Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội
&
HOàNG THị THU GIANG
TRUYệN NGắN VIệT NAM 1945 - 1975
NHƯ MộT TRƯờng diễn ngôn
Chuyên ngành: lý luận văn học
M số : 62.22.01.20ã
LUN N TIN S NG VN
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Phựng Ngc Kim
hà nội 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận án xin cam đoan:
- Luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.
- Những số liệu và tài liệu được trích dẫn trong đây là trung thực.
- Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được
công bố trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 2 năm 2014
Tác giả luận án
Hoàng Thị Thu Giang
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong những năm 1945 – 1975, cả dân tộc Việt Nam huy động mọi sức
mạnh vật chất và tinh thần có thể vào sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ và dựng
xây đất nước. Trên mặt trận văn hoá nghệ thuật, truyện ngắn là thể loại xung kích,
có nhiều đóng góp, phát triển đều, “ở chặng nào cũng có những truyện hay”
[68;134]. Chính vì vậy, từ lâu, truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 đã trở thành đối
và đặc trưng của thể loại trong tương tác diễn ngôn của thời đại.
1.3. Nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 như một trường diễn
ngôn là hướng tìm hiểu đặc trưng của thể loại truyện ngắn dưới góc nhìn mới, có
thể mang lại sự nhìn nhận và đánh giá toàn diện, khách quan hơn về truyện ngắn
dân tộc giai đoạn này. Cùng với điều đó, luận án góp phần làm sáng rõ hơn bản
chất của diễn ngôn và diễn ngôn văn học – những vấn đề ngày càng được quan
tâm thảo luận, vận dụng trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam. Với những ý
nghĩa ấy, nghiên cứu đề tài có thể góp thêm một tài liệu tham khảo thiết thực với
những người quan tâm đến lý luận, phê bình văn học, những người dạy – học văn
học trong nhà trường các cấp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 – 1975
với các bộ phận tâm và biên của nó, từ đó xác lập quan niệm và nhận thức về diễn
ngôn, trường diễn ngôn văn học, trường diễn ngôn thể loại gắn với lịch sử xã hội.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu được xác định như trên, phạm vi nghiên cứu của
luận án bao gồm: cơ sở lí thuyết diễn ngôn đối với nghiên cứu văn học nói chung,
truyện ngắn nói riêng; trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 – 1975 với các bộ phận
cấu thành của nó; các thẩm quyền và chiến lược thực thi thẩm quyền của diễn ngôn
trung tâm và diễn ngôn ngoại biên trong truyện ngắn 1945 – 1975.
Trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc, văn học Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975 gồm nhiều bộ phận. Làm nên diện mạo chính yếu của văn học dân tộc
giai đoạn này là bộ phận văn học cách mạng (văn học kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ ở cả hai miền Nam, Bắc; văn học thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
3
miền Bắc những năm 1954 - 1964). Ngoài ra, còn có các bộ phận văn học trong vùng
tạm chiếm những năm 1946 – 1954, văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 và văn
học của người Việt ở nước ngoài. Trong khuôn khổ luận án, ứng với đối tượng và
phạm vi nghiên cứu được xác định như trên, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những
sự hình thành các thành phần tạo nên cấu trúc đó cũng như tác động trở lại của các
thành phần đó tới đời sống văn hóa, xã hội, chính trị giai đoạn này.
4.3. Phân tích tổng thể các thẩm quyền, chiến lược thực thi các thẩm quyền
của diễn ngôn khu vực trung tâm và khu vực ngoại biên trong trường diễn ngôn
truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, từ đó có cái nhìn toàn diện về truyện ngắn
Việt Nam 1945 – 1975.
5. Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài luận án, Thư mục tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung chính của
luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan
Chương 2. Truyện ngắn như một trường diễn ngôn
Chương 3. Diễn ngôn trung tâm trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
Chương 4. Diễn ngôn ngoại biên trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
5
Chương 1. TỔNG QUAN
Trong chương tổng quan, chúng tôi điểm lại những công trình nghiên cứu về
truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 và vấn đề diễn ngôn trong nghiên cứu văn học.
1.1. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
Trong các thể loại văn học thuộc giai đoạn 1945 – 1975, truyện ngắn, cùng
với thơ là đối tượng nhận được sự quan tâm, bình giá nhiều hơn cả, kể cả trong
thời gian ba mươi năm chiến tranh cũng như ở giai đoạn sau 1975.
Thời kì khoảng 10 năm đầu sau cách mạng tháng Tám, dù số lượng tác
phẩm truyện ngắn chưa nhiều, cũng đã có những bài viết đánh giá, bàn luận về
truyện ngắn cách mạng đương thời. Càng về sau càng có nhiều hơn những bài viết
đánh giá, phê bình về các truyện ngắn giai đoạn 30 năm chiến tranh. Có thể nói
khó đếm xuể những bài phê bình về các truyện ngắn/tập truyện ngắn/tác giả truyện
ngắn cụ thể. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về toàn bộ nền
truyện ngắn giai đoạn này chỉ xuất hiện từ sau năm 1975. Dưới đây chúng tôi sẽ
điểm qua những công trình nghiên cứu tiêu biểu về đối tượng này.
văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, đã thể hiện độc đáo nổi bật phong cách
thời đại, phân biệt với văn học sau 1975. Nhưng vấn đề này lại hầu như chưa được
quan tâm xem xét thật sự. Từ nhận định đó, tác giả đã tập trung xem xét truyện
ngắn 1945 – 1975 và kết luận: phong cách thời đại trong truyện ngắn giai đoạn này
là sự kết hợp của bốn yếu tố hiện thực, sử thi, lãng mạn, trữ tình. Bốn yếu tố đặc
trưng đó “làm thành diện mạo của văn học một thời với màu sắc riêng của nó mà
giai đoạn trước đó chưa có và ở giai đoạn sau không lặp lại nữa” [133;362]. Không
dừng lại ở việc nêu, trình bày những yếu tố làm nên phong cách thời đại của truyện
ngắn 1945 – 1975, Nguyễn Khắc Sính còn chỉ ra sự vận động của nó: ở thời kì 1945
– 1954, yếu tố hiện thực chiếm ưu thế, sang thời kì 1955 – 1964, yếu tố trữ tình
chiếm vị trí chủ đạo, đến thời kì 1965 – 1975, yếu tố sử thi trở thành nét trội. Theo
tác giả: chính các tiền đề lịch sử, chính trị, đạo đức … đã tác động, chi phối tới sự
vận động của phong cách thời đại trong truyện ngắn 1945 – 1975 như đã mô tả.
Trong Truyện ngắn Việt Nam – công trình có sự hợp tác nghiên cứu của
nhiều học giả do GS.VS. Phan Cự Đệ, PGS.TS. Lý Hoài Thu đồng chủ trì đề tài,
mảng truyện ngắn 1945 – 1975 cũng được đặc biệt quan tâm. Trong công trình
mang tính chất tổng kết về mặt lí luận và văn học sử, bao quát những thành tựu
7
của cả nền truyện ngắn Việt Nam xuyên suốt từ thời kì trung đại đến thời kì hiện
đại, diện mạo truyện ngắn 1945 – 1975 được phác họa với những gương mặt
truyện ngắn ấn tượng: Bùi Hiển, Kim Lân, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Anh Đức,
Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Vũ Hạnh, Sơn Nam,
Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Lê Minh Khuê. Các tác giả Truyện
ngắn Việt Nam đã giới thiệu, phân tích, bình giá cái hay, cái đẹp và cả những hạn
chế trong những tác phẩm tiêu biểu, từ đó xác lập những đặc điểm riêng của từng
cây bút truyện ngắn. Có thể thấy, mặc dù chưa giới thiệu được tất cả những tác
giả, tác phẩm truyện ngắn giai đoạn này, chưa chi tiết được trong phác họa diện
mạo cả nền truyện ngắn với những nét đậm, nhạt, nổi, chìm, những tiếng nói đối
thoại, đa thanh trong nền truyện ngắn ấy, nhưng qua việc giới thiệu các cây bút
truyện ngắn như trên, độc giả cũng có thêm nhiều nhận thức bổ ích về sự phát
tỏ các tác giả chưa nắm được bản chất của hiện thực, mới chỉ chú ý đến minh họa
đơn thuần những chủ trương chính sách. Nhân vật loại hình kết hợp với tính cách
đã xuất hiện nhưng chưa nhiều. Về giọng điệu, theo tác giả, tính chất đơn giọng là
đặc điểm riêng của truyện ngắn thời kì này. “Do chú trọng đến chức năng tuyên
truyền, cổ vũ công cuộc giữ nước mà truyện thường đi sâu khai thác mặt thuận
chiều, khiến cho hiện thực được phản ánh rơi vào sơ lược, giản đơn. Cũng do yêu
cầu của lịch sử mà nhân vật chỉ được khai thác ở phương diện xã hội, đời sống nội
tâm chưa được quan tâm nhiều…”[119;182].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên sâu nêu trên, còn có rất
nhiều bài báo phân tích, nhận xét, đánh giá về truyện ngắn 30 năm sau Cách mạng.
Trong số những bài viết được đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành nghiên cứu
văn học, chúng tôi chú ý tới hai bài báo của các tác giả Vương Trí Nhàn và Lại
Nguyên Ân về truyện ngắn 1945 – 1975.
Trên Tạp chí văn học số 6 năm 1978, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn công
bố bài viết Về sự lựa chọn chủ đề và phát triển tính cách trong truyện ngắn sau
cách mạng (sau này, tại trang mạng http://vuongtrinhan.
wordpress.com/2010/01/09, nhan đề bài viết được đổi thành Về sự lựa chọn chủ đề
và phát triển tính cách trong truyện ngắn 1945 – 1975). Ở phần mở đầu bài nghiên
cứu, tác giả khẳng định: “So với văn chương tiền chiến, văn xuôi cách mạng Việt
Nam có khá nhiều thay đổi, trước tiên là ở những nguyên tắc lựa chọn chủ đề, phát
triển tính cách nhân vật – những khâu quan trọng bậc nhất trong việc hình thành tác
9
phẩm”. Qua những dẫn chứng cụ thể, nhà nghiên cứu chỉ ra những chủ đề được lặp
đi lặp lại ở từng chặng và cách triển khai thể hiện chủ đề đó. Ở những năm đầu cách
mạng (khoảng 1945-1948), truyện ngắn tập trung thể hiện chủ đề “dứt bỏ” - được
hiểu là “vượt lên trên chết chóc, nhưng có khi đơn giản chỉ là vượt lên trên cuộc
sống phù hoa và cả những thói quen cũ, cách đánh giá cũ”. Theo Vương Trí Nhàn,
“chỉ trong hoàn cảnh có những thay đổi đột biến như cách mạng, chủ đề dứt bỏ mới
được thực hiện”. Từ nửa sau cuộc kháng chiến chống Pháp, “thức tỉnh”, “giác ngộ”
trở thành chủ đề thường gặp trong các truyện ngắn cách mạng. Để thể hiện chủ đề
nghiên cứu theo tinh thần của lí thuyết diễn ngôn (mặc dù ở thời điểm viết – năm
1978, tác giả có thể chưa tiếp cận với lí thuyết này). Có thể khẳng định, cách diễn
giải và giọng điệu của bài viết đã tạo nên một diễn ngôn riêng trong hệ thống công
trình nghiên cứu về truyện ngắn 30 năm sau Cách mạng tháng Tám.
Một bài viết khác, cũng rất đáng chú ý là Thử tìm hiểu loại hình các mô-tip
chủ đề trong văn học Việt Nam hiện đại của Lại Nguyên Ân, đăng trên Tạp chí
văn học số 6, năm 1987 (bạn đọc cũng có thể tìm bài viết trên tại địa chỉ mạng
http://lainguyenan.free.fr/TheLoaiVanHoc/HeThong2.html). Theo Lại Nguyên
Ân, những “chủ đề” mà Vương Trí Nhàn xác định trong bài viết Về sự lựa chọn
chủ đề và phát triển tính cách trong truyện ngắn sau cách mạng “chính là những
mô-típ chủ đề, những mô-típ nghĩa nghệ thuật đã được tạo ra trong nền văn học
mới”. Trong khuôn khổ một bài báo, với chủ ý “chỉ nêu một số nét vắn tắt, gợi ra
một hướng nghiên cứu phân tích”, tác giả Lại Nguyên Ân đã xác định những mô-
típ chủ đề cơ bản trong văn học mới Việt Nam từ sau Cách mạng. Đó là: mô-típ
cách mạng − ngày hội – một mô-típ nghệ thuật được thể hiện khá tập trung ở
những sáng tác thơ, văn, kịch ngay sau cách mạng và đầu cuộc kháng chiến thứ
nhất; mô-típ thức tỉnh, giác ngộ − một mô-típ chủ đề khác khá tiêu biểu ở văn học
thời kỳ đầu; mô-típ vươn mình, đổi đời hết sức phổ biến trong nền văn học mới;
mô-típ nén tình riêng vì nghĩa lớn của cách mạng − mô-típ phổ biến trong nhiều
sáng tác thơ và văn xuôi 1945 – 1975. Mô-típ "nén tình riêng…" lại là một trường
hợp của một mô-típ chung hơn: mô-típ quyết tâm chiến đấu. Ở văn học cách mạng
thời kì 1955 – 1964, mô-típ ân tình cách mạng - một trong những cách để cụ thể
hóa mô-típ "niềm vui cách mạng" thể hiện đặc biệt rõ; mô-típ xả thân vì nghĩa lớn
là mô-típ chủ đề phổ biến nhất trong văn học từ giữa những năm 1960 đến giữa
những năm 1970. Cũng ở khoảng thời gian những năm 1960-1970, trình bày nội
11
dung ngày thường của đời sống cách mạng là một mô-típ nghệ thuật có phạm vi
thể hiện khá rộng rãi trong sáng tác, nhất là ở văn xuôi. Mô-típ này được thể hiện
ở hai dạng thường gặp nhất: truyện chiến đấu và truyện sản xuất, tương ứng với
hai phạm vi được coi là hiện thực cách mạng quan trọng nhất trong đời sống chính
định được nhiều hơn những mô-típ chủ đề trong một thời kì, giai đoạn văn học.
Tuy nhiên, có lẽ vì đi xa hơn, mở rộng phạm vi khảo sát ở nhiều thể loại hơn nên
tác giả lại ít có thời gian đi sâu vào riêng thể loại truyện ngắn 1945 – 1975. Những
chiến lược kiến tạo bức tranh thế giới để đạt được mục đích giao tiếp của truyện
ngắn 30 năm sau Cách mạng – điều mà tác giả Vương Trí Nhàn đã khai phá bước
đầu chưa được nghiên cứu tiếp nối. Dẫu sao, nhiều nhận định sắc sảo, tinh tế của
Lại Nguyên Ân về văn học 1945 – 1975, trong đó có truyện ngắn là những tham
khảo giá trị cho những ai tiếp tục muốn nghiên cứu về đối tượng truyện ngắn của
giai đoạn này.
Có thể nói, số lượng các công trình, bài viết về truyện ngắn 1945 – 1975 là
rất lớn. Các vấn đề được nêu ra về truyện ngắn 1945 – 1975 “phong phú và đa
dạng như chính đối tượng mà nó hướng tới” [121;4] (mà ở đây, chúng tôi chỉ điểm
qua các công trình được xem là tiêu biểu cho những hướng nghiên cứu đã có về
đối tượng này). Tuy nhiên, có thể thấy, cho đến nay, các công trình, bài báo về
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 hầu như mới chỉ tập trung nói về
những tác phẩm thể hiện đường lối tư tưởng của Đảng, những sáng tác “được thừa
nhận” của nền văn học này. Những truyện ngắn chưa quán triệt đường lối, từng bị
phê phán thì rất ít được nhắc đến. Khoan chưa bàn vấn đề đúng sai về tư tưởng
của các tác phẩm từng bị phê phán đó, chúng tôi chỉ muốn nói rằng nếu chúng ta
dành sự chú ý cho cả những tác phẩm từng bị xem là “lệch chuẩn” của truyện
ngắn 1945 - 1975, chắc chắn cái nhìn, đánh giá về diện mạo, đặc điểm thể loại
truyện ngắn giai đoạn này sẽ toàn diện và chính xác hơn. Bên cạnh đó, truyện
ngắn 1945 – 1975, trong hầu hết các công trình đã có đều mới chủ yếu được xem
xét trong phạm vi lời nói nghệ thuật. Nói cách khác, truyện ngắn 1945 – 1975
(cũng như văn học nói chung) hầu như mới được nghiên cứu như một đơn vị nghệ
thuật chứ chưa được nghiên cứu như một đơn vị của giao tiếp – một loại diễn
ngôn, một thể loại lời nói. Trong bài viết Vấn đề thể loại lời nói, M. Bakhtin nhận
định: “Vấn đề thể loại lời nói chưa bao giờ được đặt ra một cách chính thức. Mới
chỉ có các thể loại văn học được nghiên cứu nhiều nhất. Nhưng từ thời cổ đại tới
13
loại lời nói. Khi tìm hiểu các công trình này, các nhà nghiên cứu nhận thấy
14
M.Bakhtin tập trung phân tích các khái niệm như “tekst”, “vyskazyvania”, “rech”
– chỉ phạm vi hoạt động viết, hoặc “slovo” – với nghĩa các thể loại lời nói, và dù
gọi là ngôn từ, là lời nói, là văn bản hay phát ngôn, về thực chất M.Bakhtin đã nói
về diễn ngôn (discourse). Theo sự diễn giải của J.Kristeva trong Một nền thi pháp
học sụp đổ thì “Nghĩa trực tiếp thứ nhất và thông dụng của từ này là “lời” (mot –
tiếng Pháp). Tuy nhiên, từ này còn có một nghĩa thứ hai, với một sự mở rộng
nghĩa cổ và có tính ẩn dụ, đó là “diễn ngôn” (discourse). Và với nghĩa thứ hai,
slovo – discourse là khái niệm chỉ ngôn ngữ được phát ra bởi một chủ thể và/hoặc
cái mà một chủ thể thực hiện trong ngôn ngữ” [94;75].
Từ giữa thế kỉ XX trở đi, khái niệm diễn ngôn (discourse) với tư cách là
một thuật ngữ xuất hiện và trở thành khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi
trong khoa học xã hội nhân văn. Bằng chứng là từ thời điểm này, đã ra đời hàng
loạt công trình nghiên cứu về diễn ngôn, trước hết dưới góc độ ngôn ngữ học và
triết học ngôn ngữ, sau đó dưới góc độ ngữ văn học và triết học xã hội, tiêu biểu
như: Nghiên cứu triết học (L.Wittgenstein, 1953), Vấn đề các thể loại lời nói
(M.Bakhtin, 1953), Độ không của lối viết (1953), Những huyền thoại (1957) của
R.Barthes, Trên đường đến với ngôn ngữ (M.Heidegger, 1959), Chân lý và
phương pháp (G.Gadamer, 1960), Từ ngữ và các vật (M.Foucault, 1966), Ngữ
pháp truyện Mười ngày (1969), Khảo cổ học tri thức (M.Foucault, 1969), S/Z
(R.Barthes, 1970), Dẫn luận văn chương kì ảo (1970), Thi pháp văn xuôi (1971)
của T.Todorov, Trật tự diễn ngôn (M.Foucault, 1971) Mĩ học sáng tạo ngôn từ
(M.Bakhtin, 1979), Cẩm nang về diễn ngôn – phân tích của T.A.Van Dijk (1985),
Diễn ngôn tự sự (G.Genette, 1988), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn (D.Nunan,
1990) .v.v, Thi pháp học: từ điển các thuật ngữ và khái niệm bức
thiết (N.D.Tamarchenko chủ biên, 2008) v.v…
Đến nay, nghiên cứu diễn ngôn đã có một lịch sử tương đối dài và vấn đề
diễn ngôn ngày càng trở nên phức tạp, là cơ sở dẫn tới sự xuất hiện ngày càng
nhiều những công trình giới thuyết, tổng thuật về nghiên cứu diễn ngôn, trong đó,
Cũng ở công trình này, hầu hết các tên tuổi tiêu biểu thuộc nhiều cành nhánh của
nghiên cứu diễn ngôn – từ ngôn ngữ học đến triết học xã hội học đã được nhắc
đến. Tuy nhiên, qua tổng thuật của Rusakova, có thể thấy, ở cả ba hướng phân loại
lí thuyết diễn ngôn của T.A.Van Dijk, J.Torfing, M.Jorgensen và L.Phillips đều
chưa thấy nhắc tới tên tuổi M.Bakhtin và các học giả Nga như Tamachenko và
16
Chiupa cùng quan niệm đáng chú ý của họ về các thể loại lời nói – diễn ngôn, diễn
ngôn văn học. Theo chúng tôi, khi tổng quan về lịch sử nghiên cứu lí thuyết diễn
ngôn trên thế giới, không thể không nhắc tới nhánh nghiên cứu diễn ngôn theo
hướng “siêu ngôn ngữ học” mà M.Bakhtin là người khởi đầu, được J.Kristeva,
N.D.Tamachenko, V.I.Chiupa … vận dụng, phát triển. Thành tựu và quan niệm
của các tác giả thuộc hướng nghiên cứu này sẽ được chúng tôi nhắc tới khi điểm
lại một số công trình tổng thuật, lược thuật của các nhà nghiên cứu Việt Nam về
sự phát triển của lí thuyết diễn ngôn cũng như khi vận dụng để xác lập cơ sở lý
thuyết cho đề tài này.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề diễn ngôn được giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực ngôn
ngữ học. Có thể kể tên các công trình như: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của
Trần Ngọc Thêm (1985), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn
và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Dụng học Việt ngữ của
Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu
(2001), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn
Hoà (2003), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà
(2005).v.v.
Khi xem xét lịch sử sử dụng thuật ngữ diễn ngôn ở ta, không thể không nhắc
tới một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng
Việt, xuất hiện gần như đồng thời với những công trình biên soạn và nghiên cứu về
diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học trong nước, như: Dụng học, một số dẫn luận
nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch,
1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc
phối quá trình biểu đạt ý nghĩa của ngôn từ đó là hình thái xã hội, trạng thái tri thức
của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội”. Từ hiểu biết này, chúng ta nhận ra
rằng, khi coi mỗi tác phẩm văn học là một diễn ngôn, thì để hiểu diễn ngôn ấy, một
trong những việc chúng ta cần thực hiện là phải tìm hiểu những yếu tố đã chi phối
sự biểu đạt của tác phẩm. Cũng trong bài viết vừa nêu, trên cơ sở giới thiệu, phân
tích quan niệm của M.Bakhtin và M.Foucault về diễn ngôn, Trần Đình Sử chỉ ra
con đường hợp lí để tìm hiểu ngôn từ văn học là phải xuất phát từ sự thống nhất
giữa ngôn từ và ý thức. Và chỉ dẫn này giúp chúng ta hiểu rõ hơn thao tác cần thực
hiện khi nghiên cứu văn học từ góc độ diễn ngôn.
18
Năm 2008, trong bài viết Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại
nhà nghiên cứu Phương Lựu đã giới thiệu và chỉ ra “một số vấn đề trọng điểm”
trong quan niệm về diễn ngôn của M.Foucault: tri thức, quyền lực, trách nhiệm.
Tri thức – hệ hình tri thức là “nhận thức chung của cộng đồng” trong một thời đại
nhất định. “Hệ hình tri thức là cái gì gần như vô thức bao trùm lên từng thời đại,
khiến cho cùng một hiện tượng lại được nhận biết rất khác nhau qua từng thời
đại”. Tri thức luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lực - “Cái gọi là chân lý tuyệt đối
chẳng qua là được quyết định bởi địa vị quyền uy cùng hình thái ý thức đại diện
cho nó”.“Cùng với tri thức và quyền lực, trách nhiệm cũng là một trọng điểm
nghiền ngẫm và suy tư của M.Foucault”. “Nếu tri thức là hư cấu của từ ngữ, quyền
lực là hư cấu của sự vật, thì trách nhiệm là hư cấu của chủ thể”. Và “mặc dù trong
từng lúc có thể đột xuất lên một khía cạnh nào đó, nhưng xét trong cả quá trình
nghiên cứu bất kỳ vấn đề gì thì tư duy của M.Foucault đều được song hành bởi ba
phương diện đó”. Với việc giới thiệu và diễn giải ngắn gọn, sáng rõ ba vấn đề
trọng yếu trong hệ thống lí thuyết của M.Foucault, tác giả Phương Lựu không chỉ
cho chúng ta thấy rõ vai trò tiên phong của M.Foucault (cùng với J.Lacan) đối với
sự hình thành và phát triển của tư duy hậu hiện đại, mà còn cho chúng ta hiểu rõ
hơn quan niệm rất sâu sắc của M.Foucault về diễn ngôn.
Năm 2009, tác giả Lã Nguyên, trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại như một
hệ hình thế giới quan, đã bàn về một số “luận điểm nòng cốt” trong hệ hình thế giới
khiếm khuyết trong hệ hình tiếp cận cũ” [144].Việc F. de Sausure đối lập ngôn ngữ
với lời nói, chỉ nghiên cứu ngôn ngữ - hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử
dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp đã bỏ ngỏ phạm vi lời
nói và đây là cơ sở để các nhà ngữ học sau F. de Sausure mở ra lĩnh vực nghiên cứu
mới có tên gọi phân tích diễn ngôn. Theo tác giả Khái niệm diễn ngôn trong nghiên
cứu văn học hôm nay, về cơ bản, có ba hướng nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới:
hướng nghiên cứu diễn ngôn trong ngôn ngữ học, nghiên cứu diễn ngôn trong văn
học và nghiên cứu diễn ngôn theo hướng xã hội học, lịch sử tư tưởng. Ở mỗi hướng
nghiên cứu, tác giả đã xác định những đại diện tiêu biểu và chỉ ra những luận điểm
cơ bản về lí thuyết diễn ngôn của từng hướng. Theo chúng tôi, đây là một công trình
tổng thuật có giá trị về nghiên cứu diễn ngôn, giúp người đọc có ý niệm cơ bản về
tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới.
20
Cũng năm 2013, trong “Diễn ngôn”: Xung quanh chuyện từ dùng và thuật
ngữ đối ứng, Lê Thời Tân đã cho ta ý niệm rõ hơn về thuật ngữ diễn ngôn. Tác giả
bài viết này chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong nghiên cứu diễn ngôn của các
nhà tự sự học như R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette với các nhà ngôn ngữ học.
Tiếp nối tinh thần của các nhà ngôn ngữ học cấu trúc luận, các nhà tự sự học này
gạt qua một bên câu chuyện lời nói để nghiên cứu sáng tác tự sự dưới góc nhìn ngữ
pháp học cấu trúc luận, tức là đã “văn bản hóa” sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyện
kể để tiếp cận nó theo cách mà F.de Saussure xưa kia từng dùng tiếp cận ngôn ngữ;
tuy nhiên, “không gian” nghiên cứu của các nhà tự sự học cấu trúc luận hoàn toàn
khác biệt với khu vực nghiên cứu của các nhà ngữ học. Trên thực tế, các đại biểu
R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette không phải là những nhà ngôn ngữ học thực sự
mà là những người vận dụng tinh thần ngôn ngữ học cấu trúc luận vào nghiên cứu
văn bản tự sự, từ đó đưa đến những ý hướng đặc biệt khi tiếp cận diễn ngôn.
Năm 2013, trong phần mở đầu bản dịch Diễn ngôn như một phạm trù của Tu
từ học và Thi pháp học hiện đại (V.I.Chiupa), nhà nghiên cứu – dịch giả Lã Nguyên
giới thiệu: “nếu các học giả Âu – Mĩ có công hoàn thiện thuật ngữ này như một
phạm trù của ngôn ngữ học và xã hội học, thì M.Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga
biên (2007) .v.v…
Cùng với những công trình giới thiệu quan niệm của các học giả trên thế
giới về diễn ngôn, nhất là của M. Bakhtin và M. Foucault, trong những năm gần
đây xuất hiện một số bài viết, chuyên luận vận dụng quan điểm diễn ngôn của các
học giả này để phân tích các hiện tượng văn học. Dưới đây, chúng tôi điểm qua
một vài công trình đáng chú ý.
Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
1945 của Trần Văn Toàn là một chuyên luận hữu ích với người nghiên cứu diễn
ngôn. Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu khái quát quan niệm về tính dục
của M.Foucault: Theo M.Foucault: “Không nên nghĩ về tính dục như một cái gì đó
tồn tại khách quan mà quyền lực cố gắng kiềm chế hoặc như một lĩnh vực mờ tối
mà tri thức cố gắng từng bước khám phá ra. Tính dục là một tạo tác mang tính lịch
sử (historical construct)”. Một cách khái quát, tính dục có nguồn gốc từ những
thiết chế văn hóa hơn là từ những cơ chế sinh học. Vận dụng quan niệm này của
M.Foucault, Trần Văn Toàn đã đi vào phân tích diễn ngôn về tính dục trong văn
xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945. Nhà nghiên cứu ý thức rất rõ là
22
mình đang nghiên cứu về diễn ngôn tính dục chứ không phải là nghiên cứu tính
dục. Và theo tác giả thì “việc tìm hiểu về diễn ngôn tính dục nếu có một ý nghĩa
nào đó thì chính là ở chỗ: nó giúp ta nhận thấy những nguyên nhân chiều sâu trong
việc kiến tạo và hình thành nên những con người ở một thời đại cụ thể”.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ góc độ diễn ngôn của Nguyễn Thị
Hải Phương cũng là một công trình nghiên cứu văn học theo lí thuyết diễn ngôn.
Trong công trình này, tác giả đã giới thuyết về diễn ngôn – diễn ngôn văn học –
diễn ngôn tiểu thuyết, trên cơ sở đó trình bày các khuynh hướng nổi bật của diễn
ngôn tiểu thuyết Việt Nam đương đại, chỉ ra cơ chế văn hóa xã hội chi phối sự
hình thành và vận hành các khuynh hướng diễn ngôn đó, lí giải tại sao chúng lại là
những khuynh hướng giữ vị trí quan trọng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Tác giả đã đi vào nghiên cứu hệ thống nhân vật chính để xem xét khả năng biểu
đạt tư tưởng của chúng, đồng thời xem xét các phương thức diễn ngôn được biểu