Bộ giáo dục v đo tạo Học viện chính trị quốc gia
hồ chí minh
Trần bảo khánh
đặc điểm công chúng truyền hình việt nam
Giai đoạn hiện nay
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 62 32 01 01 Tóm tắt Luận án tiến sĩ báo chí học
Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia và Th viện
Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Các công trình khoa học đ công bố
Liên quan tới luận án
1. Trần Bảo Khánh, Sản xuất chơng trình truyền hình, NXB Văn hoá -
Thông tin, Hà Nội 2001.
2. Trần Bảo Khánh, Về thể loại phỏng vấn truyền hình, (Báo chí, những
điểm nhìn từ thực tiễn), Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 2001.
3. Trần Bảo Khánh, Sản xuất chơng trình truyền hình (tái bản có bổ
sung), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2003.
4. Trần Bảo Khánh, Tạp chí truyền hình và sức hấp dẫn với công chúng,
Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 11/2006.
5. Trần Bảo Khánh, Những nét tâm lý cơ bản trong tiếp nhận thông tin
truyền hình, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 1 + 2/2007.
dới tác động của các chuyển biến về kinh tế xã hội đã thay đổi rất nhiều
so với trớc đây, đòi hỏi phải có nghiên cứu để tìm hiểu sự thay đổi về
đặc điểm của công chúng trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay cũng
nh trong giai đoạn sau này.
Là một hệ thống bao gồm Đài truyền hình quốc gia, các Đài truyền hình
khu vực và gần nh tất cả các tỉnh, thành phố đều có truyền hình của riêng
mình (ngoài ra có nhiều đơn vị phát sóng và sản xuất chơng trình truyền
hình khác ở cả khu vực sự nghiệp và khu vực doanh nghiệp), từ năm 2004,
Việt Nam lại có thêm một đài truyền hình mới: Đài truyền hình Kỹ thuật số.
2
Thời lợng sản xuất các chơng trình phát sóng tới hàng trăm giờ mỗi ngày
với nhiều chuyên mục chơng trình khác nhau. Trên thực tế, có khá nhiều
chơng trình hay, hấp dẫn, thu hút đợc đông đảo khán giả, nhng cũng có
không ít thời gian phát sóng mà không có hoặc có rất ít ngời xem. Điều này
đợc lý giải bằng việc ngời làm chơng trình không hiểu rõ nhu cầu của các
nhóm đối tợng, cha gây đợc sự hứng thú của ngời xem. Nh vậy, tính
hiệu quả của chơng trình truyền hình sẽ không cao, gây lãng phí tiền của và
sức lực. Với tốc độ phát triển nh hiện nay, nếu không khắc phục đợc tình
hình nh vậy, thời lợng phát sóng càng tăng cao thì sự lãng phí cũng theo
chiều hớng đó mà tăng lên. Vì vậy, cần có sự nghiên cứu về công chúng để
tránh đợc lãng phí đó.
Trong những năm gần đây, truyền hình Việt Nam đang thực sự chiếm
đợc lòng tin yêu của công chúng bởi đã có sự tiến bộ vợt bậc cả về nội
dung và hình thức. Cơ chế quản lý đang dần thích nghi với xã hội, trong khi
vẫn đảm bảo chức năng là cơ quan tuyên truyền của Đảng và Nhà nớc. Để
có thể phát triển mạnh mẽ hơn, truyền hình Việt Nam cần có những kế hoạch
thực tế để phát triển trong giai đoạn trớc mắt và lâu dài. Những kế hoạch
này phải dựa trên cơ sở của sự định hớng chiến lợc, phân tích cơ chế hiện
hành và sự thay đổi trong tơng lai, khả năng thích ứng với tình hình, bao
nghiên cứu chung về công chúng của truyền thông đại chúng. Nhìn tổng
thể, các công trình nghiên cứu về công chúng riêng của truyền hình thì vẫn
cha có nhiều. Lý do đầu tiên có thể chỉ ra là việc truyền hình xuất hiện
rất muộn, ra đời vào 1923, các chơng trình lần đầu tiên đợc phát sóng
vào năm 1927, và truyền hình chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ, tác động
vào mọi mặt của đời sống xã hội vào nửa cuối thế kỷ XX. Nhng không có
nghĩa là không có ai chú ý đến vấn đề này. Trong mục phơng tiện truyền
thông đại chúng của tác phẩm "Xã hội học" của John. J. Macionis - nhà
xuất bản Thống kê H Nội 2001 đã dành phần lớn thời gian nghiên cứu về
truyền hình và tác động của nó với công chúng. Hay trong cuốn "Báo chí
truyền hình" tập 2 - của G.V Cudơnhetxốp, X.L, Xvich, A. Ia. Iurốpxki.
4
(Nhà xuất bản Thông tấn 2004) cũng dành hẳn một chơng viết về các
phơng pháp nghiên cứu công chúng truyền hình.
ở Việt Nam, việc nghiên cứu công chúng của truyền thông đại chúng,
công chúng báo chí cũng đang bắt đầu đợc lu ý. Các công trình đợc nghiên
cứu cha nhiều nhng cũng có một số các công trình đáng chú ý:
- Chân dung công chúng truyền thông qua khảo sát tại Thành phố
Hồ Chí Minh - của TS. Trần Hữu Quang.
- Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng sinh viên thanh
niên hiện nay - Luận văn Thạc sỹ của Đỗ Thị Thu Hằng - Phân viện Báo
chí và Tuyên truyền, 2000.
- Hàng loạt các công trình nghiên cứu về công chúng truyền thông
của PGS. TS Mai Quỳnh Nam công bố trên Tạp chí xã hội học.
- Một số bài viết trên Tạp chí Nghề báo, ngời làm báo, có những đề
cập tới công chúng báo chí, công chúng truyền hình.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu riêng về công chúng truyền hình thì
cha nhiều. Mới có một số cuộc điều tra xã hội học của Ban T tởng
Văn hoá Trung ơng, của Tạp chí Truyền hình và của một số đơn vị kinh
chi phí quảng cáo và mối tơng quan giữa thị phần khán giả và thị phần
doanh thu quảng cáo. Phần hai, Đài Truyền hình Việt Nam (gồm 3 kênh
chính VTV1, VTV2 và VTV3) là các đánh giá về khán giả, chơng trình
và doanh thu quảng cáo. Về khán giả, báo cáo này phân tích khá kỹ
khuynh hớng về lợng khán giả của từng kênh. Báo cáo truyền hình
nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ cho quảng cáo, nhng việc phân tích
đánh giá công chúng là tơng đối kỹ. Việc sử dụng các phần mềm tiên
tiến đã mang lại u thế khi cho phép biết đợc cặn kẽ các chỉ số về ngời
xem. Điểm cha toàn diện của tài liệu này có lẽ chính là việc nó chỉ
nghiên cứu ở các thành phố lớn, đông dân, phục vụ cho quảng cáo nên
cha có các dữ liệu về ngời xem ở các địa phơng khác.
6
Năm 2005, nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản cuốn sách Văn
hoá nghe nhìn và giới trẻ. Cuốn sách này là kết quả của đề tài nghiên
cứu khoa học: văn hóa nghe nhìn với giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh do
TS Đỗ Nam Liên chủ biên. Các nghiên cứu của cuốn sách là khá toàn
diện về các hoạt động nghe nhìn của giới trẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh,
tìm kiếm khá kỹ về mục đích xem truyền hình, thời gian xem truyền hình
trong ngày, các đánh giá của giới trẻ về chất lợng và mong muốn của họ
đối với các chơng trình truyền hình Cuốn sách cũng đã bớc đầu đề
cập đến các nhu cầu riêng của giới trẻ các đặc điểm trong hoạt động tiếp
nhận các sản phẩm truyền hình; sử dụng các phơng pháp tiếp cận của bộ
môn xã hội học và có những kết quả đáng tin cậy. Tuy nhiên, với phạm vi
nghiên cứu ở trong giới trẻ của Thành phố Hồ Chí Minh nên chỉ có tác
dụng tham khảo trong phạm vi ở các thành phố có đặc điểm tơng tự.
- Tháng 5/2006, Nhà xuất bản Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn và
Trung tâm Kinh tế Châu á Thái Bình Dơng xuất bản cuốn sách Xã hội
học Báo chí của TS. Trần Hữu Quang. Đây là công trình khoa học có
chất lợng về truyền thông đại chúng mà trong đó tác giả tìm cách lý giải
liên ngành.
+ Nghiên cứu lý thuyết:
- Tìm hiểu các quan điểm, t tởng, các khuynh hớng nghiên cứu
công chúng, công chúng truyền hình từ các văn bản tài liệu sẵn có.
- Sử dụng các kết quả nghiên cứu sẵn có của xã hội học, của các cơ
quan nghiên cứu về báo chí để xem xét, so sánh, đối chiếu với kết quả
khảo sát của luận án.
+ Phơng pháp thu thập thông tin.
Tiến hành khảo sát bằng phơng pháp điều tra Xã hội học. Kết hợp
phỏng vấn định lợng và phỏng vấn sâu.
Địa bàn khảo sát đợc phân chia theo điều kiện địa lý gồm: miền
núi phía Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung, Tây Nguyên, Đồng bằng
8
Nam Bộ, thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số phiếu
điều tra là 1023 phiếu, mỗi tỉnh và thành phố có 102 phiếu. Riêng Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố loại đặc biệt nên tác giả chọn
hai địa điểm khảo sát là một xã ngoại thành và một phờng nội thành. Các
xã, phờng đợc lựa chọn ngẫu nhiên khi điều tra, tại các địa điểm này lại
lựa chọn ngẫu nhiên xóm, dãy nhà để khảo sát.
Đối với các mẫu phỏng vấn sâu cũng đợc lựa chọn một cách ngẫu
nhiên tại các địa điểm dùng để khảo sát định lợng bằng phiếu điều tra.
4. Mục đích và nhiệm vụ
Luận án có mục đích tìm ra các đặc điểm của công chúng truyền
hình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; đa ra một số dự báo về sự thay
đổi đặc điểm của công chúng trong thời gian tới. Đồng thời, luận án đa
ra các đề xuất có tính khả thi để điều chỉnh chiến lợc phát triển của
truyền hình Việt Nam nhằm thích ứng với đặc điểm của công chúng và
nâng cao chất lợng chơng trình phù hợp với các đòi hỏi của xã hội.
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
rõ ràng, nhng khi sự tác động đó có hiệu quả, công chúng có sự thay đổi
về nhận thức, về hành vi thì sẽ tác động trở lại với truyền hình. Đòi hỏi
phải có sự thay đổi phong cách làm việc, quy mô phát triển và cách thức
phục vụ của truyền hình.
7. Đóng góp của luận án
+ Cho đến nay vẫn cha hết lối nghĩ coi công chúng là đối tợng tác
động một chiều của báo chí nói chung, truyền hình nói riêng. Dẫn đến
việc không chú trọng đúng mức việc tìm hiểu nhu cầu, sở thích của họ, tức
là có gì thì cho họ xem nấy. Luận án này góp phần làm rõ đối tợng phục vụ
của truyền hình, đồng thời làm rõ mức độ quan trọng của nghiên cứu công
chúng đối với truyền hình.
10
+ Khi xã hội phát triển, con ngời trong đó cũng phát triển, kéo theo
sự phát triển về nhiều mặt: nhu cầu, sở thích, trình độ thói quen không
nên coi những đặc điểm vốn có của công chúng là bất biến, mà phải coi
đó là đối tợng vận động, thậm chí vận động rất nhanh. Tính chất biện
chứng này đòi hỏi phải nghiên cứu về sự thay đổi đó, đây cũng là một
hình thức tôn trọng công chúng. Luận án này sẽ góp một phần nhỏ trong
xu thế chung đó.
+ Luận án có khả năng bổ sung vào lý luận báo chí truyền hình ở Việt
Nam, là tài liệu để tham khảo đối với sinh viên báo chí và những ngời quan
tâm đến lĩnh vực này. Tuy chỉ nghiên cứu về công chúng nhng đây là mảng
rất quan trọng. Nó là một trong những biểu hiện của việc thay đổi lại t duy
trong cách làm báo truyền hình, từ chỗ "bao cấp" về thông tin chuyển sang lề
lối phục vụ công chúng, từ chỗ có gì xem nấy chuyển sang phục vụ theo nhu
cầu công chúng.
Từ những ý nghĩa khoa học trên, luận án sẽ có những ý nghĩa thực tiễn sau:
+ Luận án sẽ góp thêm một cứ liệu tham khảo để truyền hình Việt
Nam xem xét điều chỉnh xu hớng phát triển trớc mắt và lâu dài cho
Các đặc điểm tìm hiểu là các khía cạnh: nhận thức, xúc cảm, động cơ,
đạo đức, hành vi xã hội, thể chất đây là cấu trúc cơ bản của con ngời
xã hội. Trong luận án này, chúng tôi đề cập tới con ngời - công chúng
truyền hình, nghĩa là tìm hiểu những nét riêng biệt khi tiếp nhận các
thông tin truyền hình, chuyển biến của họ sau khi chịu tác động của
những thông tin này. Đây là những nét cơ bản đợc xem xét từ một số
khía cạnh của xã hội học và tâm lý học. Để phân tích các khía cạnh này,
chúng tôi cũng đã xem xét thái độ của công chúng truyền hình với nội
dung chơng trình, cách phân bổ thời gian rảnh rỗi của họ dới ảnh
hởng của truyền hình.
12
Có một vấn đề đặt ra hiện nay là con ngời của xã hội hiện đại đã
và đang chịu ảnh hởng của rất nhiều loại thông tin từ các phơng tiện
khác nhau, sự rành mạch của từng loại công chúng là không thể có. Một
ngời, nhất là ngời có trình độ văn hóa cao, sẽ không nhất thiết là công
chúng của riêng một loại hình báo chí nào. (tuy có thể là anh ta sẽ thờng
xuyên xem loại nào hơn) nhng khi xem xét yếu tố này, chúng tôi coi
đây là một trong những thành tố có tác động đến công chúng truyền hình
và nghiên cứu con ngời khi họ đang xem truyền hình - là lúc mà họ
đang chịu tác động của thông tin mà truyền hình mang lại.
Đối với các yếu tố tác động đến công chúng truyền hình, luận án
tạm phân biệt thành hai loại là: các yếu tố có tính nguyên tắc và các yếu
tố trực tiếp tác động đến công chúng. Đây là những yếu tố mà sự ảnh
hởng không chỉ dừng lại ở chỗ gợi lên một vài sự liên hệ mơ hồ nào đó
mà có ảnh hởng thực sự tới sự phát triển của cả truyền hình và công
chúng truyền hình. Các yếu tố có tính nguyên tắc tác động đến truyền
hình là: Kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật.
Bên cạnh đó các yếu tố khác nh: kinh tế phát triển, xu hớng
hội nhập, quá trình đô thị hoá và phân tầng xã hội tác động trực tiếp
truyền hình ở các giai đoạn khác nhau. Trong chơng này luận án tập
trung nghiên cứu công chúng truyền hình từ góc độ xã hội học với các
đặc điểm về: Qui mô dân số ở Việt Nam hiện nay, việc phân bổ dân
c,cơ cấu dân số, và quá trình di c diễn ra nh thế nào? Từ các đặc
điểm này luận án sẽ đề cập đến sự thay đổi của công chúng dới tác
động của các nhân tố xã hội học nh: Mức sống, giới tính, tuổi tác, nghề
nghiệp, trình độ học vấn, địa bàn sinh sống
Khi nói tới công chúng, ngời ta thờng nhắc đến một số đông
ngời rời rạc, không thuần nhất, bao gồm những cá nhân phân tán. Điều
này khá đúng nếu xét thuần túy về không gian tồn tại của họ. Nhng nếu
14
xét về quan hệ xã hội, điều này không có nghĩa là công chúng truyền
hình hoàn toàn cô lập nhau, tách rời nhau một cách tuyệt đối, mà chúng
ta vẫn thờng thấy công chúng truyền hình ngồi xem trong gia đình, với
đồng nghiệp, bạn bè. Và cho dù, khi ngời ta ngồi xem truyền hình một
mình thì cũng không thoát khỏi các mối quan hệ xã hội ràng buộc họ
trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, nghiên cứu công chúng truyền hình
phải đặt họ trong bối cảnh xã hội, trong các điều kiện sống cụ thể, ở các
tầng lớp khác nhau trong xã hội. Những yếu tố này tác động rất lớn đến
công chúng truyền hình lúc họ xem cũng nh sau khi họ xem truyền
hình. Luận án đã trình bày kết quả điều tra xã hội học đợc tiến hành
trong tháng 3 và tháng 4/2005 tại các tỉnh đại diện cho 8 khu vực và vùng
trong cả nớc về các yếu tố tác động đến công chúng truyền hình. Tuy
không đặt trọng tâm vào một yếu tố đơn lẻ nào nhng có thể đa ra một
vài nhận định sau:
Mức sống càng cao, càng tạo điều kiện để công chúng tiếp cận
thuận lợi hơn với truyền hình, dẫn đến xu hớng mua máy thu hình và
mua thêm máy thu hình tăng.
Có sự ảnh hởng nhất định từ giới tính trong việc tiếp nhận thông
hình; Biến đổi nhu cầu về thông tin truyền hình; xu hớng mới trong tiếp
nhận thông tin truyền hình; Biến đổi về cách thức tiếp nhận thông tin
truyền hình. Trong đó nổi lên một số những vấn đề cơ bản sau:
- Tâm lý tiếp nhận thông tin truyền hình: trạng thái tâm lý thoải mái
trong tiếp nhận thông tin dẫn đến biểu hiện mất tập trung khi xem truyền
hình; muốn trao đổi về những thông tin nhận đợc trớc, trong và sau khi
xem truyền hình. Việc trao đổi này bao gồm thông tin mới nhận, các bình
luận việc trao đổi làm cho thông tin truyền hình đợc nhớ lâu hơn.
Căn bệnh Zapping
: Đây là hiện tợng xuất hiện khi truyền hình có
bộ điều khiển từ xa và có nhiều kênh truyền hình khác nhau, nảy sinh
một kiểu xem một mình, không xem ở một kênh nào trọn vẹn.
16
- Biến đổi nhu cầu về thông tin truyền hình: Trong kết quả điều
tra thực hiện vào năm 2005, 74% gia đình có 1 chiếc máy thu hình;
23,9% gia đình có 2 - 3 chiếc, số này hầu hết rơi vào các thành phố
lớn nh Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; 54,3% gia đình có một
máy thu hình sẵn sàng mua thêm nếu có điều kiện. Điều này có thể
giải thích là khi truyền hình trở thành phơng tiện truyền thông quan
trọng thì ngoài việc cung cấp thông tin nó còn là phơng tiện giải trí
quan trọng đối với công chúng.
- ảnh hởng của thông tin truyền hình tới công chúng: xem truyền
hình đã trở thành một thói quen hàng ngày của mọi ngời, đã trở thành
hiện tợng xã hội có tầm rộng lớn, ảnh hởng lên phong cách sống, thời
gian rỗi và các hoạt động khác. Truyền hình là phơng tiện dễ dàng thỏa
mãn diện rộng nhất các nhu cầu của công chúng. Dới tác động của
truyền hình, một số mối quan hệ truyền thống trong xã hội và trong gia
đình bị phá vỡ.
- Xu hớng mới trong tiếp nhận thông tin truyền hình: Cá nhân chủ
không diễn ra một cách tự phát mà thờng đợc chọn lọc thông qua
trao đổi tiếp xúc giữa các nhóm đối tợng. Những chuyển biến trong
nhận thức phản ánh tính chất chủ động khi tiếp nhận thông tin của
công chúng. Cần lu ý rằng truyền hình không chỉ có tác dụng giáo dục
mà nó còn tác động đến công chúng bằng lời nói hàng ngày, bằng sự ứng
xử trên màn ảnh của những ngời làm chơng trình. Với vai trò trung
gian của mình, truyền hình giúp công chúng hình thành nên những giá trị
văn hoá tinh thần, đáp ứng nhu cầu trong giao tiếp của công chúng, xây
dựng một nền văn hoá của xã hội.
+ Mức độ tham gia vào nội dung chơng trình của công chúng truyền hình
Sự tham gia của công chúng vào chơng trình truyền hình nh một
tất yếu khách quan, là một khâu trong quá trình truyền thông và cũng là
18
một khâu trong quá trình sản xuất chơng trình truyền hình theo chu
trình: công chúng - truyền hình - công chúng. Quá trình sáng tạo tác
phẩm truyền hình bắt đầu từ ý tởng của các nhà báo truyền hình, đợc
xây dựng theo quy trình sau:
Thực tiễn - nhà báo - tác phẩm - công chúng
Theo truyền thống công chúng tham gia vào quá trình sáng tạo tác
phẩm nh là đối tợng phản ánh và đối tợng tác động của truyền hình.
Giờ đây yếu tố khán giả không chỉ dừng lại nh vậy nữa mà còn tham gia
vào quá trình sáng tạo tác phẩm truyền hình nh một chủ thể mà nhà báo
truyền hình phải tính đến. Xu hớng chủ động tham gia vào chơng trình
truyền hình của công chúng giờ đây là khá cao, nhng hình thức lựa chọn
hay nói cách khác là cấp độ tham gia vẫn còn ở một chừng mực nào đó
+ Biến đổi về nhận thức sau khi tiếp nhận thông tin Truyền hình:
Truyền hình giờ đây đã có thể làm thay đổi nhận thức của công
chúng từ việc làm ăn đến quan điểm chính trị, từ cách thức học hành đến
vui chơi giải trí do sự tác động một cách có ý thức cùng với việc thông
Sự thay đổi này tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi đặc điểm xã hội
học của công chúng truyền hình:
- Dân số trẻ phát triển ở quy mô lớn nhất trong lịch sử
- Tỉ lệ đô thị đạt mức cao
- Trình độ văn hoá công chúng tăng đáng kể
Trên cơ sở đó có thể đa ra một số dự báo về nhu cầu thông tin của
công chúng truyền hình nh sau:
Thời gian tiếp nhận thông tin
Sẽ vẫn còn những ngời xem truyền hình tới 7h/ngày hoặc nhiều hơn
nữa nhng tỉ lệ này sẽ ít đi; tỉ lệ ngời xem truyền hình vẫn ở mức độ
cao, nhng còn là công chúng của nhiều phơng tiện truyền thông khác.
Vẫn có những nhóm công chúng có thời gian xem truyền hình tơng đối
20
ổn định; trong khi đó một số nhóm khác số giờ xem truyền hình sẽ bị
giảm đi. ở nông thôn thời gian xem truyền hình sẽ tăng lên trong khi
ở thành thị, thời gian xem truyền hình sẽ giảm. 5 năm tới nớc ta sẽ
có số lợng dân c trẻ tuổi đông nhất trong lịch sử, cho nên tỉ lệ
ngời xem có chiều hớng nghiêng về đặc điểm của những ngời có
nghề nghiệp là sinh viên, học sinh, công chức nhóm công chúng
này sẽ có thời gian xem truyền hình ít hơn. Nhng khoảng từ năm
2015 - 2020 Việt Nam bắt đầu bớc vào giai đoạn dân số già và đâ là
thời điểm số ngời xem truyền hình tăng cả về số ngời và số thời
gian xem.
Mục đích sử dụng thông tin truyền hình
Thông thờng, không có hoặc rất ít khán giả xem truyền hình chỉ với
một mục đích duy nhất mà xem truyền hình là sự kết hợp giữa: cập nhật các
thông tin thời sự, nâng cao trình độ hiểu biết và giải trí
Yêu cầu về nội dung thông tin
Hiện tại, yêu cầu thông tin vẫn là thông tin thời sự, giáo dục và
Phát triển truyền hình đủ sức phục vụ công chúng trong và ngoài nớc
Cần xác định đối tợng phục vụ của Truyền hình Việt Nam hiện có 3
loại đối tợng: ngời Việt Nam ở trong nớc, ngời Việt Nam sống ở
nớc ngoài và ngời nớc ngoài sống ở Việt Nam.
Tăng cờng nghiên cứu công chúng
Trong tơng lai Truyền hình Việt Nam nên tổ chức nghiên cứu công
chúng một cách chuyên nghiệp và thờng xuyên. Không nhất thiết là phải
nghiên cứu toàn diện, mà có thể nghiên cứu từng phần, thậm chí với từng
chuyên mục, từng kênh để có thể tạo ra những sản phẩm truyền hình phù hợp
với thị hiếu công chúng.
22
Xây dựng đội ngũ cán bộ truyền hình chuyên nghiệp, vững mạnh
Đặt trọng tâm vào đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ là cần thiết
nhng cha đủ mà cần có một cơ chế đẩy mạnh xã hội hoá truyền hình.
Cơ chế này trên thực tế sẽ tạo ra các vệ tinh sản xuất chơng trình và tạo
ra một sức cạnh tranh quyết liệt giữa các kênh, các chơng trình. Từ đó
tạo ra sự thúc đẩy quá trình đào tạo và tự đào tạo của những ngời làm
truyền hình. Cần xoá bỏ chế độ bao cấp về đào tạo và đào tạo lại, tạo
điều kiện để cán bộ có thể tiếp cận với phơng pháp và công nghệ sản
xuất chơng trình truyền hình của các nớc tiên tiến. Có sự phối hợp
giữa nơi đào tạo và nơi sử dụng lao động để định hớng trong công tác
đào tạo, tránh lãng phí nguồn nhân lực và chọn đợc ngời có khả năng
vào làm tại các Đài truyền hình.
kết luận
1. Khi truyền hình xuất hiện, đã có một lớp công chúng đợc hình