ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI
TOÁN CÓ LỜI VĂN
1
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
2
1
Phần 1: Đặt vấn đề
3
2
Lý do chọn đề tài
3
8
Phần 2: Giải quyết vấn đề
6
9
Cơ sở lí luận
6
10
Cơ sở thực tiễn
7
11
Tìm hiểu nguyên nhân
9
12
Một số biện pháp thực hiện
10
2
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
LỜI MỞ ĐẦU
Qua thực tế chúng ta giảng dạy ở trường Tiểu học. Ta thấy bậc tiểu học là
bậc quan trọng trong việc hình thành phát triển tư duy cho học sinh. Trên cơ sở
cung cấp những tri thức cho học sinh theo yêu cầu giáo dục. Muốn học sinh học
tốt tính toán nhanh thì học toán phải tốt. Học toán tốt sẽ giúp các em phát triển
trí tuệ làm việc đạt kết quả cao.
Muốn học tốt toán điều đầu tiên là phải nắm được hệ thống toàn bộ kiến thức, kỹ
năng có phương pháp sáng tạo ham muốn học tập lao động để trở thành người
công dân phát triển toàn diện có ích cho gia đình và cho xã hội.
Trong thực tế giảng dạy ta thấy cũng như môn Tiếng việt thì môn Toán là
một trong những môn học rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học. Nó giúp học
sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, số tự nhiên, phân số, số thập
phân, các đại lượng thông dụng đặc biệt là giải các bài toán có lời văn, một số
yếu tố về hình học. Đại lượng và đo đại lượng. Toán lớp 2 là sự kế tục của
chương trình toán lớp 1, là công cụ thiết yếu giúp học sinh học tốt các môn học
khác. Cũng như vậy trong cuộc sống môn Toán giúp học sinh phát triển năng
lực, trí tuệ, khả năng tư duy lô gích chặt chẽ, óc trừu tượng, giáo dục tính chính
xác phát huy tính tích cực độc lập suy nghĩ sáng tạo cho học sinh.
Để làm được điều đó mỗi giáo viên phải bỏ nhiều công sức và lòng nhiệt
huyết tâm đắc với nghề, hết lòng vì học sinh thân yêu.Chúng ta đã biết muốn
xây được một ngôi nhà vững trãi điều đầu tiên cần phải xây cái móng cho vững
chắc. Chính vì vậy người giáo viên phải hiểu biết, hết lòng vì học sinh thân yêu.
Chương trình môn toán tập trung vào sự hình thành và phát triển kỹ năng tính,
một trong số những kỹ năng quan trong nhất của giáo dục Tiểu học. Kỹ năng
tính góp phần vào sự hình thành các giá trị mới, năng lực tự học, tự phát hiện và
giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức và thực hành, vận dụng các kiến thức
đó theo năng lực của bản thân. Từ đó hình thành và phát triển năng lực tư duy
chủ động linh hoạt và sáng tạo cho học sinh có ý chí vượt khó trong học tập,
học đi đôi với hành cũng từ đó có niềm tin, niềm vui đối với kết quả học tập của
bản thân.
Với
quan điểm chủ đạo đổi mới phương pháp giáo dục theo định hướng dạy học
dựa vào hoạt động học tập tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh…. Vì vậy
môn toán là một trong số các môn góp phần quan trong trong quá trình nâng cao
chất lượng giáo dục ở bậc Tiểu học. Với vai trò quan trọng của việc thực hiện
dạy toán lớp 2 đặc biệt là giải toán có lời văn. Bản thân tôi cũng là giáo viên trực
tiếp dạy lớp 2 tại trường Tiểu học Tà Hộc. Một trường thuộc xã vùng 3 - vùng
đặc biệt khó khăn. Đối tượng học sinh 100% là học sinh dân tộc ngôn ngữ bất
đồng, dân trí thấp, cha mẹ không để ý đến việc học của con em mình. Tôi nhận
4
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
thức được rằng phải rèn cho học sinh cách giải toán có lời văn vì học sinh đọc
yếu nên ngôn ngữ lời giải rất yếu làm cho người đọc có cảm giác khó chịu, lủng
củng. Qua quá trình giảng dạy tôi thấy có nhiều em giải được toán nhưng lời giải
còn mò mẫm, không có cơ sở.
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
Học sinh lớp 2G, 2E,2H bản Pỏ Hốc trường Tiểu học Tà Hộc - Huyện
Mai Sơn.
Tổng số: 28 em.
Nam: 5 em.
Nữ: 10 em.
Dân tộc: 28 em.
IV. NHIỆM VỤ NGHIấN CỨU:
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận phục vụ cho sáng kiến kinh nghiệm của
mỡnh.
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng và dạy học giải toán có lời văn ở lớp 2
trường Tiểu học Tà Hộc nói chung và lớp mình dạy núi riêng.
- Đề xuất một số biện pháp giải toán có lời văn theo hướng phát huy tích cực
của HS lớp 2 mà tôi giảng dạy ở trường Tiểu học Tà Hộc
V. PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
♦ Phạm vi nghiên cứu:
Cỏch tiến hành tổ chức dạy giải toán có lời văn cho học sinh, một số hình
tổ chức thảo luận nhóm, vai trò của giáo viên khi tổ chức hoạt động tích cực
trong chương trình giải toán có lời văn ở lớp 2.
nhiệm vụ, dặn dò học sinh.
Làm miệng, bảng con, bảng lớp, phiếu học tập.
Tổ chức đánh giá khen chê kịp thời
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong quá trình trực tiếp đứng lớp 2. Tôi thấy đổi mới phương pháp dạy học ở
bậc Tiểu học chính là giáo viên tổ chức hoạt động học tập chủ động phát hiện
hình thành kiến thức khai thác tác dụng tích cực của sách giáo khoa. Hướng dẫn
học sinh sử dụng đồ dùng thực hành, thao tác với vật thật. Tăng cường liên hệ
thực tế linh hoạt trong giảng dạy kết hợp theo vùng miền.
Dạy học toán đòi hỏi giáo viên có lời giảng ngắn gọn, hệ thống câu hỏi cần
chính xác, thể hiện kiến thức trọng tâm. Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi và
ngôn ngữ phù hợp. Ta thấy đổi mới phương pháp dạy học là sự kết hợp hài hoà
giữa các phương pháp dạy học mới và phương pháp dạy học truyền thống.
Chương trình môn toán ở bậc Tiểu học kế thừa và phát triển những thành tựu về
dạy toán ở nước ta. Nó cung cấp những kiến thức cơ bản, cụ thể đến phức tạp và
khái quát hơn.
giáo viên dạy cho HS giải toán có lời văn thường theo các hỡnh thức sau:
+ HS đọc đề bài 1, 2 lần.
+ GV tóm tắt lên bảng.
+ Sử dụng một vài câu hỏi gợi ý để trả lời, sau đó GV gọi 1HS khá lên
bảng giải bài toán.
- HS đọc đề bài 1, 2 lần.
GV đặt câu hỏi:
- Bài toán cho biết gì?
- Ta phải đi tìm cái gì?
- Ta phải làm phép tính gì?
Em nào xung phong lên bảng làm bài?
- HS lên bảng làm bài xong GV kiểm tra, sửa chữa hoặc bổ sung.
Tụi thấy 2 hình thức vừa nêu ở trên chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả
HS giải toán có lời văn đạt chất lượng thấp trong nhà trường.
Chính cách dạy trên đó hạn chế khả năng tư duy của HS, không phát huy
được năng lực cho các em trong việc giải toán.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
a. Khái quát chung:
Trường tiểu học Tà Hộc là trường thuộc xã vùng cao, đặc biệt khó khăn.
Trường có đối tượng học sinh chủ yếu là dân tộc Thỏi và Hmụng. Học sinh đến
trường học gồm các bản về học tại trường. Học sinh và giáo viên ngôn ngữ bất
đồng các em ít va chạm xã hội. Mặt bằng dân trí thấp, cha mẹ các em hầu hết
8
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
không biết chữ, kinh tế còn nghèo cơm chưa đủ ăn, rét chưa đủ áo ấm để mặc.
Một điều nữa là một trường thuộc xã vùng 3, vùng biên giới giao thông đi lại
khó khăn. Mặc dù vậy các đồng chí giáo viên rất tâm huyết với nghề, yêu và
- Nhà trường tổ chức dạy 2 buổi/ ngày các em có điều kiện ôn lại các kiến
thức đó học đồng thời cũng được bồi dưỡng và phụ đạo thêm những kiến thức
bổ trợ.
- Điều kiện cơ sở vật chất của trường lớp tương đối đầy đủ, đảm bảo điều
kiện cho các em học tập.
* Khó khăn:
- Cỏch xa trung tâm trường , đường xá đi lại đặc biệt khó khăn vỡ vậy Ban
giỏm hiệu khụng thường xuyên quan tâm được.
- Hầu hết phụ huynh học sinh làm nghề nông đa số gia đỡnh cỏc em cú
hoàn cảnh khú khăn nên chưa có điều kiện quan tâm đến việc học của con em
mỡnh, chưa coi trọng việc học mà chỉ cho rằng học để biết chữ, chưa dành nhiều
thời gian cho các em học tập.
- Đa số nhà các em chưa có góc học tập riêng, nêu có thỡ cũng chưa đúng
quy cách, nhiều em phải nằm, ngồi trên giường khi học bài, viết bài.
- Phần đa các em học tập trên lớp, về nhà các em không có thời gian học
bài và phụ huynh học sinh không đôn đốc các em tự học, thậm trí nhiều phụ
huynh không biết chữ nển khó khăn cho việc dạy bảo các em.
- Các em đều là dân tộc nên khả ngăng nói và hiểu tiếng việt của các em
rất hạn chế vỡ vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu kiến thức của
các em. Trong chương trỡnh học của cỏc em hầu hết cỏc mụn học bắt buộc cỏc
em phải biết đọc và hiểu được nội dung yêu cầu để vận dung vào thực hành.
Trong các môn học đó có môn Toán và trong môn Toán đều có bài toán có lời
văn, tôi thấy đa số các em chưa biết cách giải toán có lời văn.
- Để khắc phục được những khó khăn của các em trong giải toán có lời
văn, tôi đó tỡm một số giải phỏp hướng dẫn các em và vận dụng trong lớp tôi
chủ nhiệm là lớp 2G.
III. TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN
a. Đối với giáo viên:
Môn Toán là một môn rất quan trọng. Do vậy việc dạy học trên cơ sở tổ
dụng và tìm ra phương pháp để hưởng dẫ học sinh giải toán tốt hơn.
Để tìm hiểu thực tế tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh sau một
tháng học đầu tiên.
Khảo sát chất lượng học sinh:
11
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
Qua một tháng dạy trên lớp để đánh giá chất lượng học tập của học sinh
đầu năm. Tôi tiến hành khảo sát phân chia đối tượng học sinh để bồi dưỡng và
có biện pháp hướng dẫn cụ thể hơn.
Chất lượng học sinh của lớp 2 môn Toán
Tổng số
10
Giỏi
Khá
0
1
Trung bình
5
Yếu
4
dụng luyện tập giải Toán đúng hay sai là ở chỗ này. Do vậy, trong khi dạy, tôi
luôn bảo đảm truyền thụ đủ nội dung kiến thức của bài học bằng cách.
Chuẩn bị bài hết sức chu đáo, cẩn thận. Soạn bài trước ba ngày để có
thêm thời gian nghiờn cứu, hiểu kỹ yờu cầu nội dung của bài học.
Khi soạn bài, tụi luụn tỡm hướng giảng bài mới một cách dễ hiểu nhất đối
với trũ mà vẫn phỏt huy được tư duy của trũ, lấy "học sinh làm trung tâm".
Vì vậy, kết hợp với khõu chuẩn bị bài của học sinh, trong mỗi tiết dạy bài mới,
tụi cung cấp đủ nội dung bài, đồng thời khuyến khích học sinh vận dụng kiến
thức đó học có liên quan thực hiện phương châm "ôn cũ, học mới".
Với cách thực hiện như thế, học sinh sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng mà đầy
đủ kiến thức, được củng cố kiến thức cũ có hệ thống, vận dụng giải Toán sẽ linh
hoạt, không bị gò bó phụ thuộc, tạo cho học sinh có thói quen chủ động tích cực
trong giải Toán có lời văn.
a) Ở lớp một: Các em đó học các bài toán đơn giản : giải bẳng 1 phép tính
về thêm bớt nhiều hơn 1 số đơn vị. Loại toán này đơn giản. Nhưng cũng phải
củng cố cho cỏc em nắm vững thì mới làm được các bài toán ở lớp trên.
Vớ dụ:
- An cắt được 5 bông hoa, Lan cắt được nhiều hơn An 2 bông hoa. Hỏi Lan
cắt được mấy bông hoa?
- Lam có 7 quyển vở, Nhàn có 5 quyển vở. Hỏi ai có nhiều vở hơn và
nhiều hơn bao nhiêu quyển vở ?
Đây là các bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng
hay tính trừ là đúng và chú ý dựa vào cõu hỏi mà trả lời cho đúng.
b) Ở lớp hai : Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm các
dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em hiểu mối quan hệ giữa
13
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
Một số học sinh trình bày bài giải như sau:
Số dm mảnh vải màu tím dài là:
34 – 15 = 19 (dm)
Đáp số: 19 dm
Hoặc:
Mảnh vải màu tím là:
34 – 15 = 19 (dm)
Đáp số: 19 dm
Tôi liền đưa ra các bài học sinh giải lên bảng, chỉ ra từng chỗ sai cụ thể cho
học sinh và để học sinh so sánh đối chiếu các bài với nhau: bài trình bày sai- bài
trình bày đúng để học sinh thấy được chỗ sai của mình.
Bài giải được trình bày như sau:
Độ dài mảnh vải màu tím là:
34 – 15 = 19 (dm)
Đáp số: 19 dm
Hoặc:
Mảnh vải màu tím dài là:
34 – 15 = 19 (dm)
Đáp số: 19 dm
Thường khi giải bài toán có lời văn với các số đo độ dài, học sinh thường
viết cả tên đơn vị cùng với số đo hoặc viết tắt tên đơn vị đo ở câu lời giải.
Đối với bài toán có lời văn mà có số đo độ dài, tôi phải hướng dẫn học sinh
cách trình bày bài giải cho đúng từ, câu trả lời đến các phép tính.
Vớ dụ 3 : Thùng thứ nhất đựng 25 lít dầu. Thùng thứ hai đựng 30 lít dầu.
Hỏi thùng nào đựng nhiều dầu hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ?
Có học sinh giải như sau :
Số lít dầu thùng đựng nhiều hơn là :
15
hình thức khỏc nhau, tôi khai thác được tư duy của học sinh. Các dạng toán có
thể thực hiện được điều này như:
+ Dạng toán về nhiều hơn, ít hơn.
16
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
+ Dạng toán về số bị trừ, tìm số hạng trong một tổng.
Vớ dụ 1 : Bài toán về nhiều hơn.
Nội dung bài tập là : Anh 25 tuổi, anh hơn em 6 tuổi. Hỏi em bao nhiêu tuổi
?.
+ Để giải được bài này, học sinh phải hiểu rõ yêu cầu của bài toán. Đố biết
tuổi của anh, biết số tuổi anh hơn em. Muốn tìm số tuổi của em phải làm thế nào
?
+ Học sinh phải tự phân tích đề toán và giải :
Tuổi của em là :
25 - 6 = 19 (tuổi)
Đáp số : 19 tuổi
Với việc mở rộng kiến thức này, học sinh sẽ linh hoạt hơn khi giải toán
không nhất thiết cứ nhiều hơn là phải làm tính cộng.
Vớ dụ 2 : Bao thứ nhất đựng được 50 kg gạo, như vậy bao thứ nhất đựng ít
hơn bao thứ hai 15 kg gạo.
a) Tính số gạo của bao thứ hai.
Đó biết yếu tố gì ? Số gạo của bao thứ nhất và biết bao thứ nhất đựng ít hơn
bao thứ hai 15 kg. Lúc này, học sinh phải hiểu bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ
hai 15 kg nghĩa là bao thứ hai đựng nhiều hơn bao thứ nhất 15 kg.Vậy tìm số
gạo của bao thứ hai ta phải làm như thế nào?
Học sinh
Bao thứ hai đựng số gạo là :
thành suy đoán, lựa chọn cách giải đúng.
Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đầu bài.
Túm tắt:
Lớp 2A có
: 37 học sinh
Nữ
: 18 học sinh
Nam
: … học sinh?
Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác.
Giải
Số học sinh nam lớp 2A có là:
37 – 18 = 19 (học sinh)
Đáp số : 19 học sinh
18
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
Biện pháp 5: Tìm nhiều cách đặt lời giải để phát huy tính tíchcực của
học sinh.
Bước này đối với học sinh chưa hoàn thành giải toán là khó khăn. Song
người giáo viên phải hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh thể hiện được khả năng
giải toán của mình là cần thiết.
Có em sẽ giải như sau :
Giải cách 2
Số bông hoa Hoa cắt được là:
46 – 9 = 37 ( bông hoa)
Đáp số: 37 bông hoa
Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra hai lời giải này cũng là tìm
số bông hoa của Hoa cắt. Do các em có nhìn vào sơ đồ thì vẫn là tìm số bông
hoa của Hoa cắt: Tôi cho học sinh nhận xét.
19
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
Các em phải chú ý tên đơn vị của mỗi phép tính. Từ đó học sinh tìm được
cách giải toán triệt để bằng nhiều cách đặt lời giải khác nhau. Học sinh nắm chắc
đề toán, hiểu kỹ đề, để tìm cách giải khác có lời văn chính xác, phát triển tư duy
toàn diện.
Biện pháp 6: Kết hợp giải toán và rèn luyện kỹ năng tính toán giúp học
sinh giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán.
Vì có những em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả
bài toán sai. Vậy tôi phải nhắc nhở học sinh khi làm bài phải tính toán chính
xác, trình bày khoa học rõ ràng. Nếu là phép + - trong bảng học thuộc để vận
dụng nhanh. Nếu là các phép + - ngoài bảng các em phải đặt tính cột dọc.
Làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả, đúng mới viết vào bài làm. Cần rèn
luyện kỹ năng tính nhẩm, tính viết thành thạo cho học sinh trong quá trình giải
toán, để hoàn thiện bài giải.
Biện pháp 7: Nhận xét đánh giá kịp thời để uốn nắn, khắc sâu kiến thức
cho học sinh.
Bậc tiểu học có đặc điểm riêng về tâm sinh lý lứa tuổi nờn việc nhận xột
Với cách làm như vậy lỗi sai không bị kéo dài, mà học sinh có thói quen
làm toán đúng, chủ động giải. Tôi cố gắng chữa triệt để những lỗi sai bằng cách:
+ Học sinh chữa lỗi sai nhỏ như : Tên đơn vị, kết quả ... vào ngay trong
vở. Sau đó tôi kiểm tra nhận xét sửa sai, nhận xét phần chữa của học sinh, học
sinh phải tự làm bài đó một lần nữa để khắc sâu bài học. Có những học sinh
chữa tới hai lần mới đúng cũng được tôi kiểm tra triệt để, cuối cùng phải chữa
đúng mới thôi.
+ Tôi rất chú ý coi trọng tới việc chữa bài của học sinh. Khi học sinh chữa
bài, tôi yêu cầu học sinh ngoài việc chữa đúng cũn phải trình bày lưu loát, sạch
đẹp, rõ ràng hơn. Do đó mà học sinh chữa bài rất thận trọng, chính điều này giúp
học sinh nhớ rất kỹ bài giải, lần sau gặp dạng toán khó học sinh rất ít sai sót.
V. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trong quá trình giải toán giáo viên phải có hệ thống câu hỏi phù hợp với từng
đối tượng học sinh thông qua một số hệ thống câu hỏi phù hợp, cho học sinh có
ý kiến xây dựng trong giờ học, phát hiện ra kiến thức cũ và kiến thức mới. Trong
21
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
tiết toán nên sử dụng nhiều hình thức luyện tập, lời giải rõ ràng tránh ghi lại câu
hỏi của đề toán.
Trong quá trình giảng dạy toán ở lớp 2 một lớp có 100% học sinh là học sinh dân
tộc, Tiếng việt học yếu dẫn đến lời giải toán cũng lủng củng, biết đặt tính mà
không biết ghi lời giải. Trong một tiết học giáo viên đã sử dụng thay đổi nhiều
hình thức luyện tập sao cho phù hợp, bên cạnh đó tôi kết hợp chặt chẽ 3 môi
T.số
T.L%
T.số
T.L%
Đạt
Cỏc phẩm chất
Chưa đạt
Đạt
Chưa đạt
T.số T.L% T.số T.L% T.số T.L% T.số T.L%
2E
8
8
100%
0
10
100%
0
0
10
100%
0
0
2H
10
9
90%
1
10%
9
học vào việc làm các bài tập liên hệ với thực tiễn. Vì vậy, môn học này có vai trò
vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông. Cho nên tôi đã vận dụng
những phương pháp này nhằm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 2
như sau:
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong PPDH vấn đáp kết hợp với một số
PPDH khác trong hình thành tri thức mới.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong phương pháp phát hiện và giải
quyết vấn đề trong giải toán cú lời văn.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy giải toán có lời văn để tổ chức
hoạt động dạy học nhẳm phát huy tính chủ động sáng tạo, hợp tác của học sinh.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong việc giải các bài toán có tính chất
chuẩn bị cơ sở việc giải loại toán sắp học.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong việc giải các bài toán phát huy
tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
- Khi dạy thực hành luyện tập Giáo viên cần lưu ý giúp mọi học sinh đều
tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình.
23
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
Qua những phương pháp trên, tôi thấy các em đã có hứng thú học tập và vận
dụng vào làm bài tập tương đối tốt. Mặc dù chưa được hoàn thiện, nhưng cũng
chứng tỏ trong các môn học, môn Toán cần có sự đổi mới về phương pháp dạy
học, giúp học sinh phát huy cao tính tích cực trong học tập.
2.
Tác dụng của đề tài:
- Sau khi học sinh đọc và tìm hiểu kỹ đề bài xong giáo viên xem xét và
uốn nắn học sinh khắc phục những gì còn sai xót.
- Giáo viên cho học sinh nhìn sơ đồ, tóm tắt và đọc lại đề toán rồi tiến
hành lập kế hoạch giải.
Bậc Tiểu học là bậc đầu tiên và được xác định là : “ Bậc học nền tảng
của hệ thống giáo dục quốc dân…”
Bậc Tiểu học cũng được coi là bậc khó nhất. Vì trong sự nghiệp đổi mới
giáo dục và đào tạo đòi hỏi người giáo viên phải năng động, tìm tòi những biện
pháp tốt nhất để đạt được hiệu quả cao trong giáo dục.
Để đảm bảo được mục tiêu của quá trình dạy học nói chung và quá trình
dạy giải toán có lời văn của lớp 2 nói riêng. Đòi hỏi mỗi giáo viên phải luôn học
hỏi, trau dồi kinh nghiệm; có kế hoạch cụ thể khoa học sáng tạo trong chuyên
môn cũng như trong mọi lĩnh vực. Người giáo viên phải có tâm huyết với nghề,
co tinh thần trách nhiệm cao trong giảng dạy, coi trọng yếu tố khuyến khích học
sinh, khơi dậy tính tò mò của các em để các em có cách suy luận, cách giải toán
hay. Đó cũng là yếu tố góp phần làm tăng lòng say mê trong học tập.
Qua thực tế và quá trình nghiên cứu tôi thấy:
- Quá trình giải toán là quá trình rất quan trọng, nó góp phần đảm bảo
mục tiêu và nhiện vụ của quá trình dạy học.
- Để học sinh học tốt nội dung giải toán trước hết phải tạo cho học sinh có
thói quên thực hiện đúng theo quá trình giải toán 4 bước:
+ Đọc tìm hiểu kỹ đề bài.
+ Lập kế hoạch giải .
+ Thực hiện kế hoạch giải.
+ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
- Giúp học sinh chủ động sáng tạo, tích cực trong quá trình giải toán. Phát
hiện tìm ra các sai lầm, khó khăn của học sinh trong quá trình giải toán.
25