Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh
===============
Lê thị thanh thuỷ
quá trình đấu tranh giành và giữ chính
quyền
ở Hoàng hoá, thanh hoá (1939 1945)
luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
mã số: 60.22.54
ngời hớng dẫn:
TS. Trần văn thức
vinh - 2008
Lời cảm ơn
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Trần Văn Thức
- Ngời thầy đã tận tình hớng dẫn giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Lịch sử,
khoa sau Đại học trờng Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ, động viên tác
giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trờng.
1
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn ông Lê Trung Tấn (nguyên là
cán bộ ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Tỉnh Thanh Hoá), Phòng lu
trữ ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hoá. Ban tuyên giáo
3.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
9
4.
Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
10
5.
Bố cục của đề tài
11
Chơng 1. Khái quát phong trào cách mạng ở Hoằng Hoá thời kỳ
1930-1939
12
1.1.
Vị trí địa lý và đặc điểm c dân Hoằng Hoá
12
2.2.
Sự tái lập chi bộ Đảng ở Hoằng Hoá 6 - 1944
50
2.3.
Hoằng Hoá sau ngày Nhật đảo chính Pháp
57
Chơng 3 : Cuộc khởi nghĩa giành và giữ chính quyền ở Hoằng
Hoá năm 1945
69
3.1. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hoằng Hoá (24 - 7 - 1945)
3.1.1. Điều kiện khách quan và chủ quan cho một cuộc khởi nghĩa
69
69
3.1.2. Diễn biến, kết quả của cuộc khởi nghĩa
72
3.1.3. Sự sáng tạo, linh hoạt của cấp bộs Đảng và Ban Việt Minh Hoằng Hóa
trong khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24 - 7 - 1945.
78
1. Lý do chọn đề tài
Đã hơn 60 năm lùi vào quá khứ, nhng khi nhắc đến những sự kiện tiêu
biểu nhất của thế kỷ XX ở Việt Nam, ngời ta không quên nhắc đến Cách
mạng tháng Tám năm 1945, một sự kiện vĩ đại nhất, dấu ấn sâu đậm nhất
trong dòng chảy của lịch sử dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện có
ý nghĩa, mang tính thời đại và bớc ngoặt lớn của dân tộc Việt Nam, nó không
những chỉ có ý nghĩa với quốc gia, dân tộc mà còn mang ý nghĩa quốc tế nh là
sự phổ quát học thuyết Mác - Lênin và Cách mạng tháng Mời Nga trên toàn
thế giới.
Đối với lịch sử dân tộc, Cách mạng tháng Tám đã đa nhân dân ta từ thân
phận nô lệ lên làm ngời tự do, làm chủ xã hội, từ địa vị là thần dân trở thành
những công dân. Xoá bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm trong lịch
sử, xoá bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật hàng thế kỷ.
Với tầm quan trọng đó nên cách mạng tháng Tám đã thu hút nhiều sự
quan tâm chú ý của giới nghiên cứu sử học trong và ngoài nớc.
Để có đợc những thắng lợi vĩ đại và ít đổ máu, Cách mạng tháng Tám đợc chuẩn bị trong một quá trình 15 năm tôi luyện, phấn đấu, trởng thành của
Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn thể ngời dân Việt Nam yêu nớc.
Những thắng lợi đó có sự đóng góp vô cùng to lớn của tất cả các địa phơng trên toàn quốc. Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân Hoằng
Hoá.
Hoằng Hóa là một huyện lớn cách thành phố Thanh Hóa 3 km về phía
Đông Bắc nằm trên đờng quốc lộ 1A. Là một huyện có bề dày truyền thống
trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc, trong suốt chiều dài lịch sử, Hoằng Hóa đã
góp phần viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc, đặc biệt từ khi Đảng
4
ra đời truyền thống yêu nớc và phong trào cách mạng của Hoằng Hóa càng đợc khơi dậy.
Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Hoằng Hóa đợc xem là địa phơng có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, để lại nhiều
Cách mạng tháng Tám, giúp cho những nhà lãnh đạo nhìn nhận đợc vai trò,
5
tầm quan trọng về truyền thống và vị trí, về sức mạnh trong việc huy động sức
dân phục vụ cho công cuộc đổi mới xây dựng quê hơng ngày càng giàu mạnh.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa chọn và đi sâu
nghiên cứu, Quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền ở Hoằng Hóa,
Thanh Hóa (1939 - 1945).
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Trong khoảng 10 năm gần đây, việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử
địa phơng đợc quan tâm và trở thành một nhu cầu thực sự quan trọng của
những nhà nghiên cứu lịch sử. Bởi xét cho cùng, lịch sử địa phơng là một phần
máu thịt không thể tách rời của lịch sử dân tộc, chính lịch sử của nhiều địa phơng đã làm nên lịch sử dân tộc, cho nên việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử
địa phơng trở thành mối quan tâm của nhiều cấp, ngành và các nhà sử học.
Cách mạng tháng Tám 1945 sự kiện đánh dấu bớc ngoặt của lịch sử dân
tộc Việt Nam. Xét trên phạm vi toàn quốc, có rất nhiều công trình nghiên cứu
đã đợc công bố nh: Cách mạng tháng Tám (1945) - Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng Trung ơng, NXB Sự thật, Hà Nội, 1971; Cách mạng tháng Tám của
Viện Sử học, Hà Nội, 1960; Trần Văn Giàu, Sự phát triển của t tởng Việt
Nam từ thế kỷ 19 đến Cách mạng tháng Tám, nhà xuất bản chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997
2.2. Khi nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa nói chung và Cách mạng tháng
Tám ở Thanh Hóa nói riêng, Hoằng Hóa đợc xem là một trong những địa phơng đợc các nhà nghiên cứu lu tâm nhiều nhất, bởi trong lịch sử hình thành và
phát triển của Thanh Hóa thì Hoằng Hóa luôn đóng góp một phần xứng đáng.
Đặc biệt, giai đoạn (1939 -1945) là giai đoạn lịch sử đợc hầu hết các
công trình nghiên cứu của Tỉnh và các cuộc hội thảo giành một phần đề cập
đến Hoằng Hóa ở mức độ nhiều hay ít.
Hiện nay, chúng tôi tiếp cận đợc nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập
đến cuộc vận động và giành chính quyền ở Hoằng Hoá đợc công bố nh: Ban
Đảng bộ và nhân dân huyện Hoằng Hoá, nhà xuất bản Thanh Hoá (1985) đề
cập đến Hoằng Hoá trong giai đoạn (1939- 1945), Những sự kiện lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Hoằng Hoá (1925-1954) nhà xuất bản
Thanh Hoá (1982), cũng trình bày những sự kiện lịch sử tiêu biểu ở Hoằng
Hoá thời kỳ (1935-1945).
2.4. Ngoài ra, tính đến nay nhiều xã trong huyện cũng đã tiến hành tốt
công việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử của địa phơng mình. Chính vì vậy
việc giành chính quyền cũng nh việc giữ chính quyền ở các địa phơng trong
huyện cũng đợc tái hiện lại một cách khái quát thông qua những sự kiện và
nhân vật liên quan đến việc giành và giữ chính quyền ở Hoằng Hoá, có thể kể
ra nh :
Ban Chấp hành Đảng bộ và Uỷ Ban nhân dân xã Hoằng Ngọc, Lịch sử
phong trào cách mạng và nhân dân xã Hoằng Ngọc (1945 1995), công ty
in Thơng Mại - Bộ Thơng Mại, xuất bản 1997.
7
Đảng uỷ và Uỷ Ban nhân dân xã Hoằng Đạo, Lịch sử phong trào cách
mạng và nhân dân xã Hoằng Đạo (1930 2005), nhà in báo Thanh Hoá,
xuất bản 2005.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ xã Hoằng Lộc (1953
2005), nhà in báo Thanh Hoá, xuất bản 2005.
Đảng bộ xã Hoằng Thắng, Lịch sử Đảng bộ và phong trào Cách
mạng nhân dân xã Hoằng Thắng (1945 2005), nhà xuất bản Thanh
Hoá 2005.
Đảng uỷ- Hội Đồng nhân dân - Uỷ Ban nhân dân xã Hoằng Phúc,
Lịch sử phong trào cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Hoằng
Phúc (1930 2005, nhà in báo Thanh Hoá, xuất bản 2005.
Ban Chấp hành Đảng bộ xã Hoằng Tiến - huyện Hoằng Hoá - Tỉnh
chốt quan trọng nhất mà tôi muốn nghiên cứu và trình bày đó là: Tại sao trong
điều kiện cả nớc cha chín muồi về thời cơ, Hoằng Hoá lại giành và giữ đợc chính quyền thành công, trong điều kiện bị khủng bố liên tiếp 3 lần cho
đến ngày tổng khởi nghĩa. Nó có đợc xem nh là một điểm riêng biệt của cách
mạng Hoằng Hoá so với các địa phơng khác hay không. Đóng góp của cách
mạng Hoằng Hoá đối với tỉnh Thanh Hoá.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đối tợng nghiên cứu đã đợc xác định ở trên, đề tài trớc hết đề cập
đến vị trí địa lý, truyền thống cách mạng, điều kiện tự nhiên của Hoằng Hoá,
trong đó trọng tâm là khởi nghĩa ở Hoằng Hoá trong giai đoạn từ 1939-1945,
thời điểm bắt đầu (từ tháng 11/1939) với Nghị quyết Trung ơng 6 đến tháng
8/1945.
Đề tài đợc xác định không gian là huyện Hoằng Hoá, nhng khi nghiên
cứu chúng tôi xem xét nó không tách rời không gian cách mạng của tỉnh
Thanh Hoá, để tăng thêm sáng tỏ cho đề tài đồng thời chúng tôi còn tiến hành
so sánh khái quát sơ lợc với một số địa phơng khác trong tỉnh nh thành phố
Thanh Hoá, Hậu Lộc, Hà Trung... nhằm đa ra những nhận xét, đánh giá mang
tính khách quan đối với sự kiện lịch sử mà chúng tôi quan tâm.
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài sẽ đợc chúng tôi nghiên cứu và tiến
hành trên ba nội dung: Quá trình chuẩn bị, quá trình khởi nghĩa, thành công
trong việc bảo vệ chính quyền ấy cho đến ngày tổng khởi nghĩa trên toàn
quốc.
4. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn t liệu
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đạt kết quả tốt, chúng tôi tiến hành
su tầm nguồn tại liệu từ:
Thứ nhất: Loại tài liệu có ở các cơ quan lu trữ nh: Ban Nghiên cứu Lịch
sử Đảng Thanh Hoá, Ban tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa Trung tâm Lu trữ
Thanh Hoá, Trung tâm Lu trữ Hoằng Hoá, Th viện tỉnh Thanh Hoá, Th viện
huyện Hoằng Hoá, Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá, Bảo tàng huyện Hoằng Hoá, Ban
Tuyên giáo huyện Hoằng Hoá, Huyện uỷ Hoằng Hoá, Trung tâm Chính trị
tổng hợp, khái quát và xác minh t liệu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài
gồm ba chơng:
Chơng 1: Khái quát phong trào cách mạng ở Hoằng Hóa thời kỳ
1930 - 1939.
Chơng 2: Quá trình chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở
Hoằng Hóa 1939 - 1945.
Chơng 3: Cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền ở Hoằng Hóa
năm 1945.
10
Chơng 1
khái quát phong trào cách mạng ở Hoằng Hoá
thời kỳ 1930-1939
1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm c dân Hoằng Hoá
Nằm trên quốc lộ 1A, mảnh đất gắn bó máu thịt với Xứ Thanh, Hoằng
Hoá có vị trí rất quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.
Là một khu vực thuộc đồng bằng ven biển, nằm ở hạ lu con sông Mã.
Phía đông giáp biển, phía bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía tây giáp huyện Thiệu
Hoá, Yên Định và Vĩnh Lộc, phía nam giáp huyện Quảng Xơng, thành phố
Thanh Hoá và một phần huyện Đông Sơn.
Hoằng Hoá nằm ở vĩ tuyến 1905050 Bắc ở Lạch Trào đến 1903030
vĩ độ Bắc ở núi Sơn Trang và từ kinh độ 105 05959 ở ngã ba Bông đến
10505930 ở Lạch Trờng.
Bờ biển của Hoằng Hoá dài 12km giáp hai cửa lạch:
Lạch Trờng (cửa sông Mã cũ) và Lạch Trào (Cửa sông Mã hiện tại). Hai
cửa lạch này là cửa ngõ lớn của tỉnh Thanh Hoá ở phía Đông. Sử cũ từng ghi:
Trà là cao, đờng biển trông vào đấy để làm tiêu chí. [30, 26].
Dãy núi Linh Trờng (còn có tên gọi khác là Kim Chuế), hay núi Trờng
Lệ) dãy núi này còn có tên khác mà nhân dân cho là núi Hà Rò nằm ngay bên
hữu ngạn sông Lạch Trờng, trải dài trên địa phận các xã Hoàng Yến, Hoằng
Hải, Hoằng Trờng, gồm có 7 ngọn nối liền nhau, ngọn cao nhất là 205m với
nhiều mỏ đá ăn ra biển. Dãy núi này có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là ngăn
chặn xu hớng chuyển dịch của Lạch trờng về phía Nam ở bờ Biển Hoằng Hoá.
Theo những dấu tích của Thành D phát còn lại ở bên kia núi Linh Trờng chứng
tỏ cửa biển Lạch Trờng này đã từng là một thơng cảng, nơi ngời Việt giao lu
buôn bán với ngời Trung Hoa. Cũng tại khúc sông Lạch Trờng (Ngu Giang) có
núi Linh Trờng này vào năm 1380 Hồ Quý Ly đã dựa vào thế núi đánh tan đạo
quân của Chế Bồng Nga [31, 29] và cũng chính nơi đây trong cuộc kháng
12
chiến chống Mỹ cứu nớc của các cụ lão dân quân Hoằng Trờng đã dựa vào thế
đất này rồi bắn rơi Thần sấm con ma của đế quốc Mỹ.
Dãy núi Hàm Rồng là một trong những huyền thoại đẹp của con ngời
Hoằng Hoá, nó trải dài theo bờ sông Mã, thân hình uốn lợn tựa thế rồng cuộn,
gồm 99 khúc đầu của núi Hàm Rồng nằm ngay sát sông Mã, dựa vào thế núi
này mà nhân dân ta bảo vệ đợc cầu Hàm Rồng, con đờng huyết mạch Bắc
Nam. Và cũng chính nơi đây, đã để lại nhiều huyền thoại trong cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta.
Với địa thế rồng cuộn, hổ nằm nh vậy nên nó cắt nghĩa cho sự thăng
hoa về đỗ đạt, khoa danh của đất Hoằng Hoá.
Thiên tích thông minh Hoằng Hoá dục
Thành phù công dụng Đạt Tài năng.
(Câu đối của tổng đốc Thanh Hoá Vơng Duy Trinh đề ở Văn chỉ làng Đạt Tài
- Hoằng Hà )
đều lập làng sinh sống đến đấy, nhiều tên làng còn mang dấu tích đó rất đậm
nét nh : Cồn Định, Cồn Tán, Cồn Tiền, ...
Vùng đồng bằng: Bao gồm tất cả các xã còn lại của huyện Hoằng Hoá,
theo tác giả cuốn Địa chí văn hoá Hoằng Hoá cho rằng: Những giải thích
về vùng biển Hoằng Hoá cũng có thể cắt nghĩa cho cả địa bàn Hoằng Hoá.
Vùng đất cao của Hoằng Hoá không đáng kể, chỉ có mấy làng ở ven núi
Sơn Trang nh Trà Mỹ, Trà La (Hoằng Khánh), Xa Vệ, Tự Nhiên (Hoằng
Trung).
Ngoài vùng đất cao thì vùng trũng chiếm diện tích khá lớn thuộc 3 tổng:
Lỗ Hơng, Dơng Sơn, Dơng Thuỷ. ở các tổng này, vùng đồng trũng chủ yếu
nằm ở các xã Hoằng Lý, Hoằng Phú, Hoằng Quý, Hoằng Kim, Hoằng Quỳ,
Hoằng Cát. Do vùng này ở gần Sông Mã thời kỳ cha có đê, mỗi khi lũ kéo về
đợc phù sa bồi đắp nên để lại những cánh đồng màu mỡ. Vùng đồng trũng này
chính là vựa lúa của Hoằng Hoá. Đặc biệt ở hai xã Hoằng Lý và Hoằng Quỳ
có di chỉ của nền văn hoá Đông Sơn.
Nhìn chung, khi xem xét địa hình Hoằng Hoá vùng ven biển có các dải
cồn cát kéo dài xen lẫn vùng trũng hẹp và thấp, vùng đồng bằng chiếm phần
lớn diện tích. Nên địa hình Hoằng Hoá tơng đối bằng phẳng, phì nhiêu bộ
mặt địa hình ấy không phải do thiên nhiên tạo ra, phần lớn cảnh quan của
đồng bằng, độ màu mỡ của đồng bằng, sự sầm uất, trù mật của xóm làng ở các
địa bàn khá đông dân c này đều mang dấu vết bàn tay, trí não của con ngời
Hoằng Hoá, ròng rã bao thế kỷ chống chọi với thiên nhiên [33, 26].
Về vị trí địa lý hành chính: Thời Văn Lang - Âu Lạc Hoằng Hoá là đất
của bộ Cửu Chân. Đến theo Đất nớc Việt Nam qua các đời của Đào Duy
Anh cho rằng thời thuộc Hán, Hoằng Hoá là đất của huyện T Phố, thời Tam
Quốc và Lỡng Tấn đây là vùng đất của huyện Kiến Sơ và Cao An... sang đời
Tuỳ (581- 618) đổi là Long An [33, 12].
14
Lộc) qua những hiện vật các nhà khảo cổ học cho rằng: C dân sinh sống ở đây
cách chúng ta 4000 năm. Nhng hai di chỉ này cách Hoằng Hoá không xa
khoảng 2-3 km đờng chim bay. Một câu hỏi đặt ra là liệu ở Hoằng Hoá trong
thời kỳ này có c dân sinh sống không. Nhng một điều chắc chắn là thời kỳ
15
các vua Hùng trị vì quốc gia Văn Lang đã có c dân tại địa bàn Hoằng Hoá. Bởi
có di chỉ văn hoá Quỳ Chử [33, 64].
Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn, có tới 14 di chỉ thuộc xã Hoằng Quỳ,
trên 30 di chỉ quanh các xã Hoằng Lý, Hoằng Phú, Hoằng Quý, Hoằng Phợng
chứng tỏ c dân sinh sống. Trong quá trình tìm hiểu và xét quá trình lịch sử c
dân Hoằng Hoá xa xa nhất ở địa bàn Hoằng Hoá cho đến nay, các di chỉ khảo
cổ học chứng minh đợc là Quỳ Chử... cách chúng ta ngày nay trên 27 thế kỷ.
Quỳ Chử vì thế còn có tên gọi khác là Kẻ Tổ.
C dân Hoằng Hoá định c chủ yếu dọc ven sông Mã và tản ra các vùng
xung quanh những nhánh sông khác nh sông Cung, sông Gòng, sông Dọc...
Từ thời Lý trở đi, làng xã ở Hoằng Hoá tơng đối ổn định. Tuy nhiên,
trong c dân Hoằng Hoá ngoài ngời gốc Hoằng Hoá - Thanh Hoá còn có những
ngời di c từ nơi khác đến. Thậm chí còn có cả dòng họ Trung Hoa nh họ Hắc ở
Hoằng Ngọc, họ Tống ở Tào Xuyên cũng đến sinh sống.
Sống trong điều kiện tự nhiên của Hoằng Hoá, con ngời Hoằng Hoá đã
biết vơn lên làm chủ thiên nhiên, chế ngự và lợi dụng đợc thiên nhiên. C dân
Hoằng Hoá rất năng động và sáng tạo trong lao động và học tập đa Hoằng
Hoá thoát khỏi vùng tự cung tự cấp của làng xã Việt Nam vốn tồn tại lâu đời.
Nhiều tài liệu cho thấy dân Hoằng Hoá ít phiêu tán trong những đại nạn mà họ
vẫn kiên trì bám đất, bám làng để an c lập nghiệp.
Trong học hành, những con ngời Hoằng Hoá luôn luôn có tinh thần học
hỏi trong cuộc sống cũng nh trong xã hội mẹo mực Quảng Xơng, văn
dựng một bộ máy chính quyền ở đây để chống lại áp bức của Đông Hán.
Nghĩa binh ở Hoằng Hoá đã có mặt đầu tiên ở trung tâm cuộc khởi nghĩa để
giúp hai Bà Trng: Trng Trắc, Trng Nhị là đàn bà mà hô một tiếng cũng có thể
khiến đợc các quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65
thành ở Lĩnh Ngoại hởng ứng....
Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại Đô Dơng đã trở về quê hơng bản quán
tiếp tục cuộc kháng chiến chống lại sự đàn áp của Mã Viện. Từ cửa biển Lạch
Trờng đến ngã ba Bông, nhân dân Hoằng Hoá đã anh dũng chiến đấu cản đờng tiến quân của giặc.
Theo thần tích của làng nghĩa Lộ (Yên Nghĩa Hoài Đức), làng Phú
Hạng (Tân Phúc Quốc Oai) Hà Tây còn ghi chép rõ: Ông Nguyễn Viên ở
Hoằng Hoá giữ chức trởng doanh ở Cổ Châu lấy bà Trần Thị Lẫm, sinh đợc A
Lã sau đổi là Làng Đê và ngời con trai là Quốc đã theo hai bà khởi nghĩa và
mất tại Cấm Khê [33, 183].
Ngay từ buổi đầu của thời Bắc Thuộc, nhân dân Hoằng Hoá đã cùng với
nhân dân cả nớc đứng lên chống lại chính quyền Bắc Thuộc trong suốt cả một
thời gian dài của lịch sử từ: Triệu, Hán, Ngô, Nguỵ, Tấn, Tống, Tề, Lơng, Tuỳ,
Đờng...
Tiếp theo đó là cuộc khởi nghĩa của cô gái họ Triệu ở vùng núi Na
(Triệu Sơn Thanh Hoá) vào năm 248. Cái uy lực của ngời con gái 19 tuổi
17
xuân đã làm chấn động cả Giao Chỉ. Nhân dân Hoằng Hoá lại một lần nữa
trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, bằng tất cả những gì vốn có
của quê hơng mình. Từ núi, sông, đồng ruộng đều trở thành chiến luỹ. Trong
trận tấn công thành T Phố nghĩa quân Hoằng Hoá nô nức tham gia, thừa thắng
nghĩa quân kéo xuống Phú Điền (Hậu Lộc) Hoằng Giang, Hoằng Lý, Hoằng
Hợp hiện nay. Trớc đây có ngã ba sông Tuần Ngu còn có các cồn gọi là cồn
Binh, bãi Binh Là nơi đóng quân và tập kết của bà Triệu. Trong dân gian đến
nay vẫn còn lu truyền lại nhiều câu ca nói lên khí tiết của những con ngời
Dạ trạch tơng phù, long trảo vĩnh lu Nam Việt sử
Tây Hà trấn Lữ, đầu mâu trực phá Bắc lơng binh.
(Dạ trạch là nơi đánh giặc, ngọn lửa long chảo oai hùng còn lu mãi
trong sử Nam Việt
Tây Hà là nơi đóng quân, ngọn đấu mâu thẳng tốc phá quân Lơng bạo
tàn phía Bắc).
Cùng với thời gian ngời Việt ngày càng có ý thức rõ hơn về chủ quyền
dân tộc, về sự tàn bạo của kẻ thù, cuộc đấu tranh này thất bại lại nối tiếp bằng
cuộc đấu tranh khác để giành độc lập. Nhân dân Hoằng Hoá cũng không nằm
ngoài quỹ đạo đó. Vào năm 938, Ngô Quyền tiến đánh quân Nam Hán trên
sông Bạch Đằng, nhân dân Hoằng Hoá đôi bờ sông Ngu đã động viên cổ vũ
khuyến khích đoàn thuỷ quân Ngô Quyền trong lúc ra Bắc diệt quân Nam Hán
đã có rất nhiều con em Hoằng Hoá đặc biệt là những binh sĩ giỏi sông nớc, có
tài bơi lặn đợc đăng binh lính theo đoàn quân của Ngô Quyền. Hiện nay ở các
xã Hoằng Giang, Hoằng Xuân, Hoằng Hợp còn những địa danh mà tuyên
truyền lại rằng đó là đồn binh của Ngô Quyền (những xã này nằm tả ngạn
sông Mã).
Nớc ta bớc vào thời kỳ tự chủ, trải qua các triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý
theo các sử sách để lại nhân dân Hoằng Hoá đợc sống trong cảnh thanh bình
là chủ yếu. Đến đời lý (1010-1225) trung tâm T Phố đợc chuyển về Duy Tinh
(huyện Lỵ cũ của Hậu Lộc) do đó cửa biển Linh Trờng trở thành một vị trí
xung yếu về phát triển cũng nh xây dựng và bảo vệ đất nớc. Giặc Chiêm
Thành nhiều lần đã tiến đánh cửa biển Linh Trờng để giữ yên mặt phía Nam
của đất nớc, các triều đại đều tiến hành chinh phạt Chiêm Thành, nhất là vơng
Triều Lý [26, 34]. Đóng góp to lớn nhất cho Vơng Triều Lý đó là ngời con
của vùng đất Hoằng Hoá Lê Phụng Hiểu, ông ngời hơng Băng Sơn (nay là
vùng Xuân Sơn xã Hoằng Xuân), với tài năng và đức độ của mình ông bảo
vệ sự ổn định Vơng Triều Lý trong loạn tam vơng (1028). Năm 1044 ông
cùng Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành [33, 190].
Nhân dân nhớ tài đức của ông nên còn lu truyền lại nhiều câu đối, bài
hộ quân lơng, thực hiện vờn không nhà trống cùng nhà Trần chống giặc
thắng lợi.
Tiêu biểu cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông cũng nh
giặc Chiêm Thành đó là những con ngời đầy khí phách nh Nguyễn Công Đàn
xã Hành Vỹ, lập đợc nhiều công trạng nên đợc vua Trần phong Phụ ký lang
Hầu đô thống, hiện nay, đền thờ của ông đợc xây dựng tại xã Hoằng Thịnh
hay ông Lê Bá Thành ở Tế Độ (Hoằng Phúc) đã đi giết giặc đợc vua Trần
phong chức Tả Dực tớng quân [28, 23].
Đỗ Hành ngời thôn Nhân Ngọc (Hoằng Ngọc) làm quan nội hầu trong
Dinh Thái Thợng Hoàng đã có công bắt đợc Ô Mã Nhi. Theo lịch sử phong
trào cách mạng của Đảng bộ nhân dân xã Hoằng Ngọc trích Đại Việt Sử ký
Toàn th tập 2, kỷ nhà Trần (trang 67) nh sau: Nội minh t Đỗ Hành bắt đợc ô
Mã Nhi và Phàn Tiếp dâng vua Thợng Hoàng mừng lắm cho lên thuyền ngự
20
thởng rợu [20, 12]. Hay vào cuối triều Trần, Hoằng Hoá ghi vào lịch sử một
danh tớng là Hoàng Phụng. Con ngời Hoằng Hoá từ văn quan, võ Tớng cho
đến nhân dân đều hết lòng yêu quê hơng đất nớc và truyền thống chống ngoại
xâm.
Trong 10 năm của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1428) nếm mật
nằm gai, không ít các chiến sĩ vô danh và nhân dân Hoằng Hoá có mặt trong
đoàn quân của Lê Lợi, bên cạnh đó, có những con ngời kiệt xuất đợc ghi danh
nh Nguyễn Công Duẩn (cha rõ làng xã) Lê Viện (làng Dơng Thành xã
Hoàng Thành) trở thành những tớng tâm phúc của Lê Lợi. Ngoài ra còn rất
nhiều giai thoại , truyền thuyết phản ánh những tấm lòng của những con ngời
Hoằng Hoá với khởi nghĩa Lam Sơn, nh giai thoại về bà Quốc Mẫu (Hoằng
Anh) đã có công đánh lừa quân giặc Lê Lợi chạy trốn khi bị quân Minh truy
đuổi hay bà lão ở Quỳ Chử (Hoằng Quỳ) cũng là ngời tiếp đãi bữa cơm đạm
bạc trong lúc Lê Lợi chạy giặc. Thiên hạ thái bình lên ngôi hoàng đế, Lê Lợi
Lê Quang cùng Nguyễn Hách, Nguyễn Thiệu Thông, Lê Huy Bổng, Lê Huy
Đạo, Lê Huy Châu, Quyền Thạc tập hợp nghĩa binh rèn sắm vũ khí. ở Hoằng
Đạo có Mai Hàm, Mai Quán, (hai anh em đều đậu tú tài), tập hợp nghĩa binh
phối hợp với nghĩa quân Nguyễn Đôn Tiết (Hoằng Đức). ở Hoằng Đạt có Lê
Văn ái, Nguyễn Văn Dân tập hợp nghĩa quân ở làng Hạ Đạt Tài, Trù Ninh,
Hà Thái phối hợp với nghĩa quân của Hoàng Bật Đạt ở Hậu Lộc và nghĩa
quân ở Bút Sơn... ở Hoàng Giang có Cao Điển, cùng Trần Xuân Soạn về
Thanh Hoá tập hợp nghĩa binh thành một lực lợng lớn từ ngã ba Bông, ngã ba
Giàng đến Hàm Rồng. ở Hoằng Lý, có Lý Xuân, ở Tào Xuyên cùng Nguyễn
Đôn Tiết, ở Thọ Vực (Hoằng Đức) Lê Chí Trực (Phú Khê) là lực lợng hậu
thuẫn cho bố chánh Nguyễn Khoa Luận dự định chống quân Pháp khi chúng
đánh thành Thanh Hoá (tháng 11/1885) [ 14, 735-736].
Phong trào khởi nghĩa Cần Vơng thất bại nhng họ đã Tử nhi vô tử, tử
quốc sự, tử vi vinh (Chết mà không chết, chết vì việc nớc, chết cũng là vinh)
mặc dù anh hùng để hận nghìn thu nhng cái chết của họ làm cho tổ quốc họ
sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt.
Trong phong trào Đông Du và Duy Tân, những Tân Th cũng đã
truyền tay đến các sĩ phu Hoằng Hoá cùng với cả nớc trí thức Hoằng Hoá hăm
hở truyền nhau t tởng Duy Tân nh Lơng Tái Tạo (Hội triều) Nguyễn Đôn
Dự (Hoằng Phúc) Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Viết Xuân (Hoằng Đạt...) đã tích
cực cổ động Duy Tân. Nhng rồi tất cả những con đờng và hành động yêu nớc
đó bị chặn đứng không có lối thoát. Tấm lòng yêu nớc của họ vẫn mãi bế tắc
phải đợi đến xu hớng cách mạng mới đờng lối cứu nớc mới đợc sáng tỏ. Tinh
thần yêu nớc đó đợc tiếp nối bằng tinh thần cách mạng quật khởi của nhân dân
Hoằng Hoá trong những năm 1930-1939. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã
chứng minh rằng: Nếu ngọn cờ Cần Vơng của các sỹ phu yêu nớc đã lỗi thời
thì ngọn cờ cứu nớc theo đờng lối dân chủ t sản cũng bị bế tắc, giữa lúc ấy
cuốn sách Đờng kách mệnh của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc từ Quảng Châu
động công khai tránh sự kiểm soát của kẻ thù, tháng 10/1927, hội lập một
tiểu chi điếm Hng nghiệp hội xã. Công khai hoạt động buôn bán hàng nội
hoá, tạo điều kiện tài chính cho hoạt động của tiểu tổ Việt Nam Cách mạng
Thanh niên. Đồng thời nhằm mục đích tập hợp quần chúng giác ngộ cách
mạng để mở rộng tiểu tổ Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Với những hoạt
động sôi nổi, đầu năm 1929 tiểu tổ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đợc Tỉnh uỷ nhất trí chuyển thành chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
do đồng chí Lê Viết Phồn làm bí th, trực thuộc Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách
23
mạng Thanh niên. Sự kiện đó đánh dấu bớc chuyển mình quan trọng trong
phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân Hoằng Hoá. Cùng với Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên tổ chức Tân Việt cách mạng Đảng cũng
có cơ sở ở Hoằng Hoá [33, 226]. Tổ chức Tân Việt cũng có hoạt động theo
những tôn chỉ mục đích chịu ảnh hởng rất lớn từ tổ chức Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên từ phơng châm cũng nh cách thức hoạt động. Tân Việt cũng
đợc tiếp thu nội dung Đờng kách mệnh cũng nh chủ trơng vô sản hoá...
Vậy là, trong cùng một thời gian, hai tổ chức tiền thân của Đảng ở
Hoằng Hoá ra đời nhanh chóng, đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của lịch sử
trong việc chuẩn bị xây dựng một Đảng tiền phong lãnh đạo Cách mạng. Điều
này đã tạo ra tiền đề chính trị, t tởng và tổ chức cho sự thành lập chi bộ Đảng
Cộng sản Việt Nam tại Hoằng Hoá.
1.3. Khái quát phong trào cách mạng ở thời kỳ 1930-1939
Ngày 03/ 02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là một sự kiện
có ý nghĩa chính trị lớn lao trong lịch sử dân tộc, là bớc ngoặt lịch sử vô cùng
quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ giai cấp vô sản ta
đã trởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng. Từ đây, dới sự chỉ đạo của Trung
Ương Đảng, nhiều đảng bộ địa phơng đã đợc tổ chức khắp Bắc, Trung, Nam
cũng nh các cơ sở trong đồng bào Việt Kiều. Tháng 7/1930 Đảng bộ Đảng
Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá đợc thành lập [16, 57].
cùng, cũng bị khám xét gắt gao tại trạm Đông Hen. Đồng chí Lập phải vợt
rừng sang Xiêm, đồng chí Khoan phải quay về.
Khi Đảng bộ ra đời đã kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh. Điển
hình là phong trào đấu tranh của nhân dân vùng phụ cận Hàm Rồng ủng hộ
công nhân Nhà máy Diêm Hàm Rồng đòi tăng lơng, tổ chức rải truyền đơn hởng ứng kỷ niệm cách mạng tháng Mời Nga và ủng hộ Xô Viết Nghệ
Tĩnh [33, 227].
Trong lúc chi bộ Cự Đà đang xúc tiến tổ chức đi lần thứ hai sang Xiêm
thì bị địch phát hiện ra đờng dây liên lạc, nó tiến hành khủng bố và đánh phá
dữ dội. Cuối tháng 10 năm 1930, bọn địch đã huy động lính tuần sai và bắt ép
một số tuần phu đến bao vây làng Cự Đà, làng Thanh Ngoạn để lùng bắt đảng
viên cộng sản. Các đồng chí trong chi bộ đã bị bọn thống trị bắt đa vào Nhà
lao Thanh Hoá, chúng dùng nhiều cực hình tra tấn, nhng các đồng chí đều giữ
đợc khí tiết của ngời cách mạng [2, 17]. Qua đợt khủng bố này của địch,
quần chúng ở các nơi thấy rõ dã tâm của bọn đế quốc phong kiến, do đó họ
càng hăng hái tham gia hoạt động Cách mạng.
Nh vậy, chi bộ Cự Đà là chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên đợc thành lập ở
Hoằng Hoá, tuy thời gian ra đời và hoạt động cha đợc bao lâu nhng nó đã mở
ra thời kỳ mới của phong trào cách mạng huyện nhà và trên cơ sở đó, các tổ
chức cách mạng của quần chúng đợc nhen nhóm ngày càng mở rộng, tiến lên
dới sự lãnh đạo của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu Cách mạng trong thời kỳ lịch
sử vẻ vang của mình. Từ đây, phong trào Cách mạng ở Thanh Hoá không có
Đảng chỉ đạo trong suốt một thời gian dài. Mặc dù tháng 1 - 1931, Đảng bộ
25