Tinh thần dân tộc trong tập thơ hồng đức quốc âm thi tập - Pdf 31

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian vừa qua, nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tôi đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: Tinh thần dân tộc trong tập thơ
Hồng Đức quốc âm thi tập.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới cô giáo, thạc sĩ
An Thị Thúy, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt
Nam, cùng các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Hà Nội, ngày...tháng...năm......
Sinh viên

Nguyễn Thị Thơi

Nguyễn Thị Thơi

1

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

6. Bố cục của khóa luận………………………………………………………9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.Hoàn cảnh lịch sử thời Lê sơ.....................................................................10
1.1.1. Chính trị ……………………………………………………………...10
1.1.2. Khôi phục và phát triển kinh tế ………………………………………13
1.1.3. Tư tưởng ……………………………………………………………...16
1.1.4. Văn hoá ................................................................................................17
1.2. Về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập ………………………………....20
1.2.1. Tác giả ………………………………………………………………..20
1.2.1.1. Lê Thánh Tông……………………………………………………...24
1.2.1.2. Hội Tao Đàn ......................................................................................24
1.2.2. Tác phẩm ……………………………………………………………..27
1.2.2.1. Hoàn cảnh ra đời …………………………………………………...27
1.2.2.2. Nội dung chính …………………………………………………….29
CHƯƠNG 2: TINH THẦN DÂN TỘC TRONG HỒNG ĐỨC
QUỐC ÂM THI TẬP
2.1. Quan niệm về tinh thần dân tộc trong thơ ca trung đại Việt Nam ……...32

Nguyễn Thị Thơi

3

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

2.1.1. Quan niệm về tinh thần dân tộc ………………………………………32

vượt lên trước thời gian để sống với tương lai.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã thành công tốt đẹp,
mở ra một thời kì mới cho lịch sử dân tộc: thời kì đất nước được độc lập sau
hơn hai mươi năm bị giặc Minh đô hộ. Mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã
hội có điều kiện phát triển hơn bao giờ hết.
Do tình hình lịch sử quyết định, văn học suốt thế kỉ XV đều nhằm ca
ngợi chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống
Minh, đồng thời cũng ca ngợi đất nước trong giai đoạn thịnh trị sau chiến
thắng đó. Đến thời Lê Thánh Tông, nhất là dưới niên hiệu Hồng Đức (1470 –
1497), văn học đã có sự phát triển vượt bậc. Thời kì này có nhiều tập thơ chữ
Hán ra đời như: Quỳnh uyển cửu ca, Minh lương cẩm tú…Đặc biệt, Lê Thánh
Tông đã thành lập hội Tao Đàn với hai mươi tám nhân sĩ đương thời để cùng
bàn luận và sáng tác thơ ca. Sáng tác của hội, ngoài những tác phẩm viết bằng
chữ Hán như đã nói ở trên thì còn có rất nhiều tác phẩm viết bằng chữ Nôm,
trong đó Hồng Đức quốc âm thi tập là tác phẩm tiêu biểu nhất.
Hồng Đức quốc âm thi tập ra đời đã khẳng định sức sống và khả năng
phát triển to lớn của ngôn ngữ Việt, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, dân tộc
hóa và tinh thần độc lập của văn hóa Việt. Sự xuất hiện của Hồng Đức quốc
âm thi tập cũng như dòng thơ Nôm Đường luật là một minh chứng cho tinh

Nguyễn Thị Thơi

5

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp


6

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Trong bài viết này, các tác giả đã đề cập đến tinh thần dân tộc trong Hồng
Đức quốc âm thi tập. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc khảo sát
chứ chưa đi sâu phân tích cụ thể từng khía cạnh của tinh thần dân tộc được thể
hiện trong tập thơ.
2. Lã Nhâm Thìn trong cuốn chuyên luận Thơ Nôm Đường luật đã bàn
một cách khái quát về hình tượng thơ Nôm Đường luật thời kì trung đại, trong
đó có Hồng Đức quốc âm thi tập. Tác giả cũng đề cập đến việc khai thác đề
tài, hình tượng, thể loại, ngôn ngữ mang tinh thần dân tộc như: Việc sử dụng
nhuần nhuyễn thể thơ thất ngôn chen lục ngôn, việc sử dụng thành thạo các từ
láy, khẩu ngữ...Tuy nhiên, tất cả những điều đó chủ yếu ở phương diện nghệ
thuật và được bàn đến một cách chung nhất mà chưa đưa ra những biểu hiện
cụ thể.
3. Bùi Văn Nguyên trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam (tập 2) có bài
“Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn”. Trong bài viết này, Bùi Văn Nguyên đã đề
cập đến các phương diện nội dung và nghệ thuật của một số tập thơ do Lê
Thánh Tông và hội Tao Đàn sáng tác, trong đó có Hồng Đức quốc âm thi tập.
Tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh, đặc biệt là lòng tự hào dân tộc, ông
khẳng định: “trước hết lòng tự hào dân tộc thể hiện ở những bài thơ miêu tả
phong cảnh thiên nhiên đất nước” [9, tr. 97] và “lòng tự hào dân tộc còn thể
hiện ở những bài thơ vịnh sử” [9, tr.97]. Song, nếu xét một cách tổng quát thì

hóa thời Hậu Lê.
+ Thấy được tinh thần dân tộc trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: với khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp
và khả năng làm chủ tư liệu có hạn, chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp
là tập thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và hội Tao
Đàn do Phan Trọng Điềm và Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú giải, giới thiệu.
- Phạm vi nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu một khía cạnh
của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, cụ thể là “tinh thần dân tộc” được thể
hiện trong tập thơ.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Để khai thác đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương
pháp sau:
+ Phương pháp thống kê, phân loại
+ Phương pháp đối chiếu, so sánh
+ Phương pháp tổng hợp

Nguyễn Thị Thơi

8

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

6. Bố cục của khóa luận

chính trị, kinh tế, văn hoá.
1.1.1. Chính trị
 Xây dựng và củng cố chính quyền
Năm 1428, Thái Tổ chia nước thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc
(tương ứng với Bắc bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hoá vào đến Thuận
Hoá). Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu. Đơn vị hành chính cơ sở là xã. Năm
1466, Thánh Tông chia lại cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, gồm: Thanh
Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang,
An Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung
Đô. Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất ở phía nam Thuận Hoá cho đến đèo
Cù Mông, Thánh Tông lập thêm thừa tuyên thứ mười ba: Quảng Nam.
Về mặt chính quyền, Thái Tổ chấn chỉnh lại bộ máy nhà nước theo mô
hình nhà nước thời Trần. Dưới vua có hai chức Tả, Hữu tướng quốc, ba chức
Tư, ba chức Thái, ba chức Thiếu…Tiếp đến là hai ban văn và võ. Ở địa
phương, đứng đầu các đạo là chức Hành khiển phụ trách mọi việc quân dân,
sau đó là các an phủ sứ, tri phủ, tuyên phủ sứ.

Nguyễn Thị Thơi

10

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Đất nước hồi phục và dần dần phát triển. Xuất phát từ những yêu cầu
mới của chính trị, trong những năm 1460 – 1471, Lê Thánh Tông tiến hành

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Thời Lê Thánh Tông, cùng với cuộc cải cách hành chính, nhà vua tổ
chức lại quân đội, chia thành hai bộ phận: Quân trong bảo vệ triều đình nhà
vua và kinh thành và quân ngoài địa phương. Về sau, Thánh Tông cho đặt
thêm các vệ quân ở các đô ti xa như Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá..
Về chủng loại có bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kị binh. Ngoài ra có
các đơn vị chuyên sử dụng một loại súng gọi là hoả đồng. Vũ khí đơn giản có
đao kiếm, giáo mác, cung tên…
Chế độ tuyển quân được quy định chặt chẽ, thông thường một hộ có ba
đinh thì phải lấy một người làm lính và một người dự bị. Vì vậy, tuy số lượng
quân thường trực không nhiều, nhưng khi đánh Champa hay Bồn Man, nhà
Lê đã huy động đến 26 hay 30 vạn quân.
Vấn đề bảo vệ biên giới, nhất là biên giới phía bắc, luôn luôn được nhà
nước quan tâm. Các trấn biên giới đều có quân hùng tướng giỏi. Thánh Tông
từng răn đe “kẻ nào dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ để lại làm
mồi cho giặc thì sẽ bị trừng trị nặng.”
 Luật pháp
Sau khi lên ngôi vua, Thái Tổ lo ngay đến việc đặt luật pháp. Thái
Tông và Nhân Tông ban hành thêm một số điều luật và xét xử kiện tụng, sở
hữu tài sản. Năm 1483, Thánh Tông quyết định triệu tập các đại thần biên
soạn một bộ luật chính thức của triều đại mình, thường được gọi là “Luật
Hồng Đức”. Bộ luật gồm 722 điều, chia thành 16 chương.
Chương đầu của bộ luật quy định rõ các hình phạt được sử dụng và
những trường hợp được miễn giảm…

thống nhất đất nước.
Đối với nhà Minh, sau khi giải phóng Tổ quốc, Lê Thái Tổ lập tức cử
sứ bộ sang cầu phong và đặt quan hệ hoà hảo. Từ đó, cứ ba năm, nhà Lê theo
lệ sang cống cho nhà Minh và tiếp đón các sứ bộ nhà Minh sang nước ta. Mặt
khác nhà Lê kiên quyết bảo toàn lãnh thổ Đại Việt và chủ quyền của một
nước độc lập.
Trong những năm 40 của thế kỉ XV, một số nước láng giềng như Lào,
Bồn Man, một tiểu quốc ở nam Mianma, Xiêm cũng lần lượt sai sứ sang cống
và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta.
1.1.2. Khôi phục và phát triển kinh tế
Chế độ đô hộ của nhà Minh và cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc đã
tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế nước ta vốn đã suy yếu trong những thập kỉ
cuối Trần. Khi đất nước trở lại độc lập, nhà nước và nhân dân với ý thức tự

Nguyễn Thị Thơi

13

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

hào dân tộc sâu sắc đang vươn cao, đã hợp sức cùng nhau nhanh chóng khôi
phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh và sau đó đưa nền kinh tế phát
triển lên một giai đoạn mới ở nửa sau thế kỉ XV.
 Tình hình ruộng đất
Để đảm bảo an toàn cho sản xuất, Thái Tổ hạ lệnh cho các làng làm sổ

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

cho công cuộc khai hoang này, Thánh Tông đã cho đắp một hệ thống đê biển
mang tên đê Hồng Đức.
Năm 1481, theo đề nghị của các quan, Thánh Tông quyết định cho
thành lập 43 sở đồn điền với mục đích “khai thác hết sức nông nghiệp, mở
rộng nguồn súc tích cho đất nước”.
Nhà Lê rất chăm lo đến thuỷ lợi, đê điều. Việc đào kênh, khơi ngòi
được tổ chức ở nhiều nơi vừa có lợi cho chuyển vận, vừa tạo nguồn nước tưới
ruộng cho nhân dân. Nhà nước còn luôn luôn khuyến khích nhân dân đắp bờ
giữ nước, khơi thông những chỗ úng thuỷ, phòng hạn hán…
Ngoài ra, nhà nước còn quy định mọi công trình xây dựng cần điều
động dân phu đều phải tiến hành ngoài thời vụ cày cấy, gặt mùa. Pháp luật
nhà Lê bảo vệ chặt chẽ sức kéo trong nông nghiệp. Tội ăn trộm trâu bò bị
trừng phạt nặng.
Trong những năm khó khăn, hạn hán, lụt lội, nhà vua thường lập đàn
cầu đảo, tự trách mình hoặc ra chiếu khuyến nông, động viên nhân dân khắc
phục khó khăn đảm bảo sản xuất.
Chính sách trọng nông của nhà Lê thực sự đạt kết quả tốt. Vì thế mà
nhân dân từng ca ngợi:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.
 Tình hình công thương nghiệp
Hoà bình lập lại, nhu cầu phục hồi và phát triển nông nghiệp, xóm làng,
xây dựng lại kinh thành, trấn lị đã thúc đẩy sự phục hồi và phát triển nhanh
chóng của các nghề thủ công.
Các ngành nghề truyền thống như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, rèn sắt, dệt
chiếu, làm nón, đúc đồng ngày càng phát triển ở các làng. Những làng nghề

như đồng tiền đã tác động vào xã hội, vào hệ thống quan lại, từng bước gây
nên sự đổi thay trong chế độ chính trị và sự ổn định của đất nước.
1.1.3. Tư tưởng
Từ cuối đời Trần, Nho giáo đã lấn át Phật giáo. Đến thời Lê sơ, Nho
giáo chiếm địa vị độc tôn.
Tuy nhiên nhân dân không dễ dàng chấp nhận các giáo điều phong kiến
Nho giáo. Năm 1485, Thánh Tông vẫn dụ các quan: “Trẫm từ khi lên ngôi
đến giờ, phàm những phép dạy dân nên phong tục tốt…không cái gì là không
nói ra trong lời huấn dụ…thế mà …tục dân vẫn chưa được tốt.”(Đại Việt sử
kí toàn thư, Ngô Sĩ Liên).

Nguyễn Thị Thơi

16

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Trước đây, bọn phong kiến nhà Minh trong thời gian đô hộ nước ta dã
lợi dụng Phật giáo và Đạo giáo để mê hoặc nhân dân. Chúng truyền bá các
hình thức mê tín, tà thuật, phù phép, đào tạo hàng loạt thuật sĩ, đạo sĩ, tăng
nhân chuyên sống bằng nghề ma chay, bói toán. Các chùa chiền mất dần ý
nghĩa trang nghiêm, ruộng đất của nhà chùa cũng tản mát, hoang hoá. Lên
ngôi Hoàng đế, Lê Lợi đặt lệ thi tăng nhân, buộc các nhà sư phải trên năm
mươi tuổi, thông hiểu kinh phật và qua một kì khảo hạch mới được nhà nước
công nhận, ngoài ra đều phải hoàn tục.


dựng lại Văn miếu, mở rộng Thái học viện, mở thêm Tú Lâm cục và Sùng
văn quán để bồi dưỡng con em quý tộc, quan lại cao cấp…Nội dung học tập
được quy định đầy đủ, rõ ràng, các học quan được tuyển chọn cẩn thận.
Từ năm 1428, nhà nước cứ 3 năm lại mở một khoa thi, ai đỗ thi Hội
đều được phong là tiến sĩ. Năm 1462, Thánh Tông đặt lệ “bảo kết thi hương”,
quy định rõ thủ tục giấy tờ của những người ứng thí.
Nhà Lê khuyến khích việc học tập thi cử bằng cách đặt lệ xướng danh,
treo bảng, ban mũ áo, phẩm tước, dựng bia tiến sĩ và lệ vinh quy bái tổ.
Những biện pháp nói trên đã góp phần quan trọng phát triển giáo dục trong
nước. Tính riêng trong 38 năm dưới triều vua Lê Thánh Tông, nhà nước đã
mở 12 khoa thi Hội, lấy đỗ 501 tiến sĩ, trong đó có 9 trạng nguyên.
Nội dung giáo dục chủ yếu là Nho giáo qua các sách Tứ thư, Ngũ kinh,
Bác sử, Thơ phú…nhưng qua các kì thi Văn sách hay thi Đình, người học
trình bày được năng lực chính trị và sự hiểu biết thực tiễn của mình. Từ giáo
dục, khoa cử đã xuất hiện nhiều nhà nho, nhà chính trị, ngoại giao, nhà sử học
nổi tiếng làm rạng danh đất nước một thời.
 Văn học, sử học
Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm ưu thế, xuất hiện hàng loạt tập văn thơ
nổi tiếng: Tập Quân trung từ mệnh gồm trên năm mươi bức thư do Nguyễn
Trãi thay lời Lê Lợi viết gửi bọn tướng nhà Minh với nội dung đấu tranh
ngoại giao quan trọng; bản Đại cáo bình Ngô là một áng anh hùng ca tổng kết
một cách tài tình cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đồng thời toát lên niềm
tự hào dân tộc cao quý…
Bên cạnh đó, thơ văn chữ Nôm cũng giữ một vị trí vô cùng quan trọng
trong nền văn học dân tộc. Hàng loạt các tác phẩm viết bằng chữ Nôm ra đời
như: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Hồng Đức quốc âm thi tập, của hội
Tao Đàn; cùng rất nhiều sáng tác của Lê Thánh Tông…

Nguyễn Thị Thơi

chức vào các ngày hội, lễ…
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lê sơ không phát triển. Các
công trình Phật giáo như chùa chiền, chuông tuợng bị tàn phá nhiều ở những
năm cuối Trần và những năm bị nhà Minh đô hộ, không có điều kiện phục hồi
do sự hạn chế của nhà nước. Các vua Lê không chủ truơng xây dựng thêm
nhiều công trình mới. Cung điện nhà vua và dinh thự các cơ quan được sửa
chữa, xây dựng thêm nhưng dấu vết hiện nay không còn. Điêu khắc thời Lê sơ
chuyển dần sang phong cách mới, hình khối đồ sộ, kĩ thuật điêu luyện.

Nguyễn Thị Thơi

19

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Như vậy, có thể thấy rằng, sau khi giành được độc lập, nhà Lê đã từng
bước phục hồi và phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực. Những thành tựu
mà nhân dân Đại Việt giành được đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của văn học thời kì này.
1.2. Về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
1.2.1. Tác giả
Văn học Nôm nửa sau thế kỉ XV phát triển trên cơ sở kế thừa những
thành tựu của văn học nửa đầu thế kỉ mà tiêu biểu là Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi. Thời này, Lê Thánh Tông cũng sáng tác văn thơ Nôm và
khuyến khích các triều thần tham gia. Do đó, việc sáng tác văn học Nôm đã

Chiêm, nước Lào, mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam…bấy giờ được văn
minh ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường
thịnh như vậy.”(Việt Nam sử lược,Trần Trọng Kim)
Lê Thánh Tông là một trong những ông vua ở ngôi lâu nhất trong lịch
sử (38 năm), đã đưa đất nước lên một thờ kì thịnh trị nhất trong cả ngàn năm
lịch sử Việt Nam. Ông cũng có một số khuyết điểm, nhưng không phải là cơ
bản. Nhìn toàn cục, cuộc đời Lê Thánh Tông là một quá trình hoạt động sôi
nổi trên nhiều lĩnh vực mà mặt nào cũng tỏ ra rất xuất sắc.
Lê Thánh Tông tên tự là Tư Thành, lại có tên nữa là Hạo, là con trai thứ
tư và cũng là con út của vua Thái Tông. Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm
Tuất (1442). Mẹ là bà Ngô Thị Ngọc Dao, con gái của Thái Bảo Ngô Từ, một
trong những công thần khai quốc của nhà Lê, người làng Động Bàng, huyện
Yên Định (Thanh Hoá).
Có nhiều chuyện kể lại rằng Lê Tư Thành được sinh ra bên ngoài cung
cấm, tại chùa Huy Văn (phía trong ngõ Văn Chương, đường Hàng Bột, Hà
Nội). Sống giữa chốn nhân gian từ nhỏ đến năm lên 4 tuổi, mẹ Nhân Tông
buông rèm nghe chính sự, mới cho đón Tư Thành về phong làm Bình Nguyên
vương, cho ở nhà Phiên để hàng ngày cùng vua Nhân Tông và các phiên
vương khác học tập tại toà Kinh Diên.
Tư Thành sớm có chất đế vương: Chăm chỉ học tập, dáng dấp đoan
chính, thông tuệ hơn người. Vì thế mẹ Nhân Tông càng yêu quý và coi Tư
Thành như con đẻ của bà, còn vua Nhân Tông thì cho là người em hiếm có.
Khi Nghi Dân, con cả của Thái Tông trước đó bị biếm truất rồi âm mưu
thoán đạt đã giết mẹ con Bang Cơ (vua Nhân Tông) lên ngôi vua, lại phong
Tư Thành làm Gia Vương và vẫn cho ở nhà Tây để trong nội điện. Khi Nghi
Dân bị lật đổ, trong triều có người bàn lập Tư Thành làm vua, nhưng một viên

Nguyễn Thị Thơi

21

vua vì thế mà nặng hơn vậy.”
Có thể thấy rằng, cuộc đời Lê Thánh Tông là một cuộc đời hoạt động
sôi nổi trên rất nhiều lĩnh vực và mặt nào cũng tỏ ra rất xuất sắc. Người
đương thời từng nhận xét: Vua tư trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng

Nguyễn Thị Thơi

22

K33B – Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

tài đại lược, võ giỏi văn hay, mà thánh học rất chăm, tay không lúc nào rời
quyển sách…
Chính bản thân Lê Thánh Tông cũng rất tự ý thức về sự cần mẫn chăm
lo trau dồi tri thức, bỏ công sức mình vào công việc cai trị đất nước. Ông từng
viết:
Lòng vì thiên hạ những sơ âu,
Thay việc trời dám trễ đâu.
Trống dời canh còn đọc sách,
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.
(Tự thuật, Hồng Đức quốc âm thi tập)
Nhờ đó mà dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông, nước Đại Việt đã đạt
được sự phát triển rực rỡ về mọi mặt.
Lê Thánh Tông là người tha thiết với chủ quyền quốc gia. Ông đã từng
nói câu nổi tiếng: “Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ

Phương đông mặt trời mọc, áng mây nhẹ trôi,
Phóng mắt ngắm núi sông muôn dặm.
(Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần biển Đông)
Trong sự ham thích thơ văn, Lê Thánh Tông còn có một ưu điểm khiến
cho văn học sử sau này phải trân trọng. Đó là việc ông có sở trường thơ Nôm.
Văn Nôm trước đây thường không được coi trọng, vì thế một ông vua chuyên
làm thơ Nôm và lại làm rất nhiều là một điều hết sức đặc biệt.
Lịch sử đã thừa nhận Lê Thánh Tông là một vị anh quân, một ông vua
giỏi, có đường lối chính trị rõ ràng, có chủ trương giáo dục quốc dân chu đáo.
Ông đề ra luật đúng đắn, sử dụng quan lại đúng sức đúng tài. Đặc biệt là suốt
mấy chục năm cầm quyền, ông không bao giờ lơ là với trách nhiệm, luôn coi
sóc mọi việc đầy đủ, đảm bảo cho bộ máy quốc gia hoạt động nhịp nhàng. Có
văn trị, ông lại có vũ công. Song chúng ta còn phải trân trọng ông ở những
khía cạnh khác nữa, nhất là ở phần phát huy tác dụng của tuổi thanh niên. Lúc
nào ta cũng thấy ông trẻ trung, yêu đời. Ông rất yêu non sông đất nước, có
tâm hồn thi sĩ và thực sự gắn bó với thiên nhiên Việt Nam…
1.2.1.2. Hội Tao Đàn
Thời Lê Thánh Tông, được các nhà sử học coi là đỉnh phát triển cao
nhất của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam trong thời kì thịnh trị của nó.
Dưới triều Lê Thánh Tông, trật tự xã hội phong kiến đã ổn định, chính quyền
phong kiến đã vững mạnh và mọi thứ phép tắc, kỉ cương đã được xây dựng có
quy củ. Hoàn cảnh lịch sử ấy tất nhiên tạo ra một tâm lí tự mãn của một giai

Nguyễn Thị Thơi

24

K33B – Ngữ văn




Nguyễn Thị Thơi

25

K33B – Ngữ văn


Trích đoạn Quan niệm về tinh thần dân tộc Quan niệm về tinh thần dân tộc trong thơ ca trung đại Việt Nam Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước Ngợi ca cuộc sống thanh bình của dân tộc Khắc họa chân dung những anh hùng dân tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status