Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Tuân trước cách mạng - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
  

TRẦN VĂN TRỌNG

THI PHÁP TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN
TRƯỚC CÁCH MẠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC HÀ NỘI - 2009


3
MỤC LỤC

Mục lục 1
Phần mở đầu 3
I. Lý do chọ đề tài 3
II. Lịch sử vấn đề 4
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
IV. Mục đích của Đề tài 12
V. Phương pháp nghiên cứu 12
VI. Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: Quan niệm nghệ thuật về con người 13
1.1. Một số vấn đề lí luận 13
1.2. Quan niệm về con người của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn 15
1.3. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân 21
1.3.1. Nhân vật tài hoa nghệ sĩ 21
1.3.2. Nhân vật huyền thoại…………………… 31
Chương 2: Không gian và thời gian nghệ thuật 44
2.1. Không gian nghệ thuật 44
2.1.1. Một số vấn đề lí luận 44
2.1.2. Các kiểu không gian trong truyện ngắn Nguyễn Tuân 45
2.1.2.1. Không gian “cổ kính” 45
2.1.2.2. Không gian hư ảo 50
2.1.2.3. Không gian “xê dịch” 56
2.2. Thời gian nghệ thuật 59
2.2.1. Một số vấn đề lí luận 59
2.2.2. Các hình thức thể hiện thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Tuân. 60
2.1.3.1. Thời gian dĩ vãng 60
2.1.3.2. Thời gian huyền thoại 63


cứu văn học. Sự xuất hiện của nó đem lại một không khí mới mẻ cho phong trào
học thuật cũng như nghiên cứu văn học trên thế giới trong nửa cuối thế kỷ XX.
Ở nước ta, hướng nghiên cứu này đã có vài thập niên trở lại đây nhưng và
thu hút được sự chú ý của đông đảo các nhà lí luận phê bình. Ở luận văn này
chúng tôi đi vào khảo sát truyện ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng dưới góc độ
thi pháp học.
1.2. Trước Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Tuân là một hiện tượng văn học
phức tạp nhưng cũng gây được nhiều hứng thú. Nói như nhà văn Vũ Ngọc Phan
thì Nguyễn Tuân “là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng, cả về lối văn lẫn về
tư tưởng”. Ông đã xây dựng cho mình một vị trí riêng, vững chắc, không dễ gì
thay thế được. Thật vậy, dù cho bạn đọc ở thế hệ cùng thời hay những con người
mai hậu khi tiếp xúc với các sáng tác (cũng như con người) Nguyễn Tuân đều có
những hứng thú và niềm say mê lạ kỳ với những tác phẩm “như có một dấu triện
riêng” này.
1.3. Các sáng tác của Nguyễn Tuân đã được chọn lọc đưa vào giáo trình, các
chuyên đề ở bậc Đại học và sách giáo khoa ở bậc Phổ thông. Nguyễn Tuân là một
trong những tác gia văn học lớn có nhiều cống hiến cho nền văn học nước nhà. Vì
vậy việc nghiên cứu toàn bộ các tác phẩm của Nguyễn Tuân nói chung và truyện
ngắn Nguyễn Tuân nói riêng dù ở giác độ này hay giác độ khác cũng là một sự
cần thiết để nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn về tác giả này.

6
1.4. Khi chọn vấn đề nghiên cứu văn học từ hướng tiếp cận thi pháp học là
chúng tôi lựa chọn một tiêu chí, một phương pháp, một cách thức để nhận diện
đối tượng mà cụ thể ở đây là truyện ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Cũng
như bất kì một phương pháp nào, thi pháp học không phải là một “chiếc chìa khóa
vạn năng”, nó cũng có những điểm “khả thủ” và những hạn chế trong khi tiếp cận
đối tượng (đặc biệt đối với một nhà văn có phong cách vốn được xem là phức tạp
như Nguyễn Tuân). Vì vậy, chúng tôi không máy móc khi tìm hiểu và lí giải về
truyện ngắn Nguyễn Tuân.

tiếc những cái đã qua, và cố sức làm sống lại cả một thời xưa cũ, một thời gần
chúng ta quá, nhưng mà đối với chúng ta như đã xa lạ vì không ai gợi đến vẻ đẹp
và những cái cao quý riêng”. Sau rất nhiều những mĩ từ dành cho Nguyễn Tuân
và tập VBMT, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Tuân là nhà văn có tài năng đặc biệt,
một nghệ sĩ có lương tâm, ở người đó chúng ta đặt những niềm hi vọng tốt đẹp
nhất về sự nghiệp”. Và nếu Thạch Lam còn được sống lâu hơn thì ông đã thấy
được sự mong muốn của mình thành sự thật. Dù chỉ qua bài viết rất ngắn (khoảng
3 trang), nhưng Thạch Lam đã có cái nhìn tinh tế và sâu sắc về lối hành văn của
Nguyễn Tuân trong VBMT.
Sau Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan cũng đã đánh giá rất cao Nguyễn Tuân qua
tập truyện VBMT. Trong cuốn Nhà văn hiện đại (1942), Vũ Ngọc Phan cho
rằng: Nguyễn Tuân đã “gần đạt đến sự toàn thiện, toàn mĩ”. Nguyễn Tuân đã làm
cho “văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông và những ý
kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc
thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi như một bức phác họa, những bao giờ
nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”. Văn Nguyễn Tuân mang
thần cốt của một con người “đặc Việt Nam” và “chỉ những người ưa suy xét đọc
Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải là thứ văn để
người nông nổi thưởng thức”. Có thể nói, những nhận định của Thạch Lam và Vũ
Ngọc Phan rất tinh tế và đúng về Nguyễn Tuân - là người gắn bó, trân trọng và

8
say mê vẻ Đẹp xưa cũ dù ít nhiều còn mang tính cảm nhận, ấn tượng. Tuy nhiên,
cả hai nhà phê bình đều chưa làm rõ cái hay, cái độc đáo ấy của Nguyễn Tuân
được biểu hiện ở chỗ nào (!?). Đây cũng là vấn đề còn bỏ ngỏ của những bài viết
trước Cách mạng về sáng tác của Nguyễn Tuân, dường như còn nghiêng về cảm
tính, chủ quan.
2.2. Từ sau Cách mạng đến năm 1975
Từ sau Cách mạng đến hết kháng chiến chống Pháp, nhìn chung do yêu cầu
của lịch sử nên không chỉ tác phẩm của Nguyễn Tuân mà cả các tác phẩm văn học

“thiên ưu” và nhận xét: “Phó Sứ, Cử Hai chính là tiền thân của cái anh chàng
Nguyễn “thiếu quê hương”, đã trước bạ cuộc đời mình vào địa dư trái đất và luôn
thèm đi để “hưởng cho nhiều cái bất thình lình và mọi cái không chờ đợi”. Cái thú
xê dịch, giang hồ chính cũng là một lối thoát của Nguyễn Tuân, một thái độ phản
ứng tiêu cực trước cuộc đời mà ông đã chán ghét”. Với hàm ý này, Phan Cự Đệ
đã bắt đầu nhận ra hình tượng tác giả được bộc lộ qua hệ thống nhân vật - một nét
đặc trưng trong hệ thống nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân.
Có thể thấy, dù rất cố gắng nhưng những nhà nghiên cứu cả Nam lẫn Bắc
trong thời kỳ 1945 - 1975 đều mới chỉ đề cập đến khía cạnh tư tưởng của nhà văn
mà chưa đi sâu tìm hiểu để khái quát được những đặc sắc về mặt nghệ thuật trong
sáng tác của Nguyễn Tuân. Đặc biệt các nhà nghiên cứu miền Bắc còn dè dặt khi
nói về truyện ngắn của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Đây là một hạn chế có tính
lịch sử. Hạn chế này sẽ được chính họ và các nhà nghiên cứu thế hệ sau khắc phục.
2.3. Từ sau năm 1975 đến nay
Từ sau khi đất nước thống nhất, việc đánh giá và tiếp nhận Nguyễn Tuân nói
chung và truyện ngắn Nguyễn Tuân nói riêng ngày càng cởi mở hơn. Hầu hết các
bài viết đều lột tả đúng phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong các sáng
tác của ông. Người có công đầu là nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh. Với niềm
hứng thú, say mê Nguyễn Tuân của mình, ông đã có nhiều bài viết, nhiều công
trình được công bố về Nguyễn Tuân. Một số bài viết tiêu biểu: “Lời giới thiệu” in

10
trong Nguyễn Tuân tuyển tập (1981), “Tản mạn về Nguyễn Tuân (1987), Mấy lời
về Nguyễn Tuân” (1987), “Đọc lại Chùa đàn của Nguyễn Tuân” (1989)… Trong
“Lời giới thiệu”, Nguyễn Đăng Mạnh đã có những khám phá mới mẻ về sáng tác
của Nguyễn Tuân trên nhiều phương diện, từ tư tưởng đến phong cách, đặc biệt là
nghệ thuật ngôn từ. Nguyễn Đăng Mạnh đã đưa ra nhận định: “Nguyễn Tuân là
hiện tượng văn học phức tạp, nhất là trước Cách mạng Tháng Tám”. Ông chỉ ra:
tính phức tạp ấy là do sự chi phối của quan điểm sáng tác và do sự chi phối của
hoàn cảnh xã hội. Bằng cái nhìn đa chiều, toàn diện dựa trên văn bản cụ thể và

tìm ra nguồn ảnh hưởng, nguyên nhân sâu xa của quan niệm đó để từ đó chỉ ra sự
phát triển trong tính thống nhất và nhất quán về tư tưởng nhà văn trong quan niệm
về cái Đẹp. Cuối cùng ông khẳng định những đóng góp của Nguyễn Tuân trên
văn đàn: “Trên con đường đi tới một cái đẹp chân chính, đích thực Nguyễn Tuân
đã có nhiều tìm tòi và phát hiện mới mẻ, đạt tới những giá trị thẩm mĩ thực sự”.
Hành trình đi tìm cái Đẹp của Nguyễn Tuân đã thu hút được sự chú ý và say
mê nghiên cứu của rất nhiều tác giả. Nguyễn Thị Thanh Minh có hẳn một chuyên
luận được mang tên Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong sáng tạo nghệ
thuật xuất bản năm 2004 cũng là một sự lí giải, cắt nghĩa quan điểm trên ở mức độ
rộng hơn và bao quát hơn. Ngôn ngữ cũng là một phương diện rất được chú ý như
bài “Nguyễn Tuân - Bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ Việt Nam” của Mai Quốc Liên,
“Thầy chữ Nguyễn Tuân” của Hà Bình Trị, “Nguyễn Tuân là nhà nghệ sĩ ngôn từ
đã đưa cái Đẹp thăng hoa” của Hoài Anh,… Nhìn chung, những bài viết này đều
khẳng định và ca ngợi cái Tâm - cái Tài của Nguyễn Tuân - “Một định nghĩa chân
chính về người nghệ sĩ”, người luôn yêu chuộng và nâng niu cái Đẹp.
Nghiên cứu Nguyễn Tuân theo hướng thi pháp học có bài viết “Chất thơ
trong VBMT” trong cuốn Thi pháp hiện đại (2000) của nhà nghiên cứu Đỗ Đức
Hiểu. Đỗ Đức Hiểu còn được xem là một trong những người đầu tiên vận dụng thi
pháp học phương Tây vào nghiên cứu văn học Việt Nam. Trong bài viết, ông chỉ
ra ở VBMT có ba motif: motif buổi chiều máu, motif sương mờ và motif Liêu

12
trai; và chỉ ra: “Vang bóng là chất thơ bao trùm ba motif trên; một thời chỉ rõ một
thời kỳ lịch sử cụ thể, lúc giao thời. Nguyễn Tuân con người lãng tử, khí phách,
độc lập ấy, đã nhìn sâu vào lịch sử bằng con mắt nghệ sĩ, tìm thấy một phương
diện cái đẹp, cái hào hùng và cái thuần khiết của tâm hồn trong buổi giao thời
nhập nhoạng, một thời kỳ lịch sử bị bạo lực vi phạm thô bạo”. Từ motif ông đi
vào tìm hiểu không gian - thời gian, nhân vật và ngôn ngữ của tác phẩm để đưa ra
những luận giải, khái quát hết sức tài hoa, tinh tế đầy chất nghệ sĩ đúng với phong
cách phê bình của ông. Cuối cùng, ông đi đến kết luận: “Mười hai truyện trong

tiếng nói góp phần làm phong phú hơn diện mạo nhà văn Nguyễn Tuân.
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân vô cùng đồ sộ trải dài hơn năm mươi
năm cầm bút từ cuối những năm 30 của thế kỷ trước cho đến khi ông qua đời - năm
1987. Ở mỗi giai đoạn sáng tác của mình, người nghệ sĩ tài hoa bậc nhất này đều để
lại cho đời những trái ngọt, những tác phẩm có thể xếp vào hàng kiệt tác của văn
học Việt Nam hiện đại. Dẫu biết khuôn khổ của một luận văn có những giới hạn
nhất định về dung lượng nhưng chúng tôi vẫn cố gắng khảo sát để bước đầu có một
cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về toàn bộ những sáng tác truyện ngắn của
Nguyễn Tuân được in trong cuốn Nguyễn Tuân truyện ngắn (Nxb. Văn học, H,
2006) gồm: Từ truyện ngắn đầu tiên đăng báo viết theo lối văn biền ngẫu: Vườn
xuân lan tạ chủ (1935) cho đến truyện ngắn cuối cùng được viết năm 1950 là Quán
tươi. Trong đó có các tập truyện ngắn nổi bật như VBMT, Nguyễn và tập truyện
mà sau này nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh tập hợp lại in thành tập truyện đặt
tên là YN (1999). Mặt khác, tác phẩm Chùa Đàn được ra đời sau năm 1945 nhưng
do sự thống nhất mạch nguồn “yêu ngôn” nên trong luận văn này chúng tôi cũng lấy
phần II - Tâm sự của nước độc như một đối tượng để nghiên cứu.
Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Tuân, chúng tôi chủ yếu sử dụng các truyện
được in trong Nguyễn Tuân truyện ngắn (Nxb. Văn học, H.2006), đối chiếu với
bộ Nguyễn Tuân tuyển tập (Ba tập, Nxb. Văn học, H.2005) do Lữ Huy Nguyên

14
tuyển chọn. Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm Nguyễn Tuân toàn tập (5
tập, Nxb. Văn học, H.2000) do nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn và
giới thiệu.
IV. Mục đích của Đề tài
4.1. Chọn đề tài Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng
tác giả luận văn muốn đạt đến hai mục đích: một là, tìm hiểu một cách hệ thống
những thành tựu mà Nguyễn Tuân thể hiện trong thể loại truyện ngắn trước Cách
mạng; hai là, tiếp cận nhà văn từ một hướng nghiên cứu thi pháp học.

con người bằng cách thức riêng của mình với tất cả sự phong phú, phức tạp và bí ẩn
của thế giới nội tâm con người.
Vì vậy, thi pháp học đưa ra khái niệm: “Quan niệm nghệ thuật về con người là
sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc,
phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật
và thẩm mĩ cho các hình tượng trong đó” [81;tr.59]. Bởi con người trong văn học
chính là nơi thể hiện trình độ tổng hợp của nhận thức và thể hiện nghệ thuật, là
phương pháp sáng tác, phong cách, thế giới quan trong sự vận động của chính tác
giả. Con người trong văn học thực chất là sự cắt nghĩa và quan niệm về con người
được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, trong cách miêu tả con người, trong các
hệ thống, các hình ảnh tượng trưng, các nguyên tắc miêu tả tính cách, tâm lý… Con
người trong văn học không phải là con người có trong thực tế và tâm hồn nhà văn
cũng không phải là tấm gương đơn thuần cho sự vật phản chiếu vào một cách cơ
học, máy móc. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật bao giờ cũng theo những cách hình
dung, cũng như cách cảm nhận của riêng mình. Bởi trong nghệ thuật, sự miêu tả bao
giờ cũng nhằm đạt một lúc hai mục đích: Thứ nhất, gợi ra khách thể, sự vật được
hiện diện trước mắt; thứ hai, gợi ra chủ thể, sự cảm thụ, cách nhìn chủ quan với

16
chúng. Như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhận định: “Chính phương diện cảm
thụ này (tức bản thân nhà văn - TVT), cách nhìn này là quan niệm nghệ thuật về con
người đối với nhân vật, mà muốn cảm thụ nhân vật một cách chỉnh thể, toàn vẹn thì
không thể bỏ qua được” [81;tr.60].
Như vậy, muốn khám phá sự cảm nhận về con người tới mức độ nào thì cần
phải khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong hình thức miêu tả
nhân vật. Theo Trần Đình Sử: “Phân tích thi pháp là khám phá cách cảm nhận con
người qua việc miêu tả nhân vật chứ không phải chỉ ra những nội dung phong phú
được thể hiện trong nhân vật [81;tr.60]. Tuy nhiên, hai nhiệm vụ này không thể tách
rời nhau, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Một khi đã hiểu quan
niệm con người được miêu tả thì sẽ hiểu nhân vật sâu sắc và toàn diện hơn.

“Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời,
quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu.
Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất,
gọi hề đồng pha nước trước hiên mai” [9;tr.89].
Và xét trong hệ thống nhân vật mà Nguyễn Tuân đã dày công xây dựng ta thấy
rất rõ quan niệm này của nhà văn. Nguyễn Tuân trước Cách mạng là một hiện tượng
văn học phức tạp. Trong ông luôn tồn tại nhiều tư tưởng, quan niệm đối lập, đấu
tranh với nhau. Điều đó phần nào tạo nên nhưng mâu thuẫn trong thế giới quan của
ông. Tuy nhiên, như K. Marx chỉ ra: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập là động lực của sự phát triển. Phức tạp là thuộc tính vốn có của văn học nói
chung và của tư tưởng nhà văn nói riêng. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Nguyễn
Tuân là nhà văn “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Bản thân ông trong tác phẩm của mình
đã hơn một lần thừa nhận điều đó: “Mỹ Thuật vốn không bà con với Luân Lý của
thời đại. Một thằng ăn cắp đã trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt túi người ta rất
gọn và nhanh” [9;tr.419]. Và ở trong một tác phẩm khác, ông cũng từng mong
muốn: “Đã có bao giờ tôi được viết để ca ngợi những cái gì mà người khác đều gọi
là vô ích… được cùng ngậm ngùi với đời tình ái của một cánh bèo” (Những đứa
con hoang).

18
Về điểm này, ta thấy Nguyễn Tuân có nhiều điểm “gặp gỡ” Thạch Lam và các
nhà văn Tự Lực văn đoàn. Thạch Lam cũng quan niệm: Văn chương là văn chương,
văn chương chỉ vì nghệ thuật, vì cái Đẹp mà thôi. Tuy nhiên, do cách tiếp cận, khám
phá của mỗi nhà văn khác nhau mà trong tác phẩm của họ sự biểu hiện đậm nhạt
cũng khác nhau. Nếu như cái Đẹp của Nguyễn Tuân thường hướng vào sự cầu kỳ,
khác lạ ít ai làm được, gắn với một thời “vang bóng”, được thể hiện đa dạng, độc
đáo, mỗi chữ dùng là một dụng công nghệ thuật và in dấu tài hoa của nhà văn thì
Thạch Lam đi sâu vào cái Đẹp nhân tính, cái Đẹp của tình người, dù ở đâu, trong
hoàn cảnh nào, tầng lớp người nào thì điều nhà văn quan tâm là phát hiện cho được
nét đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ để đồng cảm, để ngợi ca. Đó là nét độc

Về mạch truyện yêu ngôn: Nguyễn Tuân dự định cho ra một tập truyện lấy tên
là Yêu ngôn (viết tắt: YN) rút ra từ VBMT hai truyện, gộp chung với một số truyện
viết theo lối liêu trai của Bồ Tùng Linh đã đăng tải ở các tạp chí trong khoảng
những năm đầu thập niên 40 của thế kỉ trước. Về tư tưởng, có thể nói YN thể hiện
sự bế tắc của nhà văn, tuy nhiên về văn phong nghệ thuật thì những tác phẩm trong
giai đoạn này đã khẳng định đỉnh cao của một văn tài mà sau này Nguyễn Tuân
không dễ gì vượt qua được. Tuy YN có giá trị tích cực nhưng tiếc thay đã có thời
không được chính Nguyễn Tuân “bảo vệ” những đứa con tinh thần này. Như trong
Xác Ngọc Lam, khi biết suy nghĩ thực dụng đê tiện của Huyện Khỏe muốn lợi dụng
xác cô Dó - một khối thúy ngọc toàn bích - Chiêu Hiện đã vô cùng ân hận. Ngay sau
đêm biết được điều đó, Chiêu Hiện đã rời bỏ khỏi nhà của tên bạo phú. Khác với
Chiêu Hiện đã chót thờ một tên bạo phú bạc tình, Bá Nhỡ trong Chùa Đàn đã cảm
cái tình của chủ mình là Lãnh Út với vợ mà tâm niệm: “Ta muốn trở nên một chút
ánh sáng, ta muốn trở nên một cái đốm lửa để làm bừng dậy lòng con người tê dại
này” [6;tr.383]. Nhưng vẫn còn một sự thôi thúc khác nữa tác động đến quyết định
liều mình của Bá Nhỡ, mà nhân vật này suy nghĩ: “Ta có nên quyến luyến với cái
thể xác ta nữa không? Ta thử nghĩ xem ta có còn để dành ta vào việc gì khác nữa
không? Hay những ngày mai ngày kia cũng chỉ là sự tái hiện của ngày này thôi!
Đổi tên đổi tuổi lên cái ấp nuôi tằm để rồi chết mà hết hẳn ở đây hay là hết ở một

20
chỗ nào khác trong không gian?” [8;tr.383]. Nỗi niềm ấy cũng gần với tâm sự của
một chàng Nguyễn “đã có mấy chục trăm đêm như thế” soi bóng trong bãi nước
giải của chính mình, để rồi quẫn chí tìm mượn súng lục của bạn “để bắn vào cái
bóng thằng người này”. Và cũng không thật khó để lí giải vì sao Nguyễn Tuân lại
để cho Bá Nhỡ nhất quyết ôm đàn vào cuộc chơi tuyệt mệnh. Đó không chỉ là hành
động để báo ân, mà còn để tìm một kết cục ý nghĩa cho cuộc đời “lỡ dở” của nhân
vật này. Ta thấy ở đây đã thể hiện rõ những tư tưởng về cuộc sống, những quan
niệm về cái Đẹp hết sức tích cực của nhà văn. Nhưng có lẽ, ở vào giữa xu thế
chung, vào dòng chảy đầy biến động của lịch sử dân tộc thế kỷ XX nên vào những

hiện thực để tạo ra khả năng kiến giải đa dạng trước những kết thúc mang tính gợi
mở của truyện cũng như hình tượng nhân vật trong tác phẩm.
1.2.2. Cũng như các nhà văn, nhà thơ cùng thời (nhất là các nhà Thơ mới),
Nguyễn Tuân có ý thức sâu sắc nhất về cái Tôi - cá nhân của mình. Đặc biệt là trong
những sáng tác trước Cách mạng. Trong nhiều tác phẩm, đặc biệt trong tập truyện
Nguyễn, Nguyễn Tuân đã đề cao cái tôi đến mức cá thể hoá, tuyệt đối hoá nó lên
thành “chủ nghĩa”. “Không cho ai bắt trước được mình, chết là mang cả cái bản
chính đi chứ không để lại một bản sao nguyên cảo nào hết”. Cá tính sáng tạo đã tạo
nên sự đặc sắc trong các sáng tác của ông. Bởi theo ông, “chỉ có cá tính của người
nghệ sĩ mới đem lại ánh sáng của tri thức”.
Nguyễn Tuân quan niệm: “Viết là để đi tìm nhân loại, tìm ở trong tôi (tôi là
một phần tử của nhân loại) và tìm ở các người. Tìm nhau để cho được hiểu nhau.
Trong đời sống đầy mâu thuẫn oan khiên và tủi khuất này, chúng ta thảy đều là
những cái Muôn-Vàn gồm trong cái Chỉ-Có-Một”. Muốn hiểu được tâm trạng của
Nguyễn Tuân trước Cách mạng phải đặt nhà văn vào hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ
thể. Trước Cách mạng, Việt Nam là nước thuộc địa thực dân nửa phong kiến với
một thể chế mục nát, xã hội “kim tiền ô trọc”, “ối a ba phèng”… các ý thức hệ tư
tưởng mà nói như nhà nghiên cứu Tôn Thảo Miên, đó là “thời kỳ đấu tranh của hệ
tư tưởng phong kiến đang sụp đổ, hệ tư tưởng tư sản đang lên và hệ tư tưởng vô sản
bắt đầu xuất hiện” [62;tr.74]. Bởi “con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã
hội” vì vậy, cũng thật dễ hiểu vì sao những tư tưởng ấy lại nảy sinh ở Nguyễn Tuân.
Tuy nhiên là một nhà văn tài hoa, có cá tính mạnh mẽ ông phản ứng lại cái xã hội
đó như một tất yếu: “phải đương đầu. Phải khai chiến. Phải đánh nhau với xung

22
quanh” [9;tr.388]. Và khẳng định sự tồn tại của cá nhân mình trong xã hội là một
phản ứng tất yếu có tính lịch sử.
Phàm những người khi đã tự tin vào mình, hay nói đúng hơn là tự ý thức cao
độ về mình thì phải là những người có tài năng kiệt xuất, nhìn nhận ở một phương
diện nào đó thì Nguyễn Tuân là một người như vậy. Chính quan niệm đó đã sản

Chém treo ngành, Chùa Đàn nhất là trong tập truyện Nguyễn.
Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ cho nên dù
không thể đồng nhất với con người có thật nhưng với Nguyễn Tuân, thế giới nhân
vật trong tác phẩm của ông rất gần với một Nguyễn Tuân ở ngoài đời. Theo M.
Bakhtin, tương quan nhân vật - nhà văn phụ thuộc vào hai nhân tố: “1. lập trường
(công nhiên hoặc che giấu) của tác giả trong quan hệ với nhân vật (lập trường đó có
thể là: anh hùng hóa, mỉa mai, chế nhạo, đồng cảm…); và 2. bản chất thể loại của
tác phẩm (ví dụ trong văn trào phúng sẽ có kiểu quan hệ của tác giả đối với nhân vật
khác với trong văn xuôi tâm lí)” [76;tr.1255]. Theo mức độ tương quan nhân vật -
nhà văn mà M. Bakhtin chỉ ra thì Nguyễn Tuân và hệ thống nhân vật trong truyện
ngắn của ông ở “mức tối thiểu” (“mức tối đa” là nhân vật đối lập, đối thoại với tác
giả), tức nhân vật và nhà văn mang những nét chung về tư tưởng, hiển nhiên lúc
này, những thiên truyện ngắn của Nguyễn Tuân trở thành “tấm gương soi những tìm
tòi về tinh thần nhân vật, cũng là bước đường tư tưởng của nhà văn” (Lại Nguyên
Ân) [76;tr.1255]. Nếu xét trong hệ thống nhân vật, sự chuyển biến tư tưởng cũng
như hệ đề tài trong các truyện ngắn của Nguyễn Tuân là rất rõ ràng. Con đường mà
Nguyễn Tuân đi cũng là con đường chung của các nhà văn lãng mạn Việt Nam
(nhất là các nhà Thơ mới) trước Cách mạng Tháng Tám: từ tích cực sang đến tiêu
cực và cuối cùng là lâm vào khủng hoảng, bế tắc.
1.3. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
1.3.1. Nhân vật tài hoa nghệ sĩ
Trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng có ba mảng đề tài tương
đối phổ biến và bao quát là: quá khứ của một thời vang bóng, giang hồ xê dịch và
cuộc sống trụy lạc (riêng mảng đề tài này tập trung chủ yếu ở các phóng sự và tùy
bút). Có thể khẳng định như ý kiến chung của các nhà nghiên cứu, các tác phẩm giai

24
đoạn này thể hiện rõ nhất phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân và là những tác
phẩm thành công nhất của nhà văn. Nguyễn Tuân lâu nay vẫn được mệnh danh là
“ông vua của thể tùy bút” nhưng nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thiếu

khoa cử, giáo dục mục nát, giáo điều như vậy, những người như Đào Vân Hạc - một
Nho sĩ tài hoa, phóng túng sẽ trở thành nạn nhân là điều không thật khó để lý giải.
Khác với Lều chõng, Nhà nho và Thanh đạm lại lý tưởng hóa, thi vị hóa
cảnh sinh hoạt, lối sống lễ nghi và phẩm chất thanh nhã của các bậc hàn Nho
nước Việt xưa. Lê Sĩ Cư trong Thanh đạm, Nguyễn Đức Tâm trong Nhà nho là
những người có tài được lựa chọn để xuất thế cứu đời. Cả hai nhà văn Chu Thiên
và Nguyễn Công Hoan đều đứng trên lập trường phong kiến, đạo đức Nho gia để
ca ngợi những nhà Nho chính thống về tài năng, và nhất là nhấn mạnh đến “chữ
Đức” theo quan niệm của Nho gia.
Khác với các nhà văn Chu Thiên và Nguyễn Công Hoan, trong Lều chõng,
Ngô Tất Tố tiếp cận một thời xưa cũ ấy từ giác độ xã hội và đạo đức, còn Nguyễn
Tuân trong VBMT lại tiếp cận nó từ giác độ thẩm mĩ, từ nhân học văn hóa. Trong
tập truyện này, ta bắt gặp một thế giới đầy ắp những con người tài hoa nghệ sĩ. Họ
đều hiểu và yêu mến cái Đẹp, đôi khi còn xem là “đạo của người tài tử”. Đối với
Nguyễn Tuân, cái tài ở đây “có nghĩa là tài hoa”, tài là nghệ thuật, là cái tài theo
quan niệm của các nhà Nho tài tử như Cao Bá Quát thể hiện trong bài Tài tử đa
cùng phú [94;tr.286,287]:
“Có một người:
Khổ dạng trâm anh,
Nết na chương phủ.
Hơi miệng sữa, tuổi còn giọt máu, nét hào hoa chừng ná Tân Dương!
Chòm tóc xanh, vừa chấm ngang vai, lời khí nghiệp những so Y, Phó.
Nghiêng gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điểm lăn tăn!
Bút vén mây dìu dặt văn chương, vòng thuyền khuyên lỗ chỗ”
Và nói như Thạch Lam: Nguyễn Tuân là “một nhà văn kính trọng và yêu mến
cái Đẹp, coi công việc sáng tạo là công cuộc quý báu và thiêng liêng” cho nên biết
cái Đẹp không dễ tìm trong hiện thực lúc bấy giờ, ông trở về với một thời “vang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status