BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
___________________
TRẦN THỊ THIÊN KIM
LÊ THỊ NGỌC SANG
LÊ KIM THỦY
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4
LUYỆN TẬP THÀNH PHẦN CÂU
TRONG GIỜ TẬP LÀM VĂN
Ngành đào tạo: Sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trình độ đào tạo: Đại học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỒNG THÁP, NĂM 2011
1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Danh mục các cụm từ viết tắt 3
MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 5
3. Mục đích nghiên cứu 7
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
5. Giả thiết khoa học 7
6. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7. Phương pháp nghiên cứu 7
8. Cấu trúc của khóa luận 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn 9
1.1. Cơ sở lí luận 9
1.1.1. Khái niệm về câu trong tiếng Việt 9
3.2.2. Đánh giá kết quả học tập của học sinh qua các giờ TLV 63
3.2.3. Đánh giá mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với các bài học 63
3.2.4. Đánh giá sự chú ý của học sinh trong tiến trình bài dạy 64
3.3. Tiểu kết chương 3 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
GV Giáo viên
HS Học sinh
TH Tiểu học
HSTH Học sinh Tiểu học
GVTH Giáo viên Tiểu Học
TPC Thành phần câu
TV Tiếng Việt
LT&C Luyện từ và câu
TLV Tập làm văn
SGK Sách giáo khoa
NXB Nhà xuất bản
CN Chủ ngữ
VN Vị ngữ
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng nhất của chương trình Tiểu học. Với
mục tiêu: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt; cụ thể là bốn kĩ
năng đọc, viết, nghe, nói. Trong đó yêu cầu đọc hiểu và viết một văn bản hoàn chỉnh được coi
trọng. Nhưng để viết được một văn bản hoàn chỉnh đòi hỏi học sinh phải có sự hiểu biết nhất định
về thành phần câu. Nó được hiểu là những thành tố tham gia cấu tạo nên câu. Đó là những bộ
Ban, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên, Nguyễn Tài Cẩn, Phan Thiều, Đinh Văn Đức, Bùi Minh
Toán, Nguyễn Thị Lương…
- Trước hết, chúng tôi xin đề cập đến bài viết của tác giả Đỗ Thị Kim Liên (1999)
với giáo trình “Ngữ Pháp Tiếng Việt” [19]. Giáo trình này đã cung cấp những tri thức về
ngữ pháp một các khái quát nhất và những kiến giải khác nhau về từ, cụm từ, câu (cuối
mỗi phần đều có bài tập vận dụng). Trên cơ sở đó tác giả đã chọn ra cách kiến giải hợp lí,
nhất quán, phù hợp với thực tế giảng dạy ở phổ thông. Đến năm 2002, vấn đề về ngữ
pháp được tác giả này củng cố thêm trong cuốn “Bài tập ngữ pháp Tiếng Việt” [20], giáo
trình đưa bài các bài tập cụ thể dựa trên hệ thống lí thuyết về các đơn vị ngữ pháp Tiếng
Việt. Trong đó có các bài tập như phân biệt thành phần phụ của cụm từ và thành phần phụ
của câu, bài tập lịch sử nghiên cứu TPC trong tiếng Việt, bài tập phân biệt trạng ngữ chỉ
vị trí với bổ ngữ chỉ vị trí,….
- Trong giáo trình “Ngữ pháp Tiếng Việt” [4], tác giả Diệp Quang Ban (2000) đã
đề cập một cách khá cụ thể về từ loại, cụm từ, các thành tố nghĩa trong câu. Đặc biệt, tác
giả đi sâu vào nghiên cứu cấu tạo ngữ pháp của câu. Trong đó, tài liệu có đề cập đến vấn
đề về câu và việc nghiên cứu câu trong Tiếng Việt.
- Năm 1975 Nguyễn Tài Cẩn đã tập hợp một số bài giảng về ngữ pháp Tiếng Việt
hiện đại và được trình bài cụ thể trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” [9]. Trong giáo
trình này, tác giả đã trình bày về ba vấn đề: vấn đề đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt,
vấn đề về từ ghép và vấn đề đoản ngữ. Đặc biệt vấn đề về câu cũng được Nguyễn Tài Cẩn
đề cập đến trong phần thứ tư của tài liệu này.
- Tác giả Bùi Minh Toán cũng đã đề cập đến vấn đề “Ngữ pháp tiếng Việt”[39]
vào năm 2007. Cấu trúc của giáo trình này đi theo trình tự các đơn vị ngữ pháp từ thấp
đến cao: từ, cụm từ, câu. Đặc biệt do vấn đề về câu phong phú và phức tạp nên tác giả đã
6
dành cả ba chương (chương 4, chương 5, chương 6) cho vấn đề này. Điểm thuận lợi của
giáo trình là ở đầu mỗi chương đều có nêu những kiến thức cần có khi tiếp cận nội dung
từng chương, còn cuối mỗi chương đều có phần tóm tắt nội dung cơ bản của từng chương
sau đó cung cấp những câu hỏi và bài tập thực hành.
* Vấn đề dạy câu và dạy học TLV ở TH cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cho việc luyện từ và câu, trong đó có nội dung luyện câu.
- Ngoài ra, trong cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học” [25] của
Lê Phương Nga (2007) đã đưa ra các mạch kiến thức, kĩ năng nhằm bồi dưỡng Tiếng Việt
cho HSTH trong đó có các mạch như: Đơn vị từ, câu, kĩ năng xác định đơn vị từ, câu,
phân cắt ranh giới từ và tách đoạn thành câu và TPC (cấu tạo câu), kĩ năng nhận diện
TPC, viết câu đúng thành phần.
Nhìn chung, các tác giả đã quan tâm tới vấn đề câu cũng như vấn đề dạy tập làm
văn ở nhiều phương diện khác nhau. Nhiều tài liệu có ý nghĩa quan trọng gợi ý cho chúng
tôi trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến
vấn đề về việc luyện tập TPC trong giờ TLV cho học sinh tiểu học một cách có hệ thống
để có thể áp dụng vào quá trình dạy học Tập làm văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp hướng dẫn HS vận dụng, thực hành về thành phần câu
trong giờ Tập làm văn, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học về thành phần câu, phát triển
tốt hơn các kĩ năng nói và viết các bài văn ở lớp 4.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thành phần câu trong giờ Tập làm văn.
- Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp hướng dẫn HS luyện tập thành phần câu
trong giờ TLV.
5. Giả thiết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp thích hợp trong việc hướng dẫn HS lớp 4 luyệp
tập về thành phần câu thông qua giờ Tập làm văn thì có thể giúp HS củng cố và vận dụng
tốt thành phần câu, phát triển tốt hơn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
8
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
- Đề xuất các biện pháp hướng dẫn HS lớp 4 luyện tập về thành phần câu trong giờ
Tập làm văn.
- Tổ chức dạy học thử nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả và tính khả thi của các
thị một tư tưởng trọn vẹn” [28, tr.498].
Còn L.C. Thompson đưa ra định nghĩa câu về phương tiện hình thức mà bỏ qua
mặt nội dung: “Ở trong tiếng Việt, các câu được tách ra khỏi nhau bởi những ngữ điệu
kết thúc. Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghỉ, kết thúc bằng một ngữ điệu kết thúc và
đứng sau một sự yên lặng hay tiếp một đoạn khác cũng như vậy là một câu. Sự độc lập
của những yếu tố như vậy, được phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng một chữ hoa
ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than ở cuối câu)” [43,
tr.85].
Định nghĩa này gần gũi với định nghĩa của F.F. Fortunatov (thuộc trường phái hình
thức ngữ pháp): “Câu là một tổ hợp từ với ngữ điệu kết thúc” [19, tr.101].
Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám, đã có những quan niệm về câu tiếng
Việt trên cơ sở ngữ pháp học tiếng Pháp, như Trần Trọng Kim cho rằng: “Câu lập thành
do một mệnh đề có nghĩa lớn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề” [16, tr.27]. Định nghĩa
này có điểm chưa rõ đó là mệnh đề là gì? thì tác giả không giải thích mà chỉ nêu các bộ
phận tạo thành mệnh đề.
Sau Cách mạng, vấn đề câu đã được chú trọng hơn. Tuy vậy, việc định nghĩa cũng
có những điểm cần phải xét lại.
Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Lân: “Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý
dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật gọi là câu” [17, tr.19]. Định
nghĩa này là một bước phát triển so với thời kì trước nhưng vẫn có một số đặc điểm chưa
10
thỏa đáng như: câu có nhất định nhiều từ không, nhiều từ là bao nhiêu? Thế nào là một ý
hoàn chỉnh. Khi nói về nguyện vọng, thái độ hoài nghi, sự bỏ lửng (nghĩa là chưa biểu thị
một ý nghĩa dứt khoát về động tác, tình hình, tính chất) thì có phải là câu không?
Tác giả Nguyễn Kim Thản không đưa ra một định nghĩa trực tiếp mà chọn định
nghĩa về câu của V.V. Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hoàn
thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng
để cấu tạo, biểu thị tư tưởng. Trong câu không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà
có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [28, tr.144]. Định nghĩa này đã đi vào
đúng bản chất của câu, đó là xem xét mặt nội dung của câu, mối liên hệ của câu với hiện
- Câu thể hiện trạng thái tình cảm, cảm xúc, ước nguyện,… chủ quan của người sử
dụng ngôn ngữ.
- Câu là phương tiện tác động làm thay đổi ở người nghe về nhận thức, tình cảm và
hành động.
Ví dụ: Lan nói với bạn:
- Trời lại mưa rồi mày ạ.
Câu nói của Lan mang thông tin về một hiện tượng thời tiết; đồng thời, có thể hàm
chứa thông tin về tâm trạng không vui của Lan trước hiện tượng thời tiết này. (Chẳng hạn,
Lan đang chuẩn bị đi đâu đấy).
b. Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng biểu thị phán đoán
Chức năng này thể hiện mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Phán đoán là một
hình thức của tư duy, phản ánh hiện thực khách quan. Các phán đoán của tư duy điều
được biểu thị bằng câu. Các phán đoán có thể chia làm hai loại: phán đoán đơn và phán
đoán phức.
- Phán đoán đơn là phán đoán có sự liên hệ giữa một khái niệm về đối tượng phản
ánh, làm thành chủ từ logic và một khái niệm về thuộc tính của đối tượng, làm thành vị từ
logic của phán đoán, biểu thị nhận thức của con người về đối tượng được nêu ở chủ từ
logic. Phán đoán đơn thường được thể hiện bằng câu đơn hai thành phần chính: chủ ngữ -
vị ngữ.
12
- Phán đoán phức được tạo bởi sự liên kết của các phán đoán đơn. Một phán đoán
phức được thể hiện bằng một câu ghép hoặc câu đơn một chủ ngữ với nhiều vị ngữ.
Nhưng không phải tất cả các câu điều biểu thị phán đoán. Có những câu không
biểu thị phán đoán. Chẳng hạn:
+ Những câu gọi đáp
Ví dụ:
Lá ơi!
(TV4, t.2, tr.98)
+ Câu cảm
Ví dụ:
của người nói trong mối quan hệ với điều được nói tới trong câu hoặc với người nghe.
Ví dụ:
Dạo này bà khỏe không ạ ?
Ở ví dụ này nội dung được miêu tả: sức khỏe của bà; nội dung tình thái: hành vi tại
lời trực tiếp là hỏi và thái độ kính trọng của người viết đối với người đọc trong quan hệ
giữa bề dưới – bề trên.
1.1.3. Thành phần câu
1.1.3.1. Khái niệm
Thành phần câu được hiểu là những thành tố tham gia cấu tạo nên câu. Đó là
những bộ phận được xây dựng dựa trên những mối quan hệ về ý nghĩa và về ngữ pháp
trong một ngôn ngữ nhất định.
Ví dụ:
Vào những ngày cuối xuân, đầu hạ, khi nhiều loại cây đã khoát màu áo mới
thì cây sấu mới bắt đầu chuyển mình thay lá.
Câu trên có những bộ phận cấu tạo giữ chức vụ cú pháp nhất định. Bộ phận “cây
sấu mới chuyển mình thay lá” là bộ phận ngữ pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề,
được gọi là bộ phận chính (thành phần chính). Bộ phận còn lại (nối kết với bộ chính bằng
quan hệ từ “thì”) mang ý nghĩa bổ sung cho câu về thời gian diễn ra sự tình được nói ở bộ
phận chính, gọi là bộ phận phụ (thành phần phụ).
1.1.3.2. Các thành phần câu trong Tiếng Việt
14
Các nhà nghiên cứu thường phân loại các thành phần câu thành hai loại: thành
phần chính và thành phần phụ.
a. Thành phần chính
Thành phần chính là thành phần ngữ pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề của
câu, còn gọi là nòng cốt câu.
Câu bình thường có đầy đủ bộ phận chủ ngữ và vị ngữ.
Ví dụ:
Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
C V
Chủ ngữ có thể biểu hiện phong phú về từ loại (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số
từ,…) và về cấu trúc (từ, cụm từ hay kết cấu chủ vị).
+ Danh từ, cụm danh từ
Ví dụ:
Em chơi trò ú tim với cái chết thật ghê rợn.
(TV4, t.2, tr.81)
Núp trong cuốn lá, những búp ngô non nhú lên và lớn dần.
(TV4, t.2, tr.31)
+ Động từ, cụm động từ
Ví dụ:
Kéo co là một trò chơi thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.
(TV4, t.1, tr.155)
Vậy nên, luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một
người yêu nước.
(TV3, t.2, tr.94)
+ Tính từ, cụm tính từ
Ví dụ:
Lạc quan là liều thuốc bổ.
(TV4, t.2, tr.145)
+ Đại từ
Ví dụ:
Đó là con người thuần hậu, hiền hòa, mang tính nhân bản sâu sắc.
16
(TV4, t.2, tr.17)
+ Số từ
Ví dụ:
Bốn cánh khẽ rung rung như còn đang phăn vân.
(TV 4, t.2, tr.37)
+ Kết hợp phụ từ có + danh từ/ đại từ phiếm chỉ
Ví dụ:
Vị ngữ được biểu hiện phong phú về từ loại và cấu trúc.
+ Động từ, cụm động từ
Ví dụ:
Nhà vua đồng ý. Thế là chú hề đến gặp cô chủ nhỏ của mình.
(TV4, t.1, tr.164)
+ Tính từ, cụm tính từ
Ví dụ:
Trời mùa thu mát mẻ.
(TV4, t.1, 112)
+ Đại từ
Ví dụ:
Con mèo của tôi là thế đấy.
(TV4, t.2, tr.113)
+ Số từ
Ví dụ:
Trung Quốc có đường biên giới chung với nhiều nước nhất – 13 nước. Biên
giới của nước này dài 23840 kí-lô-mét.
(TV4, t.2, tr.116 )
+ Cụm đẳng lập
Ví dụ:
Đôi này vẫn chiếc thấp, chiếc cao.
(TV2, t.1, tr.68)
+ Cụm chủ vị
Ví dụ:
18
Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, quê ở tỉnh Vĩnh Long.
(TV4, t.2, tr.21)
+ Kết hợp hệ từ là + từ, cụm từ
Ví dụ:
Nét nổi bật nhất ở Vĩnh Sơn hôm nay là nhân dân đã biết trồng lúa.
Ngày xưa, Rùa có một cái mai láng bóng.
(TV4, t.2, tr.126)
Trạng ngữ chỉ nơi chốn chỉ địa điểm mà hành động xảy ra. Trạng ngữ chỉ nới
chốn có quan hệ từ: ở, giữa, trên, dưới, tại, trong, ngoài,… đứng trước danh từ hoặc cụm
danh từ.
Ví dụ:
Trong vườn, muôn loài hoa đua nở.
(TV4, t.2, tr.126)
Trạng ngữ chỉ nguyên nhân thường nêu nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp
làm nảy sinh điều được nói đến ở nồng cốt câu chính. Trạng từ chỉ nơi chốn thường mở
đầu bằng các quan hệ từ như: do, bởi, tại, nhờ, vì.
Ví dụ:
Vì mải chơi, Tuấn không làm bài tập.
(TV4, t.2, tr.141)
Trạng ngữ chỉ mục đích chỉ mục đích mà hành động hướng đến. Trạng từ
chỉ mục đích thường có các quan hệ từ: để, để cho, vì đứng trước.
Ví dụ:
Để tìm điều bí mật đó, Xi-ôn-côp-xki đọc không biết bao nhiêu là sách.
(TV4, t.1, tr.125)
Trạng ngữ chỉ phương tiện cách thức thường nêu phương tiện mà chủ thể sử
dụng.
Ví dụ:
Bằng một giọng thân tình, thầy khuyên chúng em gắng học bài, làm bài
đầy đủ.
20
(TV4, t.2, tr.160)
Trạng ngữ chỉ phương diện thường nêu lên một phương tiện mà kết cấu C
– V chính có quan hệ.
Ví dụ:
Về phần mình, các em đặt cho chúng tôi nhiều thiếu nhi Việt Nam.
để làm sáng tỏ thêm phương diện nào đó có liên quan gián tiếp đến cả câu: chú thích, xuất
xứ, làm rõ thái độ, …
Ví dụ:
Một lần,bác sĩ Ly - một người nổi tiếng nhân từ - đến thăm bệnh cho ông chủ
quán trọ.
(TV4, t.2, tr.66)
- Về vị trí, giải thích ngữ có thể đứng sau chủ ngữ hoặc cuối câu. Cũng có trường
hợp đứng giữa chủ ngữ với trạng ngữ đầu câu.
- Khi giải thích cho một bộ phận nào đó trong câu, giải nghĩa luôn đứng kế sau yếu
tố được chú thích.
Ví dụ:
Mình là Quách Tuấn Lương, học sinh lớp 4B trường Tiểu học Cù Chính
Lan, thị xã Hòa Bình.
(TV4, t.1, tr.25)
- Trên chữ viết, ranh giới giữa giải ngữ với các bộ phận khác được biểu hiện bằng
dấu phẩy, dấu gạch ngang, dấu hai chấm hoặc dấu ngoặc đơn. Còn trong lời nói giải ngữ
thường được hạ giọng.
b4. Hô ngữ
- Hô ngữ là bộ phận phụ biểu thị sự gọi đáp
Ví dụ:
Bà ơi, ai cũng bảo anh em cháu giống nhau như hai giọt nước cơ mà?
(TV4, t.1, tr.14)
- Trên chữ viết, hô ngữ có thể được kết thúc bằng dấu chấm, tạo thành câu đơn đặc biệt.
Ví dụ:
Mẹ ơi ! Người ta ai cũng có một nghề.
(TV4, t.1, tr.85)
22
b5. Tình thái ngữ
- Tình thái ngữ là bộ phận phụ biểu thị trạng thái tình cảm. cảm xúc chủ quan hoặc
hành vi ngôn ngữ của người nói.
số mặt như sau:
* Đặc điểm về tư duy: tư duy hay nhận thức cảm tính đều là một quá trình tâm lý,
nhưng quá trình tư duy phản ánh dấu hiệu, mối quan hệ bản chất bên trong của các sự vật
khách quan.
Tư duy của HSTH chuyển dần từ tính trực quan cụ thể sang tính trừu tượng khái
quát. Tuy nhiên, ở HS lớp 4, các em đã thoát khỏi ảnh hưởng chủ quan của dấu hiệu trực
tiếp, hoàn toàn dựa vào những tri thức và những khái niệm đã được hình thành. HS đã
bước đầu biết phân tích, phát hiện, tư duy và tưởng tượng. Các em có thể nhận biết được
dấu hiệu bên trong bên cạnh những dấu hiệu bên ngoài của sự vật và hiện tượng, có thể
tiếp cận những khái niện đơn giản và nhìn ra được mối quan hệ giữa các khái niệm. Trong
quá trình học tập, HS thường có những thao tác tư duy như phân tích hay tính toán, từ đó
thao tác về không gian và thời gian đã dần dần được hình thành và phát triển. Sự kết hợp
các thao tác tư duy là cơ sở của việc hình thành khái niệm. Đây là cơ sở để HS chiếm lĩnh
những nội dung kiến thức mới trong quá trình học tập.
* Đặc điểm về chú ý: sự chú ý của HSTH thường không có chủ định, khả năng chú
ý và điều chỉnh chú ý còn bị hạn chế. Tuy nhiên, ở HS lớp 4, sự chú ý có chủ định được
tăng dần, có khả năng phát triển ở một số phẩm chất khác về mặt số lượng cũng như về sự
phân bố chú ý. Sự chú ý thiếu bền vững của HSTH là do quá trình ức chế còn yếu. Nhưng
ở lớp 4, các em đã có thể duy trì chú ý gần như là suốt buổi học nếu GV biết luân phiên
thay đổi các hoạt động cho HS, tránh sự ức chế nhàm chán.
Khả năng phát triển chú ý có chủ định, bền vững, tập trung đối với HSTH trong
quá trình học tập là rất cao. Bản thân quá trình học tập đòi hỏi HS phải rèn luyện chú ý có
chủ định. Sự chú ý có chủ định sẽ được phát triển cùng với sự phát triển động cơ mang
tính xã hội mà cụ thể mà cụ thể đối với HSTH là động cơ học tập. Mặt khác, đó là sự
trưởng thành về ý thức, trách nhiệm đối với kết quả học tập của mình. Vì vậy, GV cần có
kỹ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của HS một cách thuần thục và phù hợp.
* Đặc điểm về trí nhớ: sự ghi nhớ có chủ định và không có chủ định của HSTH
đều đang phát triển. Sự phát triển trí nhớ của HSTH có sự biến đổi vế chất. Đó là sự hình
24
thành và phát triển của ghi nhớ có chủ định phát triển ở mức cao. Với HSTH, ghi nhớ có
tham gia cấu tạo nên câu với chức năng cú pháp nhất
định
50.91% 49.09%
Như vậy, không phải tất cả GV đều nhận thức đúng, đầy đủ và chính xác các kiến
thức về thành phần câu, từ kết quả xử lí số liệu trên cho ta thấy:
25