1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XV ở nước ta là một thế kỷ huy hoàng; nửa đầu thế kỷ chứng kiến
sự thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và sự phục hưng nền dân tộc, tự do
của dân tộc ta sau ngót hai chục năm dưới thời thuộc Minh; nửa sau thế kỷ
chứng kiến sự hùng mạnh của nhà nước quân chủ tập trung do vua Lê Thánh
Tông đứng đầu đạt đỉnh cao trong lịch sử về nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến văn
hóa. Về mặt văn học, mặt tích cực nhất của phong trào sáng tác nửa thứ hai của
thế kỷ này là những thành tựu về văn thơ Nôm.
Nói cách khác, văn thơ Nôm nửa cuối thế kỷ XV phát triển trên cơ sở kế
thừa những thành tựu của nửa đầu thế kỷ, mà tiêu biểu là Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi. Thời kỳ này, Lê Thánh Tông cũng sáng tác văn thơ Nôm và
khuyến khích các triều thần tham gia. Do đó việc sáng tác văn thơ Nôm trở
thành một phong trào. Như vậy, văn học Nôm đã có một bước tiến đáng kể trong
lĩnh vực trau dồi và nâng cao sức biểu hiện của ngôn ngữ văn học dân tộc và tập
thơ Hồng Đức quốc âm thi tập trở thành một tập thơ nổi tiếng của Lê Thánh
Tông và các tác giả thờ Hồng Đức.
Tập thơ tiếng Việt trên ba trăm bài này được phiên âm và xuất bản năm
1962, nhiều tập văn học sử, giáo trình đại học đã có nhiều trang viết tìm tòi, phát
hiện đóng góp. Những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tập thơ đã được
nhiều nhà nghiên cứu chú ý và tìm hiểu.
Nhưng vấn đề phong cách nghệ thuật của tập thơ lại chưa được nghiên
cứu một cách tập trung và hệ thống. Đó là lý do mà chúng tôi đi vào tìm hiểu ở
luận văn này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Loại công trình là sách giáo trình Đại Học.
Giáo trình Văn học Việt nam (Thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII) của nhóm tác
giả Đinh Gia Khánh (chủ biên) Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương - Nhà xuất bản
Giáo Dục Hà Nội - 1998 (Tái bản lần 3). Ở chương XV “ Nhiều tác giả tiêu biểu
“Hồng Đức quốc âm thi tập gồm 328 bài thơ và được chia làm năm môn loại,
lối chia môn loại này có phần gần gũi với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi”
[16, 274].
3
“Hồng Đức quốc âm thi tập khá phong phú về số lượng bài thơ nhưng lại
thể hiện khuynh hướng sáng tác cung đình nặng về “ngâm hoa vịnh nguyệt”
mượn thơ văn làm trò tiêu khiển cho lớp người sống đài các phong lưu…
Thơ thiên nhiên trong Hồng Đức quốc âm thi tập có nhiều bài mang tính chất
ngâm vịnh tiêu khiển với đề tài công thức, tuy cũng có câu đẹp , lời hay nhưng
phần nhiều sáo rỗng ít giá trị…” [16, 275].
“Hồng Đức quốc âm thi tâp có phần ngợi ca tổ quốc giàu đẹp, ngợi ca cuộc
sống thanh bình của dân tộc” [16, 277].
“Bên cạnh chủ đề thiên nhiên, trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
cũng có nhiều bài lấy từ những vấn đề xã hội” [16, 279].
“cũng như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thể thơ chủ yếu trong Hồng
Đức quốc âm thi tập là thể thơ thất ngôn Hàn luật…câu thơ trong Hồng Đức
quốc âm thi tập đã uyển chuyển và linh hoạt…” [16, 280].
“ Trong Hồng Đức quốc âm thi tập nếu thể thơ Hàn luật đã đạt đến mưc
linh hoạt uyển chuyển thì thể thơ thất ngôn xen lục ngôn cũng khá thành thục ”
[16, 281].
“ Hồng Đức quốc âm thi tập sử dụng từ ngữ khá điêu luyện. Một biểu hiện
đáng chú ý của nghệ thuật ngôn ngữ trong tập thơ là việc sử dụng vốn từ lấp láy
một đặc sắc riêng của ngôn ngữ Việt” [16, 283].
“ Hồng Đức quốc âm thi tập còn cho thấy sự phong phú, đa dạng về phong
cách và bút pháp. Tính ước lệ tương trưng là phổ biến, nhưng lại cũng có xu
hướng tả thực” [16, 284].
2.1.2. Giáo trình Văn họcViệt nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII của
nhóm tác giả Bùi Văn Nguyên (chủ biên), Nguyễn Sĩ Cẩn, Hoàng Ngọc Trì Nxb giáo dục Hà Nội 1989 đã dành trọn một chương (chương 5) viết về Lê
nghệ thuật của các bài thơ biểu hiện trình độ khác nhau. Những bài miêu tả thiên
nhiên, đất nước với tấm lòng chân thành đã có nhiều câu hay”. Cũng theo Đinh
Gia Khánh thì bài thơ “Vịnh làng Chế” chính là bài thơ của Lê Thánh Tông
được chép ở sách “Thiên tại nhàn đàm”; như vậy không nằm trong tập thơ
Hồng Đức quốc âm thi tập [34, 230].
Tiếp tục phân tích về Hồng Đức quốc âm thi tập, Đinh Gia Khánh còn có những
nhận định như sau: “Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, cũng có nhiều câu thơ phản
ánh được những nét chân thật về sinh hoạt của nhân dân…”; “Nói chung ngôn ngữ
5
văn học dân tộc trong Hồng Đức quốc âm thi tập đã thành thục và hình tượng nhiều
khi điêu luyện. Thể thơ trong Hồng Đức quốc âm thi tập là thể thơ thất ngôn và thơ
lục ngôn. Việc áp dụng niêm luật thơ Hàn luật nói chung khá vững vàng” [34, 232].
Nói chung đây là cuốn giáo trình viết một cách tóm tắt, cho nên những nhận định
của Đinh Gia Khánh cũng mang tính tóm tắt và vì vậy chưa đề cập đến vấn đề
phong cách tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
2.1.4 Cuốn giáo trình (sách tham khảo). Việt Nam văn học sử giản ước tân
biên - tập 2 - văn học lịch triều Việt văn” của Phạm Thế Ngũ do Nhà xuất bản
Đồng Tháp xuất bản năm 1997. Trong thiên thứ nhất ở chương 5 có tiêu đề “ Lê
Thánh Tôn thơ đời Hồng Đức” có một phần viết về tập thơ Hồng Đức quốc âm
thi tập. Theo Phạm Thế Ngũ viết trong cuốn sách này thì: Đọc các bài thơ trong
Hồng Đức quốc âm thi tập, chúng ta nhận thấy mấy đặc tính sau đây.
+ Tính cách luân lý: “Những bài thơ ở Nhân Đạo Môn, phê bình các nhân
vật lịch sử, đều mang sự chú tâm của tác giả đối với vấn đề luân lý. Nhà thơ nêu
cao những tấm gương chính giáo, cương thường theo thuyết lý của Khổng
Mạnh” [30, 128].
+ Tính cách triết lý: nhiều phần ở môn thiên đạo và phẩm vật nói về thời tiết
hay cây cỏ thường mang tư tưởng triết lý của đạo nho về vũ trụ, xã hội, nhân
sinh…[30, 129].
năng gợi cảm sâu sắc” [44, 141].
Tuy là những nhận xét tóm tắt, nhưng rõ ràng Bùi Đức Tịnh qua giáo trình
của ông đã đề cập đến vấn đề phong cách của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
2.1.6. Nguyễn Phạm Hùng với giáo trình “ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X
đến thế kỷ XX”- Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội - 1999 có nhận định
sau: “Một bộ phận văn học nửa sau thế kỷ XV đi vào xu hướng cung đình hóa
rõ rệt. Có lẽ không ở thời kỳ nào văn học cung đình gặt hái được nhiều thành
tựu như ở thời kỳ này. Văn học cung đình, một mặt thể hiện sự trì trệ và máy
móc của nghệ thuật khi đi quá sâu vào tán tụng và tiểu xảo, một mặt nó tự xác
lập được những giá trị nhất định trong nội dung tư tưởng và nghệ thuật phản
ánh, mà không thời nào có được, như những phẩm chất đặc định cho văn học
một thời kỳ. Tác gia tiêu biểu nhất là Lê Thánh Tông” [15, 56].
Cũng theo Phạm Mạnh Hùng thì: “ Lê Thánh Tông thành công hơn cả ở thơ
nôm. Tác phẩm nổi tiếng của ông là tập Hồng Đức Quốc âm thi tập, gồm 328 bài
thơ, viết theo luật Đường trong đó có một số bài viết theo thể thất ngôn xen lục
ngôn. Tập thơ thể hiện tâm trạng hào sảng của một vị vua thời thịnh mang niềm tự
7
hào trước lịch sử dân tộc, trước non sông gấm vóc, ca tụng vương quyền, ca tụng
cuộc sống thái bình, bày tỏ lòng quan tâm tới đời sống muôn dân…
Nghệ thuật thơ trau chuốt điêu luyện, có tính dân tộc, giàu sắc thái dân dã.
Song nhiều khi thơ ông quá cầu kỳ, đơn điệu, sáo rỗng. Song dù sao, đây cũng
là một tập thơ lớn, đánh dấu trình độ phát triển cao của nghệ thuật tiếng Việt,
trong việc phô diễn không chỉ đời sống thông tục, mà cả đời sống cao nhã, sang
quý bên trên.” [44, 72].
Phải thừa nhận rằng ý kiến của Nguyễn Phạm Hùng tuy rất khái quát
nhưng cũng có những nhận xét khá chính xác về phong cách tập thơ Hồng Đức
quốc âm thi tập. Đó cũng là ý kiến hay và chúng tôi sẽ tham khảo trong quá
trình làm luận văn này.
+ Cảm hứng dân tộc- cảm hứng nhân văn qua thơ nôm vịnh sử của Lê
Thánh Tông của Bùi Duy Dân [45, 604].
+Những người phụ nữ trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Hoàng Hồng
Cẩm [45. 631].
+ Về thơ nôm của Mai Xuân Hải [45, 613].
+ Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong Hồng Đức quốc âm thi tập
của Vương Lộc [45, 650].
+ Tác phẩm bằng chữ Nôm của Thanh Lãng [45, 679].
Trong số các bài viết trên thì phải công nhận rằng bài viết của Trương
Chính, Bùi Văn Nguyên, Bùi Duy Tân, Vương Lộc là những bài nghiên cứu
toàn diện về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập trong đó ít nhiều đề cập đến
phong cách của tập thơ.
2.2.3. Nguyễn Hữu Sơn trong chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam,
quan niệm con người và tiến trình phát triển - Nhà xuất bản Khoa hoc xã hội Hà Nội-2005.
Ở phần một trong cuốn sách này, bài số 12, với tiêu đề “Lê Thánh Tông
-Đời thơ và những dấu hiệu trữ tình” có những nhận xét rất đặc biệt như sau:
“Con người Lê Thánh Tông phân hóa trong thơ khá rõ nét: Ông vừa hướng
thượng đóng vai một vị hoàng đế để có những bài thơ thắng thưởng vịnh đề
mang đầy tính khoa trương, kiểu như Quỳnh uyển cửu ca và nhiều bài xướng
họa trong Hồng Đức quốc âm thi tập…; vừa phần nào bộc lộ tâm sự riêng qua
loạt bài Tự thuật, Ngẩu thành, Cảm hoài; hoặc bày tỏ thái độ cảm thông với các
tầng lớp chúng sinh như trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, và những Ngư,
Tiều, Canh, Mục, anh lính thú nhớ nhà, rồi cả cái chết oan nghiệt của nàng
chinh phụ Vũ Nương’’[41, 181].
9
Đề cập đến phong cách thơ văn Lê Thánh Tông (trong đó có cả tập thơ
Hồng Đức quốc âm thi tập) Nguyễn Hữu Sơn có một nhận định rất chính xác,
rất tinh tế “lúc tư chất con người tư nhân thức tỉnh, ông gián cách với những cõi
chỉ kể lai lịch mà còn chép đầy đủ hai bài thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông
viếng nàng Vũ Thị Thiết”.
Những người biên soạn không bình luận gì cả; nhưng việc sưu tầm và chép
những bài thơ nôm nói lên rằng tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập có vị trí đặc
biệt trong sự nghiệp sáng tác văn học của vị Hoàng đế anh minh lỗi lạc.
2.4 Các luận văn tốt nghiệp Đại học:
2.4.1 Luận văn của Phạm Mai Hương với đề tài “Tìm hiểu giá trị của phần
“phong cảnh môn” trong Hồng Đức quốc âm thi tập” Ở luận văn này tác giả chỉ
mới đi vào tìm hiểu một phần trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập đó là
phần “Phong cảnh môn” vì vậy mà vấn đề phong cách nghệ thuật chưa được đề
cập một cách cụ thể.
2.4.2 Luận văn của Trần Thị Sáng với đề tài “Lý tưởng thẩm mỹ trong
Hồng Đức quốc âm thi tập qua phần “Nhân Đạo Môn”ở luận văn này tác giả
cũng chỉ đi vào một phần trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập đó là “Nhân
đạo môn” vì thế vấn đề phong cách nghệ thuật tập thơ cũng chưa được đặt ra.
2.5 Những bài viết trên tạp chí.
2.5.1. Cuốn Tạp chí Văn học số 4-1983 có bài viết “Hồng Đức quốc âm thi
tập một tác phẩm lớn của văn học tiếng Việt thế kỷ XV” của Bùi Duy Tân. Ông
nhận xét về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập như sau:
“Tập thơ tiếng Việt trên 300 bài này đã được phiên âm và xuất bản năm
1962, nhiều tập văn học sử, giáo trình đại học đã có nhiều trang viết tìm tòi,
phát hiện đóng góp. Song ấn tượng chung về nó còn khá mờ nhạt. các tập san,
tạp chí ngữ văn học đầu tiên hầu như chưa có bài nào nghiên cứu thật chững
chạc về nó. Người ta đề cập đến nó ít hơn nhiều so với những tác phẩm xem ra
còn thấp thua hơn nó về nhiều phương diện”.
2.5.2. Cuốn Tạp chí Văn học số 8- 1997 có bài viết: “ Về một số bài thơ
nôm của Lê Thánh Tông” của Vũ Đức Phúc có nhận xét như sau:
“…Thời Lê Thánh Tông thơ quốc ngữ đã phát triển và có những tập thơ
quốc ngữ của các quan trình đến tận tay vua nhưng Lê Thánh Tông muốn thơ
người với thiên nhiên, vạn vật” [1,47 ].
12
Tuy chưa đề cập nhiều đến tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập và vấn đề
phong cách nghệ thuật của tập thơ nhưng tác giả bài viết cho thấy phần nào tình
cảm của Lê Thánh Tông đối với con người, ông dành tình cảm của mình cho tất
cả mọi tầng lớp người trong xã hội. Điều này chứng tỏ ông là vị vua rất yêu
thương thần dân của mình.
Như vậy, từ góc độ này hay góc độ kia, các tác giả đã trình bày một số vấn
đề về thơ Nôm của Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức. Nhưng rõ ràng
chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về phong cách nghệ thuật Hồng
Đức quốc âm thi tập. Tuy nhiên, các tài liệu đó là chỗ dựa để chúng tôi đi vào
tìm hiểu phong cách tập thơ “Hồng Đức quốc âm thi tập”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nêu lên những đặc điểm riêng và độc đáo về nội dung và hình thức
của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
Nhằm chỉ ra được quan niệm nghệ thuật về con người, về thế giới được thể
hiện trong tập thơ.
Đồng thời tìm ra được những đặc sắc về ngôn ngữ- bút pháp- giọng điệu và
thể loại của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo cứu, thống kê, phân loại các bài thơ theo đề tài, chủ đề.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu một số bài thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi
tập với thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và toàn bộ tiến trình
thơ Nôm nói chung, nếu xét thấy cần thiết.
- Ngoài ra vận dụng một số phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp
loại hình, phương pháp đồng đại, lịch đại.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn nêu lên được những đặc trưng phong cách nghệ thuật của tập
phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tựơng
của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng
tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẽ, trong trào lưu văn học, hay văn
học dân tộc. Phong cách khác phương pháp sáng tác ở sự thực hiện cụ thể trực
tiếp của nó. Các dấu hiệu phong cách dường như nổi lên trên bề mặt tác phẩm,
như một thể thống nhất hữu hình và có thể tri giác được của tất cả mọi yếu tố
cơ bản của hình thức nghệ thuật. Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc
xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một
tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và sắc thái thống nhất.
Với ý nghĩa này, người ta phân biệt các “phong cách lớn” hay còn gọi là
“phong cách thời đại”(phong cách Phục Hưng, Ba rốc, chủ nghĩa cổ điển), các
phong cách của các trào lưu và dòng văn học, phong cách dân tộc, phong cách
cá nhân của tác giả.
Nói chung, phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ
thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật. Không phải bất cứ nhà văn nào cũng
có phong cách. Chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong
cách riêng độc đáo” [10, 212-213].
Khái niệm phong cách và phong cách nghệ thuật trong văn học, còn có rất nhiều
quan niệm và các bình diện khác nhau, theo Nguyễn Khắc Sính trong cuốn Phong
cách thời đại nhìn từ một thể loại văn học, ông đưa ra các khái niệm sau.
* Khái niệm phong cách trong đời sống.
Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, phong cách là khái niệm được dùng ở
khá nhiều lĩnh vực. Đối với mỗi con người trong xã hội, người ta nói đến phong
15
cách sống, phong cách làm việc, phong cách công tác.Với một số ngành nghệ
thuật như âm nhạc, sân khấu, người ta còn nói tới phong cách biểu diễn. Thuật
ngữ phong cách còn dùng để nói về phẩm chất chung của một con người cụ thể
như nói tới phong cách Hồ Chí Minh như một phẩm chất riêng độc đáo. Phong
hồn, người nào giỏi về dùng chữ đặt câu thì thơ hay hoa mỹ…xem thơ thì có
thể mường tượng được người” [40,45].
* Khái niệm phong cách văn học.
Đây là khái niệm phong cách kế thừa các truyền thống lý giải về phong
cách ngữ văn và phong cách nghệ thuật. Văn học là loại hình nghệ thuật ngôn
từ nên có những điểm chung, thống nhất giữa hai khái niệm phong cách trên.
Tuy nhiên, cũng từ đó mà hiện tại có hai khuynh hướng quan niệm về phong
cách văn học.
Với quan niệm nghiêng về phong cách ngôn từ, người ta đưa ra phương
diện lý luận của phong cách văn học như : Lý luận lệch chuẩn, lý luận về sự lựa
chọn, lý luận hàm ngôn…
Với quan niệm phong cách như là thống nhất về nội dung và hình thức,
mỗi tác giả cũng đưa ra giới hạn cách nhìn khác nhau. Theo quan niệm của
D.X.Likhachốp thì “Phong cách là một hệ thống nhất định về nội dung và hình
thức” là “Nguyên tắc thẩm mỹ để cấu trúc toàn bộ nội dung và hình thức”. Còn
G.N. Pôxpêlôp và P.Nicôlaiep thì đề nghị gọi phương pháp sáng tác là nguyên
tắc phản ánh- cái tạo ra nội dung, còn phong cách là nguyên tắc miêu tả, biểu
hiện- cái tạo ra hình thức; M.B. Khrapchencô khi xác định phong cách cũng
xem là phương thức biểu hiện và thuyết phục để phân biệt với phương pháp là
nguyên tác nhận thức, chiếm lĩnh…Các ý kiến này tuy có góp phần phân biệt
phương pháp và phong cách bởi các nguyên tác tạo thành hình thức thì cũng
chính là nguyên tắc tạo thành nội dung do không có nội dung nào bên ngoài
hình thức. Mặt khác, phong cách không bao giờ chỉ là câu chuyện hình thức
thuần túy mà nó là tư tưởng, quan niệm riêng của nó. Như vậy, quan niệm của
D.X. Likhachôp là quan niệm thỏa đáng, có cơ sở [40, 48].
Thông thường mọi người đều hiểu phong cách là dấu hiệu độc đáo, không
lặp lại, đánh dấu phẩm chất riêng biệt của một hiện tượng văn học nào đó. Đối
với tác phẩm văn học, phong cách là một hình thức liên kết của ngôn ngữ, là
nguyên tắc cấu trúc toàn bộ nội dung và hình thức nghệ thuật, như quan niệm
cách của nó. Các tác giả như V.Gimmunxki hay N.Xôcôlốp đều chủ trương có
phong cách tác phẩm. Nói phong cách tác phẩm có nghĩa là xem tác phẩm là
18
một chỉnh thể nền tảng của nghệ thuật có thể đạt tới sự độc đáo không lặp lại
của một phong cách nào đó. Nếu không có phong cách tác phẩm thì sẽ không
có phong cách nào khác nữa. Nhưng về thực chất, tác phẩm là đơn vị mang
phong cách lớn hơn như phong cách nhà văn phong cách thời đại… [40, 65].
Còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về phong cách. Theo cuốn Phong
cách và phong cách chức năng tiếng Việt thì: “ Trong các phong cách chức
năng, đây là phong cách có nhiều tên gọi nhất, có thể nêu ra một số tên gọi
được các nhà nghiên cứu sử dụng như: phong cách ngôn ngữ văn chương,
phong cách ngôn ngữ văn học, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”. Trong công
trình “Phong cách học tiếng Việt” tác giả Đinh Trọng Lạc đưa ra năm loại
phong cách chức năng: Phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học,
phong cách báo chí công luận, phong cách sinh hoạt hàng ngày. “Phong cách
nghệ thuật” không được xác lập trong hệ thống các phong cách chức năng nói
chung mà tách riêng thành một chương gọi là “ngôn ngữ nghệ thuật” [6,280].
Theo M.N.Kozina, cần phải đặt phong cách nghệ thuật trong mối quan hệ
với các phong cách khác và với ngôn ngữ văn học. Theo tác giả này, ngôn ngữ
văn học chỉ là một bộ phận của phong cách nghệ thuật: “Một phát ngôn nghệ
thuật thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của tất cả các phong cách khác,
trong đó có các phương tiện là điển hình cho các phong cách này. Tuy nhiên
trong tác phẩm văn học, các phương tiện này tham gia với các chức năng trao
đổi có tính thẩm mĩ thì tạo nên một hệ thống khác…”, “ Nét khu biệt của phát
ngôn nghệ thuật là ở chỗ nó không chỉ sử dụng các phương tiện ngôn ngữ có
tính văn học mà còn sử dụng cả phương tiện ngôn ngữ siêu văn học của đại
chúng, tiếng lóng tiếng địa phương. Đương nhiên, các phương tiện này được sử
dụng không phải là với chức năng thứ nhất mà cả với chức năng thẩm mỹ
Như vậy, có thể khẳng định rằng phong cách nghệ thuật cũng là một kiểu
giao tiếp không thể thiếu được trong đời sống xã hội giống như các phong cách
chức năng khác. Như CácMác nói “Ngôn ngữ ra đời do nhu cầu của con người
thấy cần phải nói với nhau một cái gì đấy, trao đổi với nhau một cái gì đấy” thì
phong cách nghệ thuật chính là sự nâng lên một bước các nhu cầu này ở mức độ
tinh tế, có tính thẩm mỹ và nghệ thuật, ở chiều sâu của nhận thức trong quá
trình khái quát hóa tư duy và trừu tượng hóa của tư duy lôgíc [6, 284-285].
20
Ở các tác giả nói trên, có những cách lý giải khác nhau, nhưng về cơ bản
đều thống nhất ở một điểm là: “ Khẳng định tầm quan trọng của phong cách
nghệ thuật trong hoạt động sáng tạo của các nhà văn và đề cao tính chủ thể của
phong cách nghệ thuật”.
1.2. Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
1.2.1. Tác giả tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
Hội Tao đàn, một hội thơ được thành lập năm Hồng Đức thứ 26(1495) đời
Lê Thánh Tông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô sĩ Liên và theo Việt sử
Thông giám cương mục của Quốc Sử Quán đời Nguyễn, thì tháng 11 năm Ất
Mão(1495) nhà vua nhân gặp tiết trời thuận, lại được mùa, mọi việc nhàn rỗi
bèn sáng tác thành chín bài thơ: Phong niên (năm đực mùa), Quân đạo (đạo làm
vua), Thần tiết (tiết tháo bề tôi), Minh lương ( Vua sáng tôi hiền), Anh hiền (bậc
anh tuấn hiền tài), Kỳ khí (Khí vận lạ),Thư thảo (vui đùa thành thơ), Văn nhân
(người văn học), Mai hoa (hoa mai).Chín bài thơ này được ghép vào khúc hát,
gọi tên là Quỳnh uyển cửu ca. Nhà vua thân soạn bài tựa, tự xưng là Tao đàn
nguyên súy và tiếp đó cho tuyển 28 văn thần, truyền cho theo vần trong chín bài
ca ấy để họa lại gọi là Tao đàn nhị thập bát tú (28 ngôi sao của Tao đàn). Đây là
một hội văn học (Tao: tao nhã, văn chương, đàn: nền, chỗ nhóm họp), tuy nhiên
cách tổ chức và sinh hoạt có lẽ khác với những hội văn học ngày nay. Đó là một
ủy ban những văn thần, cùng nhà vua thường nhóm họp sau những buổi triều
Ninh) đỗ tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 6 (1475), làm đến Thượng thư. Trong hội
Tao đàn thì Ngô Luân cùng với Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận là có thơ được
Lê Thánh Tông bình.
Ngô Hoán người Thượng-đáp, huyện Thanh- lâm(Hải Dương) đỗ Bảng
Nhỡn năm Hồng Đức 21(1490) làm đến thượng thư. Khi Đăng Dung cướp ngôi,
ông theo Lê Chiêu Tông chống lại, thất bại, tự thắt cổ chết, sau được phong là
“tiết nghĩa”.
Hàn lâm viện thị độc chưởng viện sự. Nguyễn Xung Xác
Nguyễn Xung Xác trước tên là Nhân Phùng, người làng Kim đôi, huyện Vũ
Giàng (Bắc Ninh) đỗ tiến sĩ năm Quang Thuân thứ 10, làm đến Lễ bộ Hữu thị
lang, ông là tác giả bài văn bia khoa Tân Sửu đời Hồng Đức 12(1480).
Hàn lâm viện thị độc tham chưởng viện sự. Lưu Hưng Hiếu.
22
Lưu Hưng Hiếu, người làng Lưỡng Hà, huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) đỗ
Bảng nhỡn đời Hồng Đức 12, làm đến Thượng thư, có đi sứ Trung Quốc.
Hàn lâm viện thị thư: Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Đức Huấn, Vũ Dương,
Ngô Thầm.
Nguyễn Quang Bật, người làng Bình Ngô, huyện Gia Định (nay là Gia
Lương) Bắc Ninh, đỗ trạng nguyên năm Hồng Đức 15 (1483), làm đến Đô ngự
sử, cùng với Đàm Văn Lễ, nhận di chiếu phò vua Túc Tông. Lê Uy Mục giận hai
người không giúp mình, lúc lên ngôi bắt cả hai người đi Quảng Nam rồi sai
người dìm chết xuống bể.
Nguyễn Đức Huấn, người làng An- định, huyện Chí Linh (Hải Dương) đỗ
Thám hoa năm Hồng Đức 18 (1486) làm đến Thượng thư tước Ninh quận công,
có đi sứ Trung Quốc.
Vũ Dương, người làng Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm (Hải Dương) đỗ
trạng nguyên (Tam nguyên) khoa Hồng Đức 24 (1493), làm đến Công bộ
Thượng thư.
Chu Hoãn, người làng Nhân lý, huyện Thanh Lâm (Hải Dương) đỗ Hoàng
Giáp năm Hồng Đức 24.
Hàn lâm viện kiểm thảo; Phạm Cẩn Trực, Nguyễn Ích Tốn, Đỗ Thuần Thư,
Phạm Nhu Huệ, Lưu Dịch, Đàm Thuận Huy, Phạm Đạo Phú.
Phạm Cẩn Trực, người làng Đàm Xá, huyện Gia Lộc (Hải Dương) đỗ tiến
sĩ năm Hồng Đức 15 làm đến Phủ doãn phú Phụng Thiên (Thăng Long).
Nguyễn Ích Tốn người làng Mậu Khê, huyện Đan Phượng (Sơn Tây) đỗ
tiến sĩ năm Hồng Đức 15, làm đến Lễ bộ tả Thị lang, ông là cháu ngoại trạng
nguyên Nguyễn Trực.
Đỗ Thuần Thư, trước có tên là Thuân Tông, nguời làng Tử Kiều, huyện
Đông An, nay là huyện Khoái Châu (Hưng Yên), đỗ tiến sĩ khoa Hồng Đức 18,
làm đến Thừa chính sứ.
Phạm Nhu Hụê, người làng Phù Vệ, huyện Ngự Thiên Hưng Yên (nay là Hưng
Nhân Thái Bình) đỗ tiến sĩ năm Hồng Đức18 cũng làm đến Thừa chính sứ.
Lưu Dịch, người làng Nại Xuyên, huyện Kim Thành (Hải Dương) đỗ tiến
sĩ năm Hồng Đức 21.
Đàm Thận Huy hiệu là Mặc Hiên, người làng Ông Mặc huyện Đông Ngàn
(nay là Từ Sơn Bắc Ninh) đỗ tiến sĩ năm Hồng Đức 21, làm đến Lễ bộ Thượng
24
thư, Tri chiêu văn quán, có đi sứ Trung Quốc, về sau ông chống nhau với Mạc
Đăng Dung nhưng thất bại, uống thuốc độc chết, được tặng phong là “tiết nghĩa”
đời Cảnh Hưng.
Phạm Đạo Phú, người huyện Đại An (Nam Định) đỗ tiến sĩ năm Hồng Đức
21, làm đến Hình bộ Tả thị lang.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì hội Tao đàn chỉ có bấy nhiêu người nhưng
theo Việt sử thông giám cương mục và theo Thoái thực ký văn thì còn thêm Chu
Huân.
Chu Huân là người làng Ngọc Đội, huyện Vũ giàng (Bắc Ninh) đỗ tiến sĩ
một bước tiến đáng kể trong lĩnh vực trau dồi và nâng cao sức biểu hiện của
ngôn ngữ văn học dân tộc. Những tác phẩm Nôm được sáng tác thời đó là Thập
giới cô hồn quốc ngữ văn và Hồng Đức quốc âm thi tập [45, 544].
Hồng Đức quốc âm thi tập là tuyển tập thơ chữ Nôm của Lê Thánh Tông và
các triều thần, sáng tác khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470- 1497), được đời sau
sưu tập. Các bài không đề tên tác giả, nhưng thấy rõ là của nhiều người, vì có
thơ xướng họa, hoặc xoay quanh một đề tài. Một số bài cho rằng có lẫn với thơ
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Căn. Chia làm năm môn loại, gồm 328 bài. Cuối
tập thơ có thêm 45 bài thơ về truyện “ Vương Tường” do người sau thêm vào.
Tác phẩm là kết quả của phong trào sáng tác thơ Nôm ở cung đình do nhà vua
khởi xướng, nên nặng về trau chuốt hình thức. Nổi bật là niềm vui sướng, thảnh thơi,
tính điệu lạc quan yêu đời của con người được sống trong cảnh thái bình, thịnh trị:
Nhà nam, nhà bắc đều no mặt
Lừng lẫy cung ca khúc thái bình
(Nhất canh, bài 33, Thiên địa môn)
Lầu treo cung nguyệt người êm giấc
Đường quạnh nhà thôn của nhặt cài
(Nhị canh, bài 34, Thiên địa môn)
Rải rác trong tập thơ có những nét bút trào phúng khá rõ, chẳng hạn.Tả ngôi
nhà dột tác giả viết :
Đêm có ả trăng làm bạn cũ
Ngày thì dì gió quét bên giường
(Lậu ốc, bài 69, Phẩm vật môn))
Nói cuộc tương phùng: