Trêng ®¹i häc vinh
Khoa GIÁO DỤC
=== ===
MAI THỊ THÚY
KHãA LUËN tèt nghiÖp
§Ò tµi:
PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4 LUYỆN
TẬP VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Líp: 49A – Giáo dục Tiểu học
Giảng viên hướng dẫn: TS. Chu Thị Hà Thanh
VINH - 2012
1
LỜI NÓI ĐẦU
Với đề tài nghiên cứu “Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện
tập văn miêu tả đồ vật”, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề dạy văn miêu tả nói
chung và văn miêu tả đồ vật nói riêng ở nhà trường tiểu học. Trong đó có nói
đến thực trạng dạy học văn miêu tả đồ vật, mặt khác chúng tôi cũng đã trực
tiếp trao đổi, tham khảo và tiếp thu một số ý kiến của các giáo viên có kinh
nghiệm trong nghề. Từ đó có những biện pháp cụ thể giúp giáo viên và học
sinh khắc phục một phần nào đó những khó khăn trong quá trình dạy và học
văn miêu tả đồ vật.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Chu Hà Thanh, người đã
Nhà xuất bản
TV:
Tiếng Việt
3
MỤC LỤC
Trang
................................................................................................................................................1
MỞ ĐẦU................................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................................5
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu....................................................................................5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................................5
6. Giả thuyết khoa học............................................................................................................5
7. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................................6
8. Bố cục đề tài.......................................................................................................................6
Chương 1................................................................................................................................7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.....................................................................................7
1.1. Cơ sở lý luận...................................................................................................................7
1.1.1. Miêu tả trong văn học...................................................................................................7
1.1.2. Văn miêu tả trong nhà trường tiểu học.......................................................................17
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học với quá trình dạy học văn miêu tả................21
1.2. Cơ sở thực tiễn..............................................................................................................23
1.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên...........................................................................24
1.2.2. Thực trạng nhận thức của học sinh.............................................................................27
3.4. Tổ chức thử nghiệm.......................................................................................................70
3.5. Kết quả thử nghiệm.......................................................................................................71
KẾT LUẬN..........................................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................80
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Môn Tiếng Việt là môn học công cụ trong nhà trường phổ thông.
Tức là môn Tiếng Việt trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp và phát triển
tư duy, tạo tiền đề và cơ sở cho việc học tập các môn khác. Môn Tiếng Việt
bao gồm 7 phân môn (Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu,
Kể chuyện và Tập làm văn), các phân môn này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nó là môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học. Trong đó
Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp cao, nó dựa trên kết quả nghiên
cứu của nhiều khoa học khác như Tâm lý học, Tâm lý ngữ học, Ngôn ngữ
học, Lí luận văn học…
Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngôn
bản đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học
sinh.
1.2. Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm
cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật,
cảnh vật.
Khi làm một bài văn, học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến
thức về cuộc sống, về ngôn ngữ và về văn hóa để trình bày vấn đề được đặt ra
theo tình cảm, tư tưởng, cách nhìn, cách nghĩ của chính mình. Do đó, qua bài
tập làm văn ta có thể thấy được thái độ và tình cảm của học sinh đối với các
sự vật và hiện tượng. Đồng thời ta cũng thấy được năng lực vận dụng ngôn
Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 rèn luyện văn miêu tả đồ vật”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về văn miêu tả và dạy – học văn miêu tả là vấn đề cũng được rất
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
2.1. Về văn miêu tả đã có một số công trình nghiên cứu đề cập như
1. Dạy Tập làm văn ở tiểu học – Nguyễn Trí
2
Công trình này đã giới thiệu về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả,
giới thiệu quy trình làm các kiểu bài làm văn miêu tả cũng như phương pháp
dạy các kiểu bài đó. Mặc dù sách đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả, những nét
đặc sắc của sự vật, hiện tượng khi miêu tả, song cũng chỉ nói qua, chưa hình
thành và chưa đề cập đến cụ thể từng kiểu văn miêu tả trong trường tiểu học,
đặc biệt là văn miêu tả đồ vật.
2. Văn miêu tả và kể chuyện – Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn
Quang Sáng. Về cấu trúc, sách gồm 2 phần:
Phần 1: Giới thiệu các bài viết của các nhà văn về suy nghĩ, kinh nghiệm
của bản than khi viết văn miêu tả và kể chuyện.
Phần 2: Là những đoạn văn tả và kể chọn lọc của nhiều cây bút khác
nhau.
Công trình này chỉ mới đề cập những nét chung nhất của một bài văn
miêu tả, những vấn đề đưa ra vẫn còn là trừu tượng đối với giáo viên và học
sinh. Vì thế giáo viên khó vận dụng vào quá trình dạy – học văn miêu tả ở lớp
4, 5.
3. Bài tập luyện viết văn miêu tả ở tiểu học – Vũ Khắc Tuân.
Trong tác phẩm này, tác giả đi sâu vào giới thiệu các bài tập thuộc các
loại bài của văn miêu tả và một số kinh nghiệm của các nhà văn trong việc
làm văn miêu tả, một số giai thoại trong việc dùng câu chữ khi viết văn.
4. Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông – Đỗ Ngọc Thống, Phạm
Phần đầu: Tác giả đề cập đến khái niệm văn miêu tả và các kiểu bài
miêu tả ở tiểu học.
Phần sau: Tác giả giới thiệu một số phương pháp dạy văn miêu tả trong
trường tiểu học.
Đây là một cuốn sách rất hữu ích cho giáo viên ở tiểu học khi dạy văn
miêu tả. Tuy nhiên cuốn sách mới chỉ đề cập chung đến các vấn đề liên quan
đến các kiểu bài văn miêu tả và một số phương pháp dạy văn miêu tả áp dụng
chung cho tất cả các thể loại miêu tả.
4
Như vậy, vấn đề hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập thực hành văn miêu
tả đồ vật trong Tập làm văn miêu tả ở tiểu học đang là một vấn đề chưa được
chú trọng nghiên cứu chuyên sâu. Do đó việc có một quy trình hướng dẫn học
sinh lớp 4 luyện tập về văn miêu tả đồ vật là rất cần thiết nhằm nâng cao chất
lượng dạy học văn miêu tả ở trường tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập văn miêu
tả đồ vật góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả ở trường tiểu
học.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học văn miêu tả ở tiểu học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp hướng dẫn HS lớp 4 luyện tập văn miêu tả đồ vật
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý thuyết về văn miêu tả đồ vật ở lớp 4 trong dạy học
Tập làm văn ở tiểu học.
5.2. Tìm hiểu thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh về văn miêu
tả đồ vật ở lớp 4.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Miêu tả trong văn học
1.1.1.1. Khái niệm văn miêu tả
Theo từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh thì miêu tả là “lấy nét vẽ
hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. Tức là trong văn
miêu tả, người ta không dùng ngôn ngữ thường ngày để miêu tả, không đưa ra
những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá cụ thể về sự vật hoặc
hiện tượng nào đó như: cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng hoặc trời mưa to
quá… Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ
một cách sinh động, cụ thể. Qua đó giúp người đọc có thể cảm nhận một cách
sâu sắc hơn và rõ hơn về đối tượng mà tác giả miêu tả, có thể tưởng tượng ra
được hình ảnh sống động của những sự vật và hiện tượng đó. Tuy nhiên, hình
ảnh một cánh đồng, một dòng sông, cảnh hoàng hôn, cảnh biển hay hình ảnh
một con người, con vật do miêu tả vẽ lên không phải là một bức ảnh được
chụp lại, không phải là sự sao chép lại một cách tỉ mỉ khô cứng. Nó là sự kết
tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc bên trong tâm hồn
nhạy cảm của người viết khi quan sát cuộc sống xung quanh mình.
Chúng ta hãy thử cảm nhận hình ảnh một dòng sông qua đoạn văn miêu
tả: “Con sông như một dải lụa trắng mềm mại vắt qua cánh đồng xanh mướt
lúa khoai rồi chảy qua làng tôi. Dòng sông như lặng đi trước vẻ đẹp của xóm
làng, nó trầm ngâm phản chiếu những hàng tre đổ bóng mát rượi xuống đôi
bờ.Những buổi trưa hè nắng đổ xuống mặt sông lấp loá. Dòng sông lúc đó
như một tấm gương dài phẳng lặng soi bóng mây trời. Trên mặt sông, một vài
chiếc thuyền lá tre tí hon bồng bềnh trôi đi mãi theo dòng nước trong xanh.
8
Trong làm văn miêu tả, quan sát là điều kiện cần thiết. Song chỉ quan sát
thôi thì chưa đủ mà người viết phải biết quan sát kết hợp với tưởng tượng,
liên tưởng. Quan sát phải ghi chép lại để khi viết kết hợp với các biện pháp
nhân hóa, so sánh, ẩn dụ… tạo ra lời văn miêu tả sinh động. Văn miêu tả
không chấp nhận kiểu sao chép một cách máy móc, khô khan. Mỗi bài văn là
một sản phẩm không lặp lại, nó mang dấu ấn chủ quan của mỗi học sinh trước
đối tượng miêu tả. Có nghĩa là cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi người
có một cách tả, diễn đạt suy nghĩ khác nhau thông qua lăng kính chủ quan của
mình. Từ đó mới tạo nên cái nét riêng trong phong cách viết văn của mỗi
người. Nếu nói về mồ hôi mà ai cũng đều tả “mồ hôi nhễ nhại”, khi diễn tả
cảm xúc về chiếc cặp sách mà lúc nào cũng “em rất yêu quý chiếc cặp này”…
thì thật là nhàm chán. Nếu không biết sáng tạo, thiếu cảm xúc thì miêu tả mới
dừng lại ở mức độ miêu tả khoa học.
Vich-to Huy-go nhìn một bầu trời đầy sao thấy như một cánh đồng chín,
Mai-a-cốp-xki thì lại thấy ngôi sao như giọt nước mắt của người da đen đang
khóc Lênin khi biết ông vừa mới qua đời. Còn I-ga-ga-rin thì lại thấy vì sao
như những hạt giống mới mà loài người bay vào vũ trụ…Cả ba hình ảnh về
những vì sao đều được liên tưởng miêu tả rất khác nhau nhưng chúng đều
hay, đều là sự sáng tạo của mỗi tác giả để làm nên cái riêng của mình.
Hoặc có học sinh nhìn trời mưa thấy như một vòi phun khổng lồ, còn có
em thì lại tưởng tượng ra một con rồng trên trời đang phun nước xuống.
Do đó có thể khẳng định rằng, văn miêu tả là một thể văn sáng tác. Mỗi
bài văn miêu tả là một sáng tác nghệ thuật.
• Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Có thể nói đây là một đặc điểm nổi bật của văn miêu tả. Như đã nói ở
trên, miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại hình ảnh một đối tượng miêu
còn so sánh liên tưởng đối tượng được miêu tả. Như trong bài “Quê nội” của
nhà văn Võ Quảng, hình ảnh những con thuyền như hiển hiện trước mắt
10
người đọc nhờ tác giả đã sử dụng được biện pháp so sánh. Những hình ảnh so
sánh thật chân thực, đầy tính biểu cảm mà cũng thật sáng tạo: hai cái sừng
trước mũi thuyền được ví với đôi sừng của con trâu (Thuyền nào ở đằng mũi
cũng có hai cái sừng giống đôi sừng trâu), xuồng con nằm ở bến bên thuyền
mẹ được ví như bầy lợn trong chuồng (Xuồng con đậu quanh thuyền lớn
giống như bầy con nằm quanh bụng mẹ), chuyển động của xuồng con trước
những làn gió được nhìn một cách ngộ nghĩnh như bầy lợn đòi bú (Khi có
gió… đám xuồng con lại húc húc vào mạn thuyền mẹ như đòi bú).
Chính hình thức so sánh chọn lọc, đúng và sáng tạo đã làm cho đoạn văn
như một đoạn phim nghệ thuật đưa người đọc đến bên bến sông đông vui của
vạn chài Hòa Phước.
Tuy nhiên khi miêu tả, chúng ta cần chú ý không nên đưa vào bài quá
nhiều chi tiết làm cho bài miêu tả trở nên rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu.
Người viết cần phải biết gạt bỏ đi những chi tiết thừa không có sức gợi tả hay
gợi cảm để làm cho bài văn miêu tả gọn và giàu chất tạo hình. Muốn làm
được điều đó người viết không chỉ biết quan sát mà cần phải quan sát có chọn
lọc, thu lượm, tích lũy những kinh nghiệm sống trong cuộc sống hằng ngày.
Có như vậy bài văn mới sinh động, tạo hình và hấp dẫn người đọc.
Chẳng hạn như trong bài “Cái cối tân” (sách TV4 - tập 1- trang 134) nhà
văn Duy Khánh đã chọn lọc và miêu tả các chi tiết sau ở cái cối: cái vành, cái
áo cối (đều làm bằng tre nan); tai cối (hai cái, bằng tre già màu nâu, mỗi tai có
một lỗ tròn); dăm cối (hai hàm, bằng gỗ dẻ); cần cối (dài, bằng tre đực, vàng
óng, đầu cần có cái chốt bằng tre, móc vào tai cối); tay cầm (gắn vào đầu cần
cối, có thừng buộc vào xà nhà).
• Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của
ghi lại những gì quan sát trực tiếp mà còn bổ sung bằng những hiểu biết về
việc làm ra chiếc bánh (lá chuối hơ qua lửa thật mềm), (nhân bánh là một
viên đậu xanh giã nhỏ vàng ươm, xen một thỏi mỡ xinh xắn, pha hạt tiêu),
12
bằng những cảm nhận của bản thân khi thưởng thức miếng bánh (Cắn một
miếng bánh thì như thấy cả hương đồng, cỏ nội gói vào trong).
Tác giả đã quan sát trực tiếp kết hợp với quan sát gián tiếp khi miêu tả
chiếc bánh. Và khi quan sát để miêu tả, tác giả đã sử dụng không chỉ một giác
quan mắt (thị giác) mà còn bằng cả tâm hồn, tình cảm của mình.
Hay như trong “Tiếng mưa” của Nguyễn Thị Như Trang có đoạn tả về
mưa mùa xuân: “Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới. Những hạt mưa bé nhỏ
mềm mại, rơi mà như nhảy nhót. Hạt nọ nối tiếp hạt kia đan xuống lá cây ổi
cong mọc lả xuống mặt ao. Mùa đông xãm xịt và khô héo đã qua. Mặt đất
bỗng kiệt sức bỗng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt mưa ấm áp trong
ngày. Đất trời lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây. Mưa mùa xuân đã
đem lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn lên các nhánh lá mầm non. Và
cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùi hoa thơm, trái ngọt.”...
Đặc điểm này của văn miêu tả làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn
miêu tả trong khoa học. Nếu miêu tả trong khoa học là sự chính xác, khô khan
đến lạnh lùng thì miêu tả trong văn học bao giờ cũng chứa đầy tình cảm của
người viết.
• Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Do đặc điểm của văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng
tình cảm và cảm xúc của người viết, bài văn bao giờ cũng mang tính sinh
động và tạo hình nên yêu cầu đặt ra cho ngôn ngữ của bài văn miêu tả phải
giàu cảm xúc và hình ảnh. Chỉ có thể như vậy, bài văn mới có khả năng diễn
tả cảm xúc của người viết và vẽ nên sự sinh động, tạo hình cho đối tượng
miêu tả. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú đa dạng của các từ ngữ
vui của cô bé. Đoạn văn cho thấy vai trò của cảm xúc trong văn miêu tả. Văn
miêu tả đòi hỏi người viết phải bộc lộ tình cảm của mình đối với từng chi tiết
chọn đưa vào trong bài văn.
14
Ngôn ngữ miêu tả là giai điệu chủ đạo trong bài văn miêu tả, ngoài ra
còn kết hợp với việc sử dụng phép nhân hóa, so sánh, ẩn dụ... gợi lên trong
lòng người đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng, hình ảnh về sự vật được
miêu tả. Có thể thấy tất cả những chi tiết đó đã tạo thành những “chùm sáng
ngôn ngữ lung linh” cho bài văn miêu tả.
Ví dụ: Đoạn văn miêu tả cái đèn:
Cái đèn nhà tôi làm bằng một thứ đồng đỏ ối như vàng, bóng lộn có thể
soi gương. Bình dầu hình trụ, nom bè bè ở giữa đánh đai tròn và chứa được
đến gần nửa lít dầu. Trên miệng ống bấc có chụp một cái mũ làm cho ngọn
lửa tỏa ra như hoa sen cum cúp để tăng ánh sáng. Thông phong thổi bằng
pha lê trong vắt.
Tối đến, tôi rót dầu và thắp đèn. Ngọn lửa bốc to, tôi vặn bấc thấp xuống
cho vừa. Ánh sáng tỏa ra khắp trong phòng. Đèn để giữa làm chúng tôi quây
quần lại: mẹ tôi khâu vá, cha tôi đọc sách, còn em tôi hăm hở đọc tiếp chuyện
Tấm Cám. (Theo Nghiêm Toản).
Đánh giá về đoạn văn trên theo sách Văn miêu tả tuyển chọn, NXB Giáo
dục, trang 110 đã có lời bình: “Cái đèn được tả kĩ đến mức có thể theo lời mà
vẽ thành tranh. Thêm một vài động tác thắp đèn nữa, là ta đã có một hình
dung đầy đủ về cây đèn dầu ngày xưa. Các chi tiết được tả rành mạch và có
thứ tự, như một lời chỉ dẫn mộc mạc”.
Cách sử dụng ngôn ngữ trong đoạn văn trên mang tính nghệ thuật cao.
Ngôn ngữ trong bài ngoài tính chính xác (thông phong, bình dầu, ống bấc, ở
giữa bánh đai..) còn có tính gợi tả (bóng lộn có thể soi gương, pha lê trong
vắt). Ngoài ra tác giả còn dùng biện pháp so sánh nghệ thuật để làm tăng tính
đánh giá, cảm nghĩ thành thật của người viết, không chờ đến phần kết luận
mới nói. Nhờ vậy các chi tiết miêu tả mới bớt được vẻ lạnh lùng khô khan.
16
Đồ vật là vô tri, vô giác. Vì vậy để tả cho sinh động, thường phải sử dụng
phép nhân hóa. Có thể dùng các đại từ hay từ xưng hô: anh, chị, chú, bác, anh
chàng, cô nàng...khi đứng ở ngôi thứ ba để tả hoặc dùng các đại từ nhân xưng
ngôi thứ nhất (tớ, tôi..). Tuy vậy biện pháp nhân hóa nếu dùng không đúng
chỗ có thể làm cho việc tả đồ vật mất tính chân thực. Trong những trường hợp
đó tốt nhất là dùng ngôn ngữ sát hợp, chính xác, gợi hình ảnh để tả cho đúng
đồ vật.
Ví dụ: Với đoạn văn miêu tả con lợn tiết kiệm của nhà văn Nghiêm Toản
ở trên ta thấy: Những chi tiết miêu tả từng bộ phận con lợn có màu sắc tươi
vui (thân nhuộm đỏ, tai xanh lá mạ, mắt đen lay láy), có đường nét dễ thương
(béo tròn trùng trục, đuôi vắt chéo ngang hông, hai mắt lim dim, cái mõm
như đang dũi, bụng phệ phẳng lì, ngoan ngoãn nằm yên..). Giọng văn của tác
giả đã hòa nhịp với lời kể thong thả, hồn nhiên của cô bé trong bài văn. Nó
giúp người đọc có thể nắm bắt được cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ và niềm vui
của cô bé.
1.1.2. Văn miêu tả trong nhà trường tiểu học
Hiện nay văn miêu tả được đưa vào chương trình phổ thông ngay từ các
lớp đầu bậc Tiểu học. Từ lớp 2, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các em đã
bắt đầu làm quen với văn miêu tả. Như vậy có thể thấy học sinh được làm
quen với thể loại văn này từ rất sớm. Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều
kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc
sống, con người với thiên nhiên, với xã hội, để khêu gợi ra những tình cảm,
cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ. Một nhà giáo dục Xô Viết cho rằng: việc
học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật nhìn thấy,
nghe thấy... là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục và phát triển ngôn ngữ
1
1
Luyện tập miêu tả đồ vật
2
2
Quan sát miêu tả đồ vật
1
1
Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật
1
1
Luyện tập xây dựng đoạn văn
1
4
10
1
1
Luyện tập miêu tả bộ phận của cây cối
2
2
Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
1
1
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây
3
3
Luyện tập miêu tả cây cối
1
1
Kiểm tra viết
1
Luyện tập miêu tả các bộ phận của con
1
1
Luyện tập xây dựng đoạn văn
3
3
Kiểm tra viết
1
1
Trả bài
1
1
vật
Chương trình văn miêu tả lớp 5
*Tả người
8
Cấu tạo của bài văn tả người
1
1
Luyện tập (quan sát và chọn lọc chi tiết)
1
1
Luyện tập tả ngoại hình
2
2
Luyện tập tả hoạt động
2
2
Kiểm tra viết
con vật, tả cảnh, tả người)
* Qua khảo sát, phân tích nội dung chương trình SGK Tiếng Việt chúng
tôi rút ra các nhận xét sau:
Xét về mặt thời lượng chương trình tiếng Việt hiện hành đã dành 72 tiết
(72 bài) cho nội dung dạy học văn miêu tả ở lớp 4, 5. Trong khi đó chương
19
trình cải cách giáo dục chỉ dành 63 tiết cho nội dung này. Trong đó có 5 tiết
dành cho ôn tập và kiểm tra học kì. Điều này chứng tỏ rằng chương trình
tiếng Việt hiện hành đã nhấn mạnh tới yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn
luyện các kĩ năng.
Chương trình chú trọng luyện tập và thực hành nhằm rèn luyện các kĩ
năng bộ phận, đồng thời bước đầu hình thành những tri thức sơ giản về văn
bản (kết cấu 3 phần: mở đầu, kết thúc, phần chính của văn bản; đặc điểm,
phương pháp làm bài theo thể loại..
Qua thống kê ở trên, chúng ta thấy rằng, vấn đề dạy văn miêu tả ở lớp 4,
5 chương trình tiếng Việt hiện hành được triển khai trên hai kiểu bài: Hình
thành kiến thức mới và Luyện tập thực hành.
Ở kiểu bài Hình thành kiến thức mới, có cấu tạo ba phần (Nhận xét, Ghi
nhớ, Luyện tập), riêng phần Nhận xét và Luyện tập được xây dựng dưới dạng
bài tập. Phần Ghi nhớ chỉ bao gồm những vấn đề lý thuyết khái quát được rút
ra từ phần Nhận xét và sẽ được củng cố thêm ở phần Luyện tập.
Các bài tập ở phần Nhận xét có mục đích chính là giúp học sinh phân
tích ngữ liệu để rút ra các khái niệm hoặc quy tắc cần ghi nhớ. Mỗi bài tập ở
phần này sẽ tương đương với một bộ phận tri thức lí thuyết ở phần Ghi nhớ.
Đối với kiểu bài Luyện tập thực hành thường bao gồm một tổ hợp bài
tập. Các bài tập của kiểu bài Luyện tập thực hành và các bài tập ở mục Luyện
tập của kiểu bài Hình thành kiến thức mới đều có mục đích và hình thức
giống nhau. Chúng bao gồm hai loại: bài tập nhận diện và bài tập vận dụng.