Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục chính trị
---- ----
Phạm Xuân Sánh
Luận văn tốt nghiệp đại học
Đề tài:
Phơng pháp giảng dạy một số bài pháp luật
giáo dục công dân - lớp 12
ở trờng Trung học phổ thông
Chuyên ngành: Phơng pháp
Vinh - 2002
Lời Cảm Ơn
Đ
ể thực hiện đ ợc công trình
nghiên cứu này, em xin bày
tỏ lòng biết sơn sâu sắc tới
thầy giáo Lê Văn Thảo, các thầy,
1
các cô trong tổ ph ơng pháp cùng các
thầy cô giáo trong Khoa giáo dục
1.2.2.2. Đàm thoại gợi mở (tự do)...........................................14
1.2.3. Những yêu cầu để thực hiện tốt phơng pháp đàm thoại.........15
1.3. Phơng pháp trực quan..........................................................16
1.3.1. Khái niệm:..............................................................................16
1.3.2. Các hình thức trực quan:........................................................17
1.3.2.1. Hình thức sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh, số liệu
thống kê................................................................................. 17
1.3.2.2. Hình thức trực quan qua đèn chiếu, máy chiếu phim ảnh....17
1.3.2.3. Hình thức trực tiếp sử dụng máy vi tính trong giảng dạy:18
1.3.3. Những yêu cầu khi sử dụng phơng pháp trực quan:...............19
1.4. Phơng pháp liên hệ thực tế...................................................21
1.4.1. Khái niệm phơng pháp liên hệ thực tế:..................................21
1.4.2. Những u điểm và yêu cầu cần lu ý khi vận dụng phơng pháp
liên hệ thực tế................................................................................... 21
1.4.2.1. Những u điểm của phơng pháp liên hệ thực tế............21
1.4.2.2. Yêu cầu khi vận dụng phơng pháp liên hệ thực tế:......22
Chơng 2..........................................................................................................24
Vận dụng các phơng pháp dạy học.............................................24
để giảng một số bài Pháp luật - Giáo dục công dân lớp 12...24
2.1. Vận dụng các phơng pháp dạy học để giảng bài 12 "Luật lao
động và hợp đồng lao động" - Giáo dục công dân lớp 12.......24
3
2.1.1. Khái niệm luật lao động.........................................................24
2.1.1.1. Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân:.................24
2.1.1.2. Pháp luật lao động......................................................26
2.1.2 Hợp đồng lao động..................................................................27
2.1.2.1. Hợp đồng lao động là gì?...........................................27
2.3.2.2. Tội phạm....................................................................40
2.3.2.3. Hình phạt...................................................................41
4
2.3.2.4. Một số quy định đối với ngời cha thành niên phạm tội44
Thực trạng việc vận dụng phơng pháp dạy học các bài Pháp
luật ở trờng Trung học phổ thông hiện nay - Một số giải
pháp cụ thể.................................................................................................45
3.1. Thực trạng việc vận dụng các phơng pháp dạy học các bài
Pháp luật ở trờng Trung học phổ thông hiện nay....................45
3.1.1. Những u điểm đạt đợc:...........................................................45
3.1.2. Những nhợc điểm cần khắc phục...........................................46
3.2. Một số giải pháp cụ thể........................................................48
C. Phần Kết luận......................................................................................50
D. Danh mục Tài liệu tham khảo...................................................51
A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh hiện nay, nhân loại đang bớc vào thế kỷ XXI với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại, công cuộc đổi mới ở nớc ta
đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với việc nâng cao chất l ợng giáo dục
và đào tạo. Trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng ta đã khẳng định: "Tiếp tục
nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phơng pháp dạy và
học"[10,35]. Trên tinh thần đó, trong kế hoạch phát triển giáo dục đào tạo
những năm 2001 - 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ tr ơng: Đổi mới mục
tiêu, chơng trình, nội dung, phơng pháp giáo dục đào tạo.
Để đáp ứng yêu cầu giáo dục, môn Giáo dục công dân cùng với nhiều
bộ môn khoa học khác đã đồng thời cải tiến cả về nội dung và ph ơng pháp
(NXB ĐHQG, Hà Nội 1999)
- "Hớng dẫn giảng dạy Giáo dục công dân lớp 12" của Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
(NXB Giáo dục - 2001)
- "Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân" tác giả Phùng Văn Bộ.
(NXB Quốc gia, Hà Nội - 2001)
- "Phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân" do PGS. Vơng Tất Đạt
chủ biên.
(Trờng ĐHSP I, Hà Nội 1994)
- Đề tài: "Kỹ năng đặt câu hỏi trong giảng dạy phân môn Pháp luật Giáo dục công dân 12" của sinh viên Nguyễn Thị Huyền K38 GDCT- Đại học Vinh.
Các công trình khoa học trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề về
phơng pháp - kỹ năng giảng dạy môn Giáo dục công dân, trong đó có các bài
Pháp luật. Tuy nhiên phơng pháp giảng dạy các bài cụ thể thì các tác giả ch a
đề cập một cách đầy đủ. Để góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu phơng pháp
giảng dạy phân môn Pháp luật, tôi mạnh dạn tìm hiểu vấn đề này với mong
6
muốn rút ra đợc một số kinh nghiệm nhỏ về phơng pháp giảng dạy của bản
thân và của đồng nghiệp sau này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Nghiên cứu phơng pháp giảng dạy một số bài Pháp luật - Giáo dục công
dân 12 với mục đích và nhiệm vụ sau:
- Góp phần nhỏ bé vào quá trình đổi mới phơng pháp dạy học môn Giáo
dục công dân nói chung và việc nâng cao vai trò giáo dục, giảng dạy phân
môn Pháp luật nói riêng ngày một tốt hơn.
- Giúp cho mỗi sinh viên khoa Giáo dục chính trị - những giáo viên
giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trờng Trung học phổ thông nhận
thức đợc tầm quan trọng của vấn đề. Từ đó có sự tìm tòi, sáng tạo để
Trớc hết, tôi vạch ra đề cơng nghiên cứu, thu thập số liệu, thông tin qua
việc tham khảo tài liệu, sách báo, tạp chí và sau đó xử lý thông tin, đồng
thời chịu khó học hỏi kinh nghiệm, sự hớng dẫn, chỉ đạo của thầy giáo hớng
dẫn và các thầy cô giáo khác. Chú ý lắng nghe và tiếp thu ý kiến có chọn lọc
của các anh chị khóa trớc, các bạn cùng lớp, cùng ngành đào tạo trong Khoa
Giáo dục chính trị.
Đặc biệt, tôi đã có một thời gian thâm nhập thực tế ở trờng Trung học
phổ thông qua đợt thực hành nghiệp vụ s phạm và đợt thực tập s phạm. Tham
dự một số giờ giảng mẫu của một số giáo viên, học hỏi, tiếp thu một cách tích
cực những ý kiến và kinh nghiệm trong giảng dạy phân môn Pháp luật ở tr ờng
Trung học phổ thông.
Từ đó, trên cơ sở những cái đã nắm bắt đợc, bằng con đờng phân tích, tổng
hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, cụ thể hóa để bớc đầu rút ra một số kết luận
cần thiết cho vấn đề nghiên cứu của mình.
6. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng với 9 tiết. Cụ thể:
Chơng 1: Hệ thống các phơng pháp giảng dạy các bài Pháp luật - Giáo
dục công dân 12.
1.1. Phơng pháp thuyết trình.
1.2. Phơng pháp đàm thoại.
1.3. Phơng pháp trực quan.
1.4. Phơng pháp liên hệ thực tế.
Chơng 2: Vận dụng các phơng pháp dạy học để giảng dạy một
số bài Pháp luật - Giáo dục công dân 12.
8
Giảng giải thờng đợc sử dụng để giảng tri thức mới, bởi vì các tri thức
mới bao giờ cũng xây dựng trên cơ sở của các khái niệm, phạm trù, nguyên lý,
9
quy luật. Khác với tri thức của các môn khoa học khác, tri thức của môn Giáo
dục công dân rất trừu tợng nhng lại gắn chặt với cuộc sống đời thờng. Vì thế,
học sinh sẽ không hiểu hoặc hiểu không đúng tri thức bộ môn, nếu không đ ợc
giáo viên giảng cặn kẽ, rõ ràng, không tầm thờng hóa chúng. Trong bất kỳ bài
học nào chúng ta cũng gặp phải nhiều khái niệm, phạm trù mới bắt buộc giáo
viên phải giảng giải bằng ngôn ngữ khoa học vừa phù hợp với nội dung tri
thức, vừa phù hợp với đối tợng học sinh. Chỉ sau khi học sinh hiểu đợc các
khái niệm, phạm trù thì họ mới có khả năng lĩnh hội đợc các quy luật và toàn
bộ tri thức khoa học của bộ môn. Để giúp học sinh hiểu và nắm vững tri thức,
giáo viên cần lập luận rõ ràng, chính xác theo một trình tự lôgíc xác định, có
phơng pháp giảng dạy thích hợp. Trong khi giảng giải giáo viên có thể dùng
kết hợp các phơng pháp khác nh đàm thoại, trực quan v.v..
1.1.2.2. Diễn giảng:
Là một hình thức thuyết trình, trong đó tri thức đợc truyền thụ theo một
hệ thống lôgíc chặt chẽ bao gồm khối lợng tri thức lớn và thực hiện trong thời
gian tơng đối dài thông qua lời giảng của giáo viên.
Diễn giảng thờng đợc áp dụng đối với những bài có nội dung tri thức
phức tạp, trừu tợng và khái quát cao. Đối với học sinh trung học phổ thông
trong khi diễn giảng, giáo viên chủ yếu trình bày theo nội dung và cấu trúc
sách giáo khoa. Việc mở rộng và giới hạn tri thức tuỳ thuộc vào nội dung tri
thức và đối tợng học sinh. Điều cần lu ý đối với giáo viên là phải phân chia
vấn đề tới giới hạn nhất định, nhng không đợc vụn vặt, từng vấn đề nhỏ luôn
đợc kết luận, khái quát, lời giảng không đợc nhanh để giúp học sinh dễ theo
dõi, lĩnh hội và ghi chép bài. Trong diễn giảng, giáo viên cũng cần đặt ra
những câu hỏi để hớng học sinh tập trung vào việc giải quyết vấn đề, kích
mình ngày càng phong phú sinh động. Sự chuẩn bị đó không bó hẹp trong
phạm vi nội dung câu chuyện phù hợp với nội dung bài giảng, mà còn chú ý
tới ngôn ngữ. Ngôn ngữ kể chuyện phải trong sáng dễ hiểu, không cầu kỳ.
Điều quan trọng là không nên sử dụng quá nhiều ngôn ngữ văn học thay thế
cho ngôn ngữ khoa học của bộ môn. Nếu sử dụng quá nhiều ngôn ngữ văn học
sẽ làm lu mờ nội dung khoa học của câu chuyện, đôi khi làm học sinh hiểu
không đúng hoặc không hiểu thuật ngữ khoa học của bộ môn Giáo dục công
dân. Vì thế, giáo viên cần gia công nhiều mặt sao cho tri thức thể hiện qua lời
kể chuyện chính là tri thức học sinh tiếp thu một cách sâu sắc mà không gò
bó. Các câu chuyện kể trong môn Giáo dục công dân rất đa dạng; các câu
chuyện về những vụ án, các nhà thông thái, những gơng ngời tốt, việc tốt,
những chuyện mang nội dung khoa học v.v.. Nh vậy, chúng ta có thể thấy rằng phơng pháp thuyết trình là phơng pháp dạy học truyền thống, ứng dụng cho nhiều bài
giảng. Nhng để vận dụng phơng pháp thuyết trình đạt hiệu quả cao, giáo viên phải
thực hiện tốt những yêu cầu của phơng pháp đó trong giảng dạy.
11
1.1.3. Những yêu cầu để thực hiện tốt phơng pháp thuyết trình
* Yêu cầu thứ nhất: Khi lên lớp giáo viên phải giữ t cách mẫu mực trớc học
sinh, thể hiện thái độ tự tin, nhiệt tình, nghiêm túc. Bên cạnh đó phải niềm nở,
thân ái, với cách ăn mặc giản dị, gọn gàng phù hợp với phong cách chung của địa
phơng, của xã hội. Điều đó nói lên mối liên hệ đẹp đẽ giữa thầy và trò, có tác
động đến tâm t, tình cảm, khả năng lĩnh hội tri thức, đến suy nghĩ và hành động
đúng đắn của học sinh.
* Yêu cầu thứ hai: Lời giảng của giáo viên phải chính xác rõ ràng, gợi cảm,
tốc độ, cờng độ phù hợp. Phát âm phải chuẩn, nói đúng ngữ pháp. Các từ nớc ngoài,
từ khó hiểu phải viết lên bảng, lời giảng phải gợi cảm, có hình tợng. Có thể sử dụng
ngôn ngữ văn học, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, ngữ điệu khi giảng bài việc sử
dụng đó có ý nghĩa không nhỏ đến tính hiệu quả của bài giảng. Giáo viên cần thay
Kiến thức môn Giáo dục công dân là những kiến lý luận hoàn toàn mới,
mặc dù các thuật ngữ khoa học học sinh đã đợc biết đến trong các môn học
khác và trong cuộc sống. Đàm thoại diễn giải trong giảng dạy môn Giáo dục
công dân đợc giáo viên sử dụng để giảng giải các khái niệm, phạm trù. Để học
sinh hiểu đợc các khái niệm, phạm trù, giáo viên phải giải thích cặn kẽ dựa
vào nội hàm và ngoại diên của khái niệm, phạm trù. Giáo viên có thể đặt ra
câu hỏi trên cơ sở dấu hiệu bản chất của khái niệm, phạm trù, mối liên hệ của
các dấu hiệu đó với kiến thức học sinh đã có từ những tri thức đ ợc học liên
quan. Muốn làm đợc điều đó, một điều không kém phần quan trọng là giáo
viên phải biết đợc các khái niệm, phạm trù đợc định nghĩa theo loại nào. Vì
mỗi loại định nghĩa, khái niệm có cách nêu dấu hiệu bản chất riêng của mình.
Mỗi loại định nghĩa, khái niệm, phạm trù có cách đàm thoại diễn giải riêng
bằng cách nêu ra các câu hỏi phù hợp với các loại định nghĩa đó. Nếu nh
chúng ta không biết cách áp dụng phù hợp thì sự vận dụng vào bài giảng đó sẽ
không đạt kết quả.
* Đàm thoại dẫn dắt
Khi giảng dạy giáo viên không chỉ dừng lại ở việc làm cho học sinh
hiểu khái niệm, phạm trù mà phải hớng tới giúp học sinh hiểu và nắm rõ nội
dung kiến thức của từng đề mục trong bài và của toàn bài. Đàm thoại dẫn dắt
nhằm đa tới mục đích tiếp theo tri thức của bài học một cách đầy đủ. Căn cứ
vào kiến thức của bài, vốn hiểu biết đã có của học sinh, giáo viên nêu ra một
hệ thống câu hỏi theo trình tự lôgíc xác định, giúp học sinh tiếp cận dần dần
với tri thức cần lĩnh hội. Dựa vào hệ thống các câu hỏi, những gợi ý cần thiết
của giáo viên, vận dụng vốn hiểu biết của bản thân, học sinh sẽ lần l ợt trả lời
từng câu hỏi, tiếp thu dần dần từng tri thức mới và cuối cùng tổng hợp toàn bộ
tri thức đợc nêu ra trong các câu trả lời sẽ làm rõ nội dung bài giảng.
Trong một bài giảng có thể có một hệ thống câu hỏi xuyên suốt toàn
bài, có thể bao gồm các hệ thống câu hỏi tơng ứng với các đề mục ở trong bài.
Mỗi đề mục nhỏ gắn liền với một nội dung khoa học. Do đó, đối với mỗi đề
mục giáo viên nên đặt một hệ thống câu hỏi giúp cho học sinh tiếp thu dần
ra kết luận của học sinh. Đơng nhiên trong đàm thoại tìm tòi, nếu gặp các
thuật ngữ khoa học mới hoặc học sinh sử dụng cha chính xác cần phải giúp
cho các em hiểu đúng đắn, đầy đủ và chính xác. Trong đàm thoại dẫn dắt và
tìm tòi nên có những liên hệ thực tế bằng thí dụ cụ thể của thầy và trò. Song
giáo viên cần uốn nắn những hiểu biết cha đúng đắn và đầy đủ của học sinh,
nếu sự liên hệ của học sinh có sai sót. Học sinh thờng dễ mắc sai lầm do vốn
sống, trình độ nhận thức và trình độ t duy lôgíc của họ.
1.2.2.2. Đàm thoại gợi mở (tự do)
14
Đây cũng là một hình thức truyền thụ và lĩnh hội tri thức của giáo viên
và học sinh. Nhng ở đây, dựa trên cơ sở của nội dung bài học, giáo viên và học
sinh cùng đặt ra những câu hỏi và cũng trả lời những câu hỏi đó. Trong đàm
thoại gợi mở, chủ yếu làm cho học sinh hiểu sâu rộng, đầy đủ hơn nội dung
bài học. ở đây giáo viên cần lu ý:
Thứ nhất, có thể học sinh sẽ nêu ra những vấn đề cụ thể đang diễn ra ở
địa phơng, giáo viên nên khéo léo gợi ý về mặt lý luận để các em cùng nhau
giải đáp. Giáo viên không nên đi sâu vào việc trả lời và cách giải quyết cụ thể.
Bởi vì những vấn đề của địa phơng, giáo viên không đủ thẩm quyền giải quyết
và để giải quyết chúng còn phải dựa vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
của địa phơng.
Thứ hai, có thể học sinh đặt ra câu hỏi mà để trả lời cần phải dùng tới
kiến thức sẽ đợc trang bị. Trong trờng hợp này có thể khéo léo gợi ý một vài
điểm để kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh. Điều này cũng dễ
xảy ra do nội dung tri thức của bộ môn tuy đợc sắp xếp theo trình tự lôgíc, nhng cha phải là hệ thống tri thức hoàn chỉnh. Trong điều kiện hiện nay, đất n ớc
ta và thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng, nhiều vấn đề đang đặt ra
và cha giải quyết đợc, lợng thông tin nhiều và kịp thời. Vì thế học sinh sẽ đặt
ra những câu hỏi khó. Nhng dù khó đến đâu giáo viên không đợc bao giờ lảng
tránh, mà phải tìm cách giải đáp tới mức độ nhất định phù hợp với suy nghĩ
sáng tạo của học sinh.
* Yêu cầu thứ sáu: Môn Giáo dục công dân, một môn học có chức năng
giáo dục hệ t tởng nhng điều này lại thờng bị định kiến không tốt về mặt
chính trị, t tởng. Cho nên cần khuyến khích học sinh tự do đặt câu hỏi, tranh
luận, giải quyết những vấn đề thuộc nội dung bài học và thực tiễn đang diễn ra
xung quanh. Chính việc tranh luận của học sinh dới sự chỉ đạo của giáo viên
sẽ giúp cho cả giáo viên và học sinh hiểu lý luận và thực tiễn đúng đắn và đầy
đủ.
* Yêu cầu thứ bảy: Khi đặt ra và giải đáp câu hỏi của mình, có thể học
sinh sẽ mắc phải sai sót. Với bất kỳ câu hỏi hay câu trả lời nào của học sinh,
giáo viên phải thể hiện sự tôn trọng, sự chăm chú. Đối với những câu hỏi và
câu trả lời tốt cần khuyến khích, khen ngợi. Với những câu hỏi và câu trả lời
sai sót, kể cả sai về cách nhìn nhận, đánh giá cũng không vội vàng phê phán,
mà cần nhẹ nhàng và nghiêm túc phân tích để học sinh tự nhìn nhận vấn đề
đúng, sai của bản thân họ.
1.3. Phơng pháp trực quan.
1.3.1. Khái niệm:
Phơng pháp trực quan là một phơng pháp dạy học trong đó giáo viên sử
dụng các phơng tiện dạy học minh họa cho bài giảng, tác động trực tiếp đến
học sinh nhằm đạt hiệu quả và chất lợng cao trong quá trình dạy học.
16
1.3.2. Các hình thức trực quan:
Trong giáo dục, phơng pháp trực quan có nhiều hình thức, sau đây là
một số hình thức trực quan thờng đợc các giáo viên sử dụng trong giảng dạy
môn Giáo dục công dân.
1.3.2.1. Hình thức sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh, số liệu
thống kê.
những thành tựu của khoa học kỹ thuật, máy móc, thiết bị kỹ thuật đ ợc sử
dụng nhiều. Mặt khác, hoạt động giáo dục ở nớc ta theo xu hớng chung đã có
nhiều cố gắng trong việc trang bị các phơng tiện kỹ thuật để phục vụ công tác
giảng dạy. Hình thức trực quan này làm cho giờ giảng sử dụng các phơng tiện
kỹ thuật có nhiều u điểm nổi bật giúp ích cho giáo viên trong giảng dạy và
học sinh trong việc tiếp thu kiến thức bài giảng. Hình thức trực quan này làm
cho giờ giảng thêm sinh động bằng cách: minh hoạ, chiếu hình những hình
ảnh mà học sinh khó trình bày, khó quan sát. Giáo dục công dân là một môn
khoa học xã hội mang tính tổng hợp nên có rất nhiều vấn đề khó hình dung
hoặc trình bày cha đầy đủ. Do đó để truyền thụ đầy đủ và chính xác hệ thống
tri thức trên đòi hỏi giáo viên phải minh hoạ thật sinh động, chi tiết. Điều này
chỉ có thể đáp ứng bằng cách sử dụng các phơng tiện trực quan hiện đại với
những đoạn phim khoa học, t liệu v.v. Thế nhng một thực tế đáng buồn, hiện
nay ở các trờng Trung học phổ thông mặc dù đã có sự đầu t cho việc sử dụng
các loại phơng tiện kỹ thuật trong dạy học, song việc làm đó chỉ có thể ở một
số trờng điểm, còn đa số các trờng Trung học phổ thông cha có đủ điều kiện
để trang bị một cách có hệ thống các phơng tiện kỹ thuật hiện đại, đồng bộ.
Mặt khác, các loại bằng t liệu rất ít, nên việc sử dụng chúng trong giảng dạy
gặp rất nhiều khó khăn. Điều này ảnh hởng không nhỏ đến chất lợng và hiệu
quả giảng dạy của các môn học nói chung và môn Giáo dục công dân nói
riêng.
Đèn chiếu, máy chiếu là công cụ trực quan có nhiều u điểm, dễ sử dụng,
dễ mua. Đèn chiếu, máy chiếu có nhiều loại: có loại sử dụng phim chiếu, có
thể sử dụng "bản trong" tuỳ theo điều kiện giáo viên sử dụng các ph ơng tiện
này để truyền thụ kiến thức cho học sinh. Sử dụng đèn chiếu, máy chiếu để
giới thiệu cho học sinh các sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh, bản vẽ dụng cụ này
còn có thể dùng để kiểm tra một phần kiến thức của học sinh sau khi đã tiếp
thu bài giảng. Khi sử dụng phơng tiện trực quan này giáo viên giới thiệu đợc
các loại sơ đồ, lợc đồ khoa học, tranh ảnh, số liệu thống kê một cách nhanh
chóng không làm mất thời gian giảng bài mà hiệu quả bài giảng lại cao hơn.
của học sinh. Để chuẩn bị các dụng cụ trực quan cho thật tốt là điều không
phải dễ, không phải ai cũng làm đợc, mà cần có sự hiểu biết sâu sắc, biết chắt
lọc, lựa chọn, sáng tạo các dụng cụ trực quan với sự chuẩn bị nh vậy có ích
trong quá trình dạy học.
* Yêu cầu thứ hai: Khi chuẩn bị dụng cụ trực quan cần suy nghĩ, xác
định thời điểm, thời gian sẽ sử dụng phơng tiện, dụng cụ trực quan. Điểm này rất
cần thiết bởi nếu không biết xác định thời điểm, thời gian sử dụng, giáo viên sẽ
làm mất thời gian, làm chậm tiến trình giờ giảng, ảnh hởng đến thức tự sắp xếp
thời gian cho các tiết giảng khác.
* Yêu cầu thứ ba: Với các dụng cụ trực quan là phơng tiện kỹ thuật, khi
chuẩn bị cần lựa chọn kỹ càng các đoạn phim, t liệu, phim khoa học, các "bản
19
trong", phim chiếu phải tiêu biểu, sắc nét dễ quan sát, tiếp thu thuận lợi
trong quá trình giảng dạy, học tập.
* Yêu cầu thứ t: Khi chuẩn bị sử dụng máy vi tính để giảng bài, giáo
viên cần lập trình cho học sinh những sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh, phim chiếu,
các đoạn phim t liệu, khoa học, vào các đĩa mềm hoặc ghi địa chỉ các trang
Web mà học sinh có thể truy cập để khai thác thông tin, tiếp thu các thông tin
đó phục vụ cho học tập.
* Yêu cầu thứ năm: Mặt khác, khi chuẩn bị các dụng cụ trực quan là phơng tiện kỹ thuật, cần chú ý tới hiệu suất, độ an toàn của đờng điện sẽ sử
dụng, chuẩn bị kỹ lỡng, dự liệu các tình huống có thể xảy ra, từ đó có các biện
pháp phòng ngừa (nhất là rủi ro về điện) tránh làm gián đoạn giờ học. Giáo
viên chỉ sử dụng các phơng tiện kỹ thuật cần có hiểu biết sâu sắc về các phơng
tiện, máy móc trên để có thể xử lý kịp thời khi có sự cố kỹ thuật xảy ra không
làm gián đoạn việc tiếp thu kiến thức của học sinh.
* Yêu cầu thứ sáu: Trong khi sử dụng dụng cụ, phơng tiện trực quan với
việc đa ra các dụng cụ phơng tiện minh họa cho bài giảng, giáo viên cần phải
1.4.1. Khái niệm phơng pháp liên hệ thực tế:
Phơng pháp liên hệ thực tế là một phơng pháp dạy học của giáo viên
nhằm giúp học sinh thấy rõ sự phù hợp của tri thức lý luận với thực tiễn đời
sống hớng học sinh tới việc biến những kiến thức đã học thành hành vi cải tạo
thế giới khách quan, cải tạo cuộc sống.
1.4.2. Những u điểm và yêu cầu cần lu ý khi vận dụng phơng pháp
liên hệ thực tế.
1.4.2.1. Những u điểm của phơng pháp liên hệ thực tế.
* Trong quá trình giảng dạy các bài lý luận Pháp luật, phơng pháp liên
hệ thực tế sẽ giúp cho nội dung kiến thức mỗi bài giảng thêm phong phú và
sinh động, mang tính hiệu quả lĩnh hội tri thức cao. Làm cho học sinh trong
quá trình tiếp thu kiến thức bài giảng hứng thú, kích thích quá trình học tập
tập trung cao, việc tiếp nhận kiến thức bài giảng tốt và hiệu quả. Nhờ quá
trình liên hệ thực tế, vận dụng thực tiễn đời sống sinh động vào phục vụ giảng
dạy mà giúp cho đối tợng học sinh hiểu sâu nội dung kiến thức, nắm vững và
khắc sâu tri thức đã lĩnh hội.
* Sử dụng phơng pháp liên hệ thực tế trong mỗi bài giảng Pháp luật làm
cho học sinh phát huy tính t duy sáng tạo, biết cách đa ra vấn đề và giải quyết
vấn đề thực tế một cách hiệu quả, khoa học. Bởivì những kiến thức thực tiễn
là cơ sở chân thực nhất để đánh giá tính đúng đắn, khoa học của tri thức lý
luận. Những sự kiện, hiện tợng thực tế diễn ra trong đời sống xã hội bao giờ
cũng phản ánh một cách thiết thực và chính xác những diễn biến của đời sống
xã hội. Điều đó sẽ giúp cho ngời học đa ra quan điểm đánh giá của mình đối
với các hành vi vi phạm Pháp luật đang tồn tại, để từ đó có tinh thần trách
nhiệm đối với xã hội.
21
* Đối với những bài Pháp luật sử dụng phơng pháp liên hệ thực tế
không những giúp cho các em nắm đợc những kiến thức cơ bản, nâng cao ý
tranh để khắc phục những hiện tợng tiêu cực. Liên hệ thực tế với đời sống
trong một chừng mực nhất định chúng ta có thể mở rộng ra những vấn đề quốc
22
tế nhằm so sánh, tìm ra sự khác biệt, làm nổi bật tính sáng tạo, chủ động, độc
lập của đất nớc.
* Yêu cầu thứ sáu: Khi đảm bảo bài giảng gắn với thực tế cần tránh
khuynh hớng thời sự hóa bài giảng. Tránh tình trạng lạm dụng phơng pháp
liên hệ thực tế để đi vào kể nhiều câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn giật gân làm
mất quá nhiều thời gian, làm cho bài giảng bị thiếu hụt, thời gian, ng ời ta còn
gọi là hiện tợng "cháy giáo án". Tình trạng đó biến giờ học Pháp luật thành
giờ kể chuyện và nh vậy bản thân giáo viên không hoàn thành chức năng và
nhiệm vụ của mình.
* Yêu cầu thứ bảy: Để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy, trong quá trình
sử dụng phơng pháp liên hệ thực tế phải phối hợp linh hoạt với các phơng
pháp khác, đảm bảo đúng yêu cầu, mục đích của từng bài học cụ thể.
*
*
*
23
Chơng 2
Vận dụng các phơng pháp dạy học
để giảng một số bài Pháp luật - Giáo dục công
24
- Bác nông dân trồng lúa để tạo ra lơng thực.
- Anh công an làm việc canh giữ bảo vệ trật tự xã hội đợc Nhà nớc đãi
ngộ bằng chế độ tiền lơng
Từ các ví dụ trên, em hiểu thế nào là việc làm?
Điều 13 - Bộ luật lao động quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị Pháp luật cấm đều đợc thừa nhận là việc làm".
Nh vậy việc làm là vấn đề mấu chốt đầu tiên để ngời lao động thực hiện
quyền lao động, vì vậy Bộ luật lao động đã xác định rõ: "Giải quyết việc làm,
bảo đảm cho mọi ngời có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm trách
nhiệm của Nhà nớc, của các doanh nghiệp và toàn xã hội" (Điều 13- Bộ Luật
lao động).
Nh vậy để giải quyết việc làm không chỉ Nhà nớc, các doanh nghiệp mới
có trách nhiệm tạo việc làm mà với t cách là một thành viên độc lập trong xã
hội, mỗi ngời phải tự tạo ra việc làm cho chính mình và cho ngời khác.
- Vậy Nhà nớc đã làm gì để tạo việc làm cho ngời lao động?
+ Nhà nớc chủ trơng phát triển kinh tế, xây dựng các nhàmáy, khu công
nghiệp, hợp tác ngoại giao nhằm tích cực giải quyết việc làm. Chính phủ lập
chơng trình và quỹ quốc gia về việc làm, định chỉ tiêu tạo việc làm mới hàng
năm, hỗ trợ khuyến khích cáo tổ chức và cá nhân tự giải quyết việc làm và tạo
việc làm cho nhiều ngời lao động.
* Quyền lao động của công dân.
- Để phát huy tính tích cực t duy ở học sinh, giáo viên có thể đặt câu
hỏi: Công dân có những quyền gì đối với lao động?
Ngời lao động có quyền tự do sử dụng sức lao động của mình trong việc
tìm kiếm, lựa chọn việc làm, có quyền làm việc cho bất cứ ngời sử dụng lao động
nào và ở bất cứ nơi nào mà Pháp luật không cấm.
Ví dụ: