PHÒNG GD&ĐT KRÔNG ANA
TRƯỜNG TIỂU HỌC Y NGÔNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5
GIẢI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
Họ và tên : Nguyễn Văn Quyết
Đơn vị công tác : Trường tiểu học Y Ngông
Trình độ đào tạo : Đại học sư phạm
Môn đào tạo : Tiểu học
Krông Ana, tháng 3 năm 2016
Mục lục
-1-
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài.
…………….…………………………………….1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
……………………………………2
I.3. Đối tượng nghiên cứu
………..…………………………………………4
2.4 Nguyên nhân, các yếu tố tác đông ……………………………..……...5
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đặt ra ……..……..5
3. Giải pháp, biện pháp
……………………………………………...6
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
…………………………………….6
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
………………..6
3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
……………………….....14
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
………………………….14
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
……….14
4. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu ……15
500 bài toán cơ bản và nâng cao
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
3
Chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 5
NXB GD
4
Đại lượng và đo đại lượng
Nguyễn Thanh Hưng - Giảng viên
Đại học Tây Nguyên
I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
-3-
Tiểu học là bậc học nền tảng trong nền giáo dục quốc dân. Người ta ví
bậc Tiểu học như những “viên gạch” đầu tiên đặt nền móng cho “ngôi nhà tri
thức”, “móng" có chắc thì “nhà” mới vững. Việc hình thành ở học sinh những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đức, trí, thể, mĩ và các
kĩ năng cơ bản khác để học tiếp các bậc học trên hoặc để đi sâu vào cuộc sống
lao động là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình dạy và học.
Các môn học trong chương trình Tiểu học có vai trò hết sức quan trọng,
nó cung cấp những kiến thức, kĩ năng phù hợp với học sinh. Trong đó môn
một số giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng giải toán chuyển động đều cho học
sinh.
4. Giới hạm phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Y Ngông, xã Dur Kmăn, huyện Krông
Ana, tỉnh Đăk Lăk
Nội dung chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng và tuyến kiến thức về
toán chuyển động đều trong môn Toán lớp 5.
5. Phương pháp ngiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra, thực nghiệm
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp đối chiếu, so sánh, tổng kết kinh nghiệm
II. Phần nội dung
1. Cơ sở lí luận
Mục tiêu dạy học môn toán tiểu học nhằm giúp học sinh có những kiến
thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại
lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Hình thành
các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết
thực trong đời sống. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng
-5-
suy luận hợp lí và diễn đạt chúng, cách phát hiện và cách giải quyết những
vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây
hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và
làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
Nội dung về toán chuyển động đều giữ vị trí quan trọng trong môn
Toán lớp 5. Nó giúp học sinh có năng lực nhận biết các sự vật, hiện tượng
một cách nhanh chóng, lô-gíc và khoa học. Đồng thời toán chuyển động đều
còn gắn bó mật thiết với các kiến thức khác như số học, đại số, ...tạo thành
nhờ sự đổi mới trong phương pháp, hình thức dạy học. Giáo viên đã không
ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, đáp ứng với sự đổi mới trong
giáo dục.
Khả năng tư duy, tinh thần tự học, tính chủ động, tích cực trong học tập
được phát huy.
* Hạn chế
Chất lượng học sinh nói chung còn hạn chế, một số em đi học chưa
chuyên cần nên việc tiếp thu bài gặp nhiều khó khăn.
Một số giáo viên vẫn chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, chưa sáng
tạo trong trong giảng dạy.
2.3 Mặt mạnh - mặt yếu
* Mặt mạnh
Giáo viên đã nắm vững tuyến kiến thức về toán chuyển động đều, lựa
chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp; biết cách dạy khơi
dậy sự sáng tạo, sự tự học của học sinh.
Được sự giúp đỡ của giáo viên trong khối cũng như toàn trường,
thường xuyên trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy.
* Mặt yếu
-7-
Học sinh của trường chủ yếu là người dân tộc thiểu, khả năng tiếp thu
cũng có phần hạn chế, một số nội dung của bài học tương đối khó so với nhận
thức của các em. Bên cạnh đó, một số giáo viên cũng còn những hạn chế nhất
định về năng lực dạy học.
2.4 Các nguyên nhân - các yếu tố tác động
Nhà trường tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạy học. Tổ
chuyên môn cũng thường xuyên tạo điều kiện để tham gia các buổi tập huấn,
chuyên đề nâng cao trình độ chuyên môn.
Bản thân là giáo viên giảng dạy lớp 5 nhiều năm nên có kinh nghiệm
của học sinh. Thông qua đó, giúp học sinh nắm vững kĩ năng giải toán chuyển
động đều, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán.
Tạo được không khí vui tươi, khích lệ học sinh tích cực, chủ động trong
học tập.
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
3.2.1 Hướng dẫn nắm vững về đơn vị đo
Thông thường, bài toán chuyển động đều có công thức và quy tắc để
giải. Tuy nhiên học sinh không chú ý tới các đơn vị đo của các đại lượng nên
dẫn đến tình trạng sai lầm trong khi làm bài. Do đó tôi đã tiến hành khảo sát
thực trạng giải toán chuyển động đều nhằm phát hiện những khó khăn, những
sai lầm mà học sinh mắc phải khi làm bài, thông qua việc làm này, tôi thấy
học sinh thường học sinh hay nhầm lẫn các đơn vị đo. Vì vậy, giáo viên cần
hướng dẫn và giúp đỡ học sinh khắc sâu kiến thức cơ bản trước khi làm một
bài tập cụ thể nào đó. Từ các công thức tính vận tốc, quãng đường, học sinh
cần xác định được các đơn vị đi kèm : Thời gian là giờ, quãng đường là ki-lômét thì vận tốc là km/giờ; Thời gian là phút, quãng đường là mét thì vận tốc
là m/phút. .....
-9-
Tuy nhiên không phải lúc nào học sinh cũng dễ dàng chuyển đổi được
đơn vị đo cho phù hợp, lí do là các em đã quen cách đổi số đo thời gian về số
tự nhiên hay về số thập phân, do đó các em thường gặp khó khăn trong những
bài toán đơn giản.
Ví dụ : Một người đi xe máy trong 1 giờ 40 phút với vận tốc 35 km/giờ.
Tính quang đường người đi xe máy đã đi.
Đối với dạng toán này, học sinh sẽ đổi phút thành giờ ( 40 phút =
....giờ) bằng cách lấy 40: 60(kết quả là phép chia có dư). Vì quen cách đổi về
số tự nhiên hoặc số thập phân mà quên không đổi về phân số nên các em đã
mắc phải một số sai lầm không đáng có. Trong trường hợp này, giáo viên
vị ki- lô-mét thành đơn vị mét để giải bài toán.
Đổi : 15km = 15000 m
Vận tốc chạy của con ngựa là :
15000 : 20 = 750 (m/phút)
Đáp số : 750 m/phút
Để giúp học sinh khắc phục những nhầm lẫn khi giải các dạng bài tập
này, giáo viên cần khắc sâu kiến thức ngay trong bài học, củng cố lại trong
các bài tập, tạo cho học sinh có thói quen cẩn thận khi làm toán.
3.2.2 Đưa các bài toán chuyển động đều về từng dạng để giải
Đối với toán chuyển động đều, có những bài toán chuyển động cần sự
suy luận, phán đoán thì mới tìm ra hướng giải. Tuy nhiên sự suy luận của các
em còn hạn chế, hơn nữa, đây là loại toán khó nên các em rất khó xác định và
giải. Do đó giáo viên cần hướng dẫn, giúp các em đưa các bài toán về từng
dạng và có cách giải, theo đó có một số dạng toán chuyển động cơ bản sau :
* Dạng toán chỉ có một chuyển động tham gia
Với dạng toán chuyển động chỉ có một chuyển động tham gia, khi cho
biết hai đại lượng, yêu cầu phải tìm một đại lượng còn lại, thường thì phải
giải bài toán phụ để tìm đại lượng còn lại.
- 11 -
Ví dụ : Một ô tô đi từ A lúc 7 giờ 30 phút và đến B lúc 12 gời 15 phút
với vận tốc 46km/giờ. Tính quãng đường AB.
Yêu cầu của bài này là tính quãng đường khi biết vận tốc và thời gian,
tuy nhiên học sinh lại nhầm lẫn và không biết cách tính thời gian ô tô đi hết
quãng đường. Do đó giáo viên gợi ý, hướng dẫn học sinh như sau :
Tìm thời gian ô tô đi hết quãng đường (Lấy thời gian đến nơi trừ đi thời
gian bắt đầu xuất phát). Đơn vị thời gian tương ứng với đơn vị vận tốc km/giờ
(là giờ ). Qua sự hướng dẫn, học sinh có cách giải bài này như sau :
Thời gian ô tô đi hết quãng đường AB là :
8 giờ 56 phút - (6 giờ 15 phút +25 phút) = (giờ)
Quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng là :
45 x
= 102 (km)
Đáp số : 102 km
* Dạng toán có từ hai chuyển động
Trong toán chuyển động đều thì đây là dạng khó và phức tạp nhất, bởỉ
vì muốn tìm đại lượng chưa biết trong dạng toán này, học sinh phải suy luận
và có thể phải đặt giả thiết khi giải. Một điều khó khăn là dạng toán này các
em được học rất ít nên không có điều kiện luyện tập. Dạng toán này có rất
nhiều loại như : Chuyển động cùng chiều, chuyển động ngược chiều, chuyển
động trên dòng nước, .....
Để học sinh nắm được cách giải, giáo viên sẽ lựa chọn, hướng dẫn học
sinh tìm và đưa các bài toán đó về từng loại cụ thể để giải.
Ví dụ : Một xe máy đi từ A lúc 8 giờ 37 phút với vận tốc là 36 km/giờ.
Đến 11 giờ 7 phút một ô tô cũng đi từ A đuổi theo xe máy với vận tốc 54
km/giờ. Hỏi ô tô đuổi kịp xe máy lúc mấy giờ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng hệ thống câu hỏi gợi ý sau :
+ Đây là loại toán nào ? (Loại toán chuyển động cùng chiều, không
cùng lúc, cách nhau một khoảng cách cho trước, tìm thời điểm gặp nhau)
+ Khi xe ô tô bắt đầu đi thì cách xe máy bao nhiêu km ? (Xe máy xuất
phát trước ô tô bao nhiêu thời gian, vận tốc xe máy là bao nhiêu ?
- 13 -
+ Sau mỗi giờ, ô tô gần xe máy bao nhiêu km ?
+ Sau bao lâu ô tô đuổi kịp xe máy ?
+ Ô tô đuổi kịp xe máy lúc mấy giờ ?( giờ khởi hành cộng với thời gian
chuyển động cùng chiều, đuổi nhau, tìm thời điểm (lúc) gặp nhau. Qua đó ta
có công thức cho loại toán này như sau :
- 14 -
Thời gian đuổi kịp là :
t = s : (v1 - v2 ) với v1 > v2 , s là khoảng cách 2 chuyển động
Với loại chuyển động ngược chiều thì thì
Thời gian đuổi kịp là :
t = s : (v1 + v2 ) s là khoảng cách 2 chuyển động
Ngoài chuyển động cùng chiều, ngược chiều thì trong chương trình còn
có loại toán đặc biệt, đó là loại chuyển động trên mặt nước, loại toán tương
đối khó nên giáo viên cần giúp các em hiểu bản chất của lạoi toán này.
Ví dụ : Một thuyền máy đi xuôi dòng từ bến A đến bến B. Vận tốc của
thuyền khi nước lặng là 22,6km/giờ và vận tốc dòng nước là 2,2km/giờ. Sau 1
giờ 15 phút thì thuyền máy đến B. Tính độ dài quãng sông AB.
Bài toán này có yếu tố vận tốc của dòng nước nên làm thay đổi vận tốc
thuyền máy khi đi xuôi dòng và ngược dòng. Nếu không để ý yếu tố này thì
học sinh tìm quãng đường bằng cách lấy vận tốc thuyền nhân với thời gian.
Để học sinh giải bài toán này, giáo viên cần hướng dẫn, gợi mở để các em tìm
ra cách giải.
Nếu khi nước chảy thì vận tốc thuyền xuôi dòng tính như thế nào ?
(vận tốc thuyền cộng vận tốc dòng nước)
Vậy độ dài quãng sông AB là bao nhiêu ?
Bài giải như sau :
Đổi 1 giờ 15 phút = 1,25 giờ
Vận tốc thuyền máy khi xuôi dòng là :
22,6 + 2,2 + 24,8 (km/giờ)
Độ dài quãng sông AB là :
24,8 x 1,25 = 31 (km)
- 16 -
Giải pháp thứ nhất là tiền đề, là cơ sở giúp giáo viên thực hiện tốt giải
pháp thứ hai và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Giáo viên cần linh hoạt khi thực hiện các giải pháp, biện pháp nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học và tạo hứng thú
trong học tập.
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Thực hiện đề tài này đã mang lại những hiệu quả nhất định như học
sinh nắm vững kiến thức về số đo thời gian, biết cách tính quãng đường, vận
tốc, thời gian trong chuyển động; vận dụng để giải một số bài toán chuyển
động dạng đặc biệt. Không những thế, các em còn rất hứng thú, tích cực và
chủ động trong học tập.
Năm học 2014 -2015, kết quả khảo nghiệm lớp chưa áp dụng đề tài so
với lớp đã áp dụng đề tài đều như sau :
Lớp chưa
áp dụng
Tỉ lệ %
Lớp đã áp
dụng
Tỉ lệ %
Nắm vững công thức và đơn vị
Vận dụng giải các dạng
đo
15
9
75
25
62,5
31,8
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu.
- 17 -
Thông qua kết quả khảo nghiệm, giáo viên nắm chắc được các phương
pháp dạy học toán chuyển động đều cũng như các phương pháp khác và các
kiến thức về toán chuyển động đều trong chương trình môn Toán lớp 5.
Chuẩn bị, nghiên cứu tài liệu, phương tiện dạy học góp phần vào việc
đổi mới phương pháp dạy học, trong đó giáo viên đóng vai trò là người hướng
dẫn, còn học sinh là người chủ động, tích cực trong quá trình học tập để tìm ra
kiến thức, kĩ năng.
Các giải pháp, biện pháp đề tài nghiên cứu đã có tác động tích cực đến
đội ngũ giáo viên trong trường; tạo được môi trường học tập vui tươi giữa
thầy và trò, khích lệ và khơi dậy được sự tích cực, chủ động để tất cả học sinh
tham gia vào quá trình học tập, nắm vững và khắc sâu các kiến thức về toán
chuyển động đều, biết vận dụng để làm bài tập, áp dụng vào giải các bài toán
học sinh ngay từ đầu năm học để có kế hoạch giảng dạy. Ngoài ra còn phải
chuẩn bị bài, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy
học có hiệu quả.
Trên đây là “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 giải toán
chuyển động đều” mà tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy. Do thời
gian có hạn, đề tài cũng còn những hạn chế nhất định. Rất mong sự góp ý của
đồng chí, đồng nghiệp để những kinh nghiệm trên được đầy đủ và hoàn thiện
hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Người viết
Nguyễn Văn Quyết
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
- 19 -
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
(Ký tên, đóng dấu)
- 20 -