tại của các thành phần cốt truyện phá vỡ những
cấu trúc của cốt truyện cổ điển. Trong những truyện ngắn thời kỳ trước, chuỗi sự
kiện trong truyện được sắp xếp theo lôgic nhân quả và người ta có thể định vị được
sơ đồ cốt truyện. Cốt truyện của truyện ngắn hiện nay vẫn chú ý miêu tả tâm lý,
song sự diễn biến của cốt truyện thường không gắn với điều kiện của đời sống bên
ngoài mà xuất phát từ nội tâm, từ suy nghĩ của nhân vật. Vì vậy đường dây liên hệ
cho sự phát triển cốt truyện thường bị cắt đứt, gián đoạn. Thủ pháp báo trước bị
giảm hoặc triệt tiêu, tỉnh lược mọi dẫn dắt bên ngoài. Quan hệ giữa các thành phần
cấu trúc cốt truyện truyện ngắn hiện nay không định vị theo một quy luật nào.
Truyện ngắn hiện đại không cần kết thúc có hậu, kết cấu đầu cuối nhân quả (phá vỡ
quy luật nhân - quả) và nhà văn là người biết tổ chức, dẫn dắt người đọc suy nghĩ
về tác phẩm.
Nhiều truyện ngắn tạo ra những vùng lặng, sự "hẫng hụt" với những độc giả
quen lối đọc truyện ngắn đầy đủ thành phần rõ ràng và có kết thúc duy nhất. Giọt
máu, Sói trả thù, Con thú lớn nhất(Nguyễn Huy Thiệp), một số truyện ngắn của
Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu đòi hỏi người đọc phải thay
đổi kinh nghiệm một chiều về hiện thực. Cốt truyện của truyện ngắn cũng có thể
được nới rộng bằng cách ngắt quãng thành nhiều đoạn đánh số thứ tự hoặc dấu
ngắt. Truyện được triển khai thành những đoạn - những phân cảnh nhỏ khác nhau
làm xung đột của cốt truyện gián đoạn mờ nhạt, có khi đánh lạc hướng tiếp nhận
nhân - quả thông thường của người đọc. Ví dụ truyện Rượu cúc của Nguyễn Thị
Thu Huệ được tác giả phân cách thành 8 đoạn. Với sự lược bớt thành phần trong

dặc, xô lệch ngữ pháp truyền thống, tạo ngữ nghĩa mới bằng các tổ hợp ngôn từ rất
"trái khoáy", các thuật ngữ chuyên môn hẹp, các từ ngữ bằng tiếng nước ngoài ném
ra la liệt mà không chú thích, tạo điển cố mới từ những TPVC hiện đại của thế giới.
Phạm Thị Hoài dành nhiều nỗ lực làm mới ngôn từ, gia tăng cho nó sự năng động,
sức ôm chứa thông tin, phẩm chất dân chủ. Các kỹ thuật lồng ghép, cắt dán, đồng
hiện, gián cách, nghệ thuật sử dụng dòng ý thức, thủ pháp nghịch dị, lưỡng hóa,
dùng cái kì ảo, cái phi lí, dùng hình thức "giả cổ tích", "giả lịch sử", "giả liêu trai"
để tạo ra một hiện thực thứ hai được truyện ngắn vận dụng khá linh hoạt, thuần
thục.
Văn xuôi sau 1975 cũng có sự mở rộng đáng kể các phạm trù thẩm mỹ. Các
kỹ thuật trần thuật linh hoạt, phong phú. Ngôn ngữ truyện ngắn sau 1975 là ngôn
ngữ vừa mang những đặc trưng của thể loại như tính văn xuôi, tính tổng hợp, tính
đa thanh vừa gần gũi tới mức tối đa với đời sống. Sự phối kết nhiều chất giọng
cũng thể hiện rõ những cách tân của ngôn ngữ văn xuôi đương đại so với giai đoạn
trước. Sự linh hoạt, phong phú của giọng điệu trần thuật cũng chính là nhu cầu tự
nhiên để người viết tự làm mới mình. Độc thoại nội tâm trở thành một thủ pháp
nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới
nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật. Một giọng điệu mới lạ xuất hiện trong văn xuôi có
yếu tố kì ảo thời đổi mới là giọng điệu giễu nhại. Sự trở lại của nó trong đời sống
văn học vừa như sự khơi lại nguồn mạch nguyên sơ, khoẻ khoắn của truyện cười
dân gian vừa như sự tiếp tục khuynh hướng dân chủ, phi thiêng hoá trong văn học
thời trung đại. Sự có mặt của giọng điệu này khiến văn học có thể du nhập vào nó
nhiều hình thức ngôn ngữ: nhại tác giả, tác phẩm, ngôn ngữ đời thường, những lời
nói tục, thần chú, giai thoại, bàn luận về thực tại hạ đẳng, thậm chí nhại cả phong
cách của một giai đoạn văn học… Nó góp phần mang lại sự cởi mở, dân chủ của
đời sống văn học hôm nay.
Văn học Việt Nam sau 1975 đang trên bước đường đổi mới - nó có thể đi
trên con đường của chủ nghĩa tình cảm, nhưng cũng có thể làm thức tỉnh người đọc
theo con đường duy lí nhưng mục đích cuối cùng và cao cả nhất mà nó hướng tới
là nuôi dưỡng nhân tính và tâm hồn con người.

Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn (2006). Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn
đề nghiên cứu và giảng dạy. NXB Giáo dục, HN.
6 Phan Thị Vàng Anh. Trả lời phỏng vấn báo Phụ nữ Thủ đô ngày 20/10/1993.
7
Nguyễn Thanh Hùng (2005). Tri thức đọc hiểu truyện ngắn hiện đại. Báo Văn nghệ
số 28 tháng 7.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status