Phương pháp kể chuyện về bài tập vận động trong giáo dục thể chất cho trẻ 4 5 tuổi - Pdf 32

Lời cảm ơn

Khoá luận tốt nghiệp "Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận
động trong giáo dục thể chất cho trẻ 4 - 5 tuổi đã đợc hoàn thành với
sự giúp đỡ nhiệt tình của các trờng mầm non, của các thầy, cô giáo
trong khoa Giáo dục tiểu học, và đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Mỹ
Trinh.
Tôi xin chân thành cảm ơn trờng mầm non Trờng Thi và một
số giáo viên ở các trờng mầm non khác đã giúp tôi hoàn thành khoá
luận. Cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, đặc
biệt, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Mỹ Trinh - ngời
đã tận tuỵ giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này đảm bảo chất lợng và
đúng thời hạn. "Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động cho trẻ 4 5 tuổi" là một đề tài mới và khó, nên tôi gặp không ít khó khăn. Do
đó, khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong đợc các thầy cô giáo cũng nh quý độc giả đóng góp ý kiến.
Xin chân thành cảm ơn.

Vinh, tháng 5/2003


2

Phần mở đầu
1-Lý do chọn đề tài.
Chúng ta đang sống trong một thời đại văn minh với nhiều thành tựu
khoa học tiến bộ. Xã hội hiện nay đòi hỏi rất nhiều ở con ngời mới - con
ngời phát triển toàn diện về mọi mặt: Đức - Trí - Thể - Mĩ đủ khả năng đ a
đất nớc mình "tiến lên sánh vai với các cờng quốc năm châu" nh Bác Hồ
hằng mong muốn.
Để đào tạo đợc những con ngời nh vậy chúng ta phải bắt đầu ngay từ
lứa tuổi mầm non. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy, giáo
dục trẻ ngay từ buổi bình minh của cuộc đời sẽ có hiệu quả cao. Đúng nh

đối. Nếu không quan tâm giáo dục thể chất đúng đắn thì gây nên những
thiếu sót trong sự phát triển cơ thể của trẻ em về sau không thể khắc phục
đợc. Cuối cùng, sự phát triển thể chất cho trẻ có ảnh hởng đến sự phát triển
tâm lý, sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ. Có thể nói, sự thành công
trong bất cứ hoạt động nào của trẻ (đặc biệt là trớc 6 tuổi) đều phụ thuộc
vào trạng thái sức khoẻ của nó.
Trẻ 4 - 5 tuổi cũng không nằm ngoài quy luật đó, chúng phải đợc
chuẩn bị về mọi mặt: tâm thế, kiến thức và điều quan trọng là về sức khoẻ.
Trẻ phải khoẻ mạnh thì chúng mới tự tin vào chính mình, mới có thể tham
gia vào mọi hoạt động của trờng, của lớp nh vui chơi, học tập Song, việc
giáo dục thể chất cho trẻ 4 - 5 tuổi nh thế nào để đem lại hiệu quả cao đang
là vấn đề quan tâm của các trờng mầm non hiện nay. Theo tài liệu nghiên
cứu, để giáo dục thể chất có hiệu quả giáo viên phải biết áp dụng đồng bộ,
linh hoạt nhiều phơng pháp, biện pháp trong đó không thể không nhắc đến
phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động (trong nhóm phơng pháp dùng
lời). Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động không những giúp cho giáo
viên dễ dàng thực hiện nhiệm vụ của mình mà quan trọng hơn là tính tích
cực hoá hoạt động của trẻ. Trẻ mẫu giáo rất thích đợc nghe ngời lớn (giáo
viên) kể chuyện. Khi nghe kể chuyện về bài tập vận động, trẻ, không những
rất thích thú mà còn muốn tham gia hoạt động (làm) giống nhân vật trong


4

chuyện kể. Chính vì vậy, tiết học thể chất trở nên nhẹ nhàng hơn, sôi nổi
hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, khi dạy những vận động cơ bản khó
giáo viên có thể lồng vào một câu chuyện và nhấn mạnh bằng cách kể chuyện
về hậu quả của bài tập vận động đó nếu trẻ thực hiện không đúng yêu cầu kỹ
thuật Nh vậy, trẻ sẽ hứng thú và tập trung chú ý hơn.
Nhng hiện nay ở các trờng mầm non việc sử dụng phơng pháp kể

6- Phạm vi nghiên cứu:
Trong khoá luận này chúng tôi chỉ xây dựng và thử nghiệm các giáo
án tiết thể dục có sử dụng linh hoạt phơng pháp kể chuyện về bài tập vận
động dới hình thức theo chủ đề, chủ diểm.
7- Nhiệm vụ nghiên cứu:
7.1. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Khảo sát thực trạng sử dụng phơng pháp kể chuyện về bài tập vận
động cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
7.3. Xây dựng các giáo án dạy thể dục cho trẻ mẫu giáo nhỡ (có áp
dụng linh hoạt phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động) và tiến hành thử
nghiệm chúng.
7.4. Kết luận và đề xuất khoa học .
8- Phơng pháp nghiên cứu:
8.1. Nghiên cứu tài liệu lý luận.
Mục đích: Làm rõ vai trò, vị trí, ý nghĩa, của phơng pháp kể chuyện
về bài tập vận động đối với sự phát triển của trẻ mầm non.
8.2. Khảo sát bằng bảng hỏi.
Mục đích: Khảo sát việc sử dụng phơng pháp kể chuyện về bài tập
vận động cho trẻ mẫu giáo nhỡ ở các trờng mầm non.
8.3. Phỏng vấn sâu một số giáo viên dạy ở các lớp mẫu giáo nhỡ.
Mục đích: Tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về phơng pháp
kể chuyện về bài tập vận động và việc sử dụng chúng trong giáo dục thể
chất cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
8.4. Quan sát các tiết dạy thể dục cho trẻ mẫu giáo nhỡ ở các trờng
mầm non, tìm hiểu các giáo án dạy thể dục của giáo viên ở các lớp mẫu
giáo nhỡ tại các trờng mầm non.


6


nay không hoặc rất ít đề cập đến phơng pháp này cả về mặt khái niệm cũng
nh hớng dẫn cách sử dụng trong GDTC cho trẻ MN, mặc dù ý nghĩa của nó
trong tài liệu này hay tài liệu khác đều ít nhiều đề cập đến. Trong "Vun
trồng thể lực cho đàn em nhỏ" PGS.TS Đào Duy Th nhấn mạnh " khi hớng dẫn trò chơi, bài tập thể dục trên theo hình thức kể chuyện qua các hình
tợng con vật trong đời sống, hình ảnh lao động và sinh hoạt của con ngời sẽ
làm cho các em say sa và hình dung dễ dàng động tác hơn" (1994 tr 97).
Hay trong "Thể dục và phơng pháp giáo dục thể chất cho trẻ" Đặng Đức
Thao và Trần Tiên Tiến cũng khuyến khích. "trong quá trình luyện tập có
thể dùng thơ, ca, câu chuyện để gây hứng thú cho trẻ, dẫn dắt trẻ mô phỏng,
bắt chớc các hành động, động tác theo ý đồ của giáo viên" (1998).
Trong các tài liệu nớc ngoài (đặc biệt là Liên Xô cũ) có nhiều tác giả
đề cập đến PPKCVBTVĐ, tuy vậy mức độ còn hạn chế, cha đủ để ngời đọc
nhận thức sâu sắc và sử dụng linh hoạt phơng pháp này. Ví dụ: Trong giáo
trình giảng dạy Đại học "Lý luận và phơng pháp giáo dục thể chất cho trẻ
MN" (1985) A.V.Kenheman và Đ.V.Khukhlaieva coi " PPKCVBTVĐ t ơng tự nh việc sử dụng một câu chuyện cổ tích ngắn (1,5 - 2 phút) nhằm
khơi gợi ở trẻ sự tởng tợng tái tạo, phát triển khả năng quan sát tất cả các b-


8
ớc của vận động và các tình huống của hành động chơi, kích thích sự tích
cực vận động của trẻ. Thay vào chỗ giải thích đơn điệu về trò chơi, phân vai
chơi, luật chơi (hay bài tập vận động) giáo viên có thể trình bày nội dung và
luật chơi bằng một câu chuyện kể ngắn gọn". Rõ ràng, cách trình bày nh
thế cha đủ để ngời đọc hiểu thế nào PPKCVBTVĐ và vì thế hạn chế khả
năng sử dụng phơng pháp này vào thực tiễn giáo dục MN.
Tóm lại: Các tác giả trong và ngoài nớc cha thực sự quan tâm đến
PPKCVBTVĐ trong giáo dục thể chất cho trẻ MN
2- Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển trẻ em.
2.1- Khái niệm và chức năng của ngôn ngữ.
+ Khái niệm về ngôn ngữ:

hiện tợng riêng lẻ mà chỉ một lớp, một loại (một phạm trù ) các sự vật, hiện
tợng có cùng thuộc tính bản chất. Chính nhờ vậy nó là phơng tiện đắc lực
của hoạt động trí tuệ (tri giác; trí nhớ; t duy.) Hoạt động trí tuệ bao giờ
cũng có tính khái quát và không thể tự diễn ra mà phải dùng ngôn ngữ làm
phơng tiện, công cụ để cố định lại kết quả của hoạt động này.
Chức năng khái quát hoá của ngôn ngữ còn gọi là chức năng nhận
thức hay chức năng hoạt động trí tụê [1]
2.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển trẻ em.
2.2.1- Khái niệm về sự phát triển và sự phát triển thể lực ở trẻ em:
Theo quan điểm triết học sự phát triển là quá trình biến đổi sự vật,
hiện tợng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tích luỹ
dần về lợng dẫn tới sự thay đổi về chất ở sự vật, hiện tợng, là quá trình đấu
tranh giải quyết những mâu thuẫn bản chất bên trong sự vật hiện tợng.
Theo các nhà giáo dục học phát triển là quá trình trong đó có sự hình
thành, hoàn thiện, đa dạng hoá, phức tạp hoá các chức năng của con ngời và
sự phát triển mang tính tổng thể. Hai quá trình giáo dục và phát triển khác


10
biệt nhau nhng phụ thuộc vào nhau, diễn ra trong suốt quá trình liên tục
phản ứng và thích ứng với những điều kiện bẩm sinh và môi trờng xã hội
bao quanh [2].
+ Khái niệm về sự phát triển thể lực ở trẻ em.
Phát triển thể lực là quá trình biến đổi hình thức và chức năng của cơ
thể con ngời dới ảnh hởng của giáo dục và điều kiện sống (nếu xem xét ở
một khía cạnh nào đó thì sự phát triển thể lực còn bị ảnh hởng bởi những
yếu tố di truyền.)
Phát triển thể lực đợc hiểu theo hai nghĩa.
-Theo nghĩa rộng:
Phát triển thể lực là quá trình phát triển các tố chất thể lực, tố chất vận

muốn biết về quá khứ, về tơng lai, trẻ muốn biết về công việc và quan hệ
của ngời lớn trong xã hội. Để đáp ứng đợc nhu cầu nhận thức ngày càng
tăng của trẻ, ngời lớn cần phải tổ chức, hớng dẫn cho trẻ tham gia nhiều
hoạt động đa dạng và phong phú. Khi đó ngôn ngữ là công cụ không thể
thiếu đợc để nhận thức thế giới xung quanh.
Khi có vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ sử dụng ngôn ngữ nh phơng tiện
hữu hiệu để phát triển nhận thức của mình. Trẻ có thể dùng lời để diễn đạt
những suy nghĩ, những xúc cảm của mình cho ngời khác hiểu, đồng thời trẻ
hiểu đợc nhũng lời chỉ dẫn của ngời lớn. Có thể nói, khi đó các hoạt động
nhận thức của trẻ đợc tăng cờng, hoạt động và giao tiếp đợc tích cực hơn.
Nhờ đó sự hiểu biết của trẻ càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.


12
Kết luận: Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát
triển nhận thức của trẻ.
* Ngôn ngữ đối với việc giáo dục tình cảm cho trẻ mầm non.
Phát triển và hoàn thiện dần ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non
không những có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nhận thức mà còn có
tác dụng quan trọng trong giáo dục tình cảm ở lứa tuổi này- lứa tuổi bắt đầu
tìm hiểu và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo
đức xã hội. ở lứa tuổi mầm non việc giáo dục tình cảm đạo đức là rất quan
trọng. Trẻ cha hiểu nhiều về cuộc sống, về con ngời cũng nh thế giới xung
quanh, giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ ở lứa tuổi này có ảnh hởng rất lớn
đến sự phát triển đời sống tình cảm mai sau của chúng.
Đối với trẻ mầm non (với hình thức t duy trực quan - hành động là
chủ đạo), ngời lớn cần phải thông qua sự việc, hoàn cảnh và con ngời cụ thể
để tác động vào suy nghĩ, vào tình cảm, hình thành thái độ đúng đắn ở các
em, qua đó giúp các em lĩnh hội đợc những quy tắc đạo đức, những chuẩn
mực hành vi của xã hội. Vì thế, đối với trẻ mầm non ngời ta thờng giáo dục

đỡ của ngời lớn. Ngời lớn dùng lời ngôn ngữ hớng dẫn trẻ làm và động viên
trẻ thực hiện thành công hành động của mình. Qua đó phát triển ở trẻ tính
mục đích, tính chủ động, sự kiên trì, bền bỉ vợt qua khó khăn, biến những
hành động cha ý chí thành hành động ý chí ở chúng.
Các hành động ý chí của trẻ mầm non hình thành ngày một nhiều dới
tác động của giáo dục và môi trờng sống nh các hành động thực hiện các
yêu cầu của giáo viên, các hoạt động chơi
Để thấy rõ hơn vai trò của ngôn ngữ đối với hành động của trẻ mầm
non, chúng ta xem xét ba giai đoạn cơ bản của một hành động ý chí điển
hình:
- Giai đoạn chuẩn bị: Giai đoạn này gồm các khâu:


14
+ Xác định mục đích, hình thành động cơ, trong giai đoạn này sự đấu
tranh động cơ để chọn lấy một mục đích, một động cơ nổi bật. Việc đấu
tranh động cơ còn diễn ra suốt quá trình hành động.
+ Lập kế hoạch hành động
+ Chọn phơng tiện và phơng pháp hành động
+ Quyết định hành động.
ở giai đoạn này sự có mặt của ngôn ngữ (bên trong và bên ngoài)sẽ
giúp cho các quá trình t duy và hành động diễn ra một cách thuận lợi. Chính
vì vậy, ngôn ngữ giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn này.
- Giai đoạn thực hiện:
Việc chuyển từ quyết định hành động đến hành động là sự thay đổi
về chất vì đó là sự chuyển biến nguyện vọng thành hiện thực. Sự thực hiện
quyết định có thể diễn ra dới hai hình thức
+ Thực hiện hành động bên ngoài
+ Hành động ý chí bên trong (hay kìm hãm các hành động bên
ngoài)

góp phần làm cho cơ thể trẻ phát triển toàn diện, đặc biệt trong giờ học thể
dục, các vận động cơ bản và các trò chơi vận động... Ngoài ra, chế độ dinh
dỡng, vệ sinh và các yếu tố thiên nhiên cũng góp phần quan trọng trong sự
phát triển thể lực của trẻ. Ngời lớn cần dùng ngôn ngữ để động viên, kích
thích trẻ thực hiện tốt chế độ vệ sinh, dinh dỡng hợp lý, hớng dẫn trẻ luyện
tập với các yếu tố thiên nhiên để và tẩy rửa các vết bẩn tăng cờng sức đề
kháng nhằm phát triển cơ thể một một cách rắn chắc và khoẻ mạnh.
* Chúng ta có thể thấy rõ hơn điều đó khi xem xét vai trò của ngôn ngữ đối
với sự hình thành kỹ năng- kỹ xảo vận động - một trong những nhiệm vụ cơ
bản trong giáo dục thể chất cho trẻ mầm non.


16
Hình thành kỹ xảo vận động là quá trình hình thành nhiều động hình,
động lực trong sự tác động qua lại của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai.
Trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai giữ vai trò chủ đạo. Cụ thể:
Quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động của trẻ trải qua ba
giai đoạn. Giai đoạn 1: Hình thành kỹ năng vận động; Giai đoạn 2: Học sâu
từng phần của bài tập vận động, giai đoạn 3 củng cố và hoàn thiện kỹ năng
vận động hình thành kỹ xảo vận động
Trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cho trẻ mẫu
giáo ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng. Tuy ngôn ngữ không trực tiếp
tham gia vào quá trình vận động của trẻ nhng nó lại là yếu tố không thể
thiếu đợc trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động của trẻ.
Ngôn ngữ giúp trẻ hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về ý nghĩa của việc thực hiện
các vận động đó, về cách tiến hành vận động (kỹ thuật thực hiện vận động).
Giai đoạn 1: Hình thành kỹ năng vận động ban đầu (tức là dạy cho trẻ làm
quen với các vận động mới). Để trẻ biết và nhớ đợc tên các bài tập vận động
không có cách nào khác là cô giáo phải nhắc tên các tài tập. Để trẻ thực
hiện đợc vận động đó và nắm đợc kỹ thuật của bài tập đó cô giáo cũng phải

3-Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động.
3.1-Bài tập vận động: khái niệm, bản chất, nội dung, hình thức, phân
loại.
3.1.1.Khái niệm:
Theo định nghĩa của A. B Kehemane và A.B Khukhlaieva [10].
Bài tập vận động là những cử động, thao tác vận động và cả những
dạng phức hợp của vận động (trò chơi vận động) đợc lựa chọn nh là phơng
tiện để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục thể chất.
Thuật ngữ "Bài tập" đợc sử dụng để chỉ sự lặp đi lặp lại của vận động.
3.1.2 Sự ra đời của các bài tập vận động.
Các bài tập vận động xuất hiện khi con ngời ý thức đợc sự cần thiết
của việc chuẩn bị thể lực cho cuộc sống và hoạt động lao động của mình (ví


18
dụ: Săn bắn, chế tạo công cụ, lao động ). Kinh nghiệm sống giúp họ nắm
bắt đợc mối quan hệ giữa kết quả của cuộc săn bắn với sự chuẩn bị thể lực
từ trớc cho các thợ săn, từ đó họ coi trọng hơn việc truyền thục cho thế hệ
sau những kinh nghiệm vận động đã tích luỹ đơc. Trong quá trình lặp đi lặp
lại nhiều lần các vận động đã phát triển kỹ năng ném trúng đích, mở rộng
tầm nhìn, tăng sức lực và phát triển những tố chất thể lực khác ở họ.
Tóm lại, bài tập vận động bắt đầu hình thành từ các vận động lao
động. Hoạt động chiến tranh, khoa học, nghệ thuật có ảnh hởng rất lớn đến
sự phát triển tiếp theo của bài tập vận động.
Tiếp theo ngời ta nắm bắt đợc mối quan hệ giữa các hình thức hành
động, lao động với các bài tập vận động, từ đó cho phép phân tích hoạt
động vận động phức hợp thành các bài tập vận động đơn lẻ (chạy, nhảy,
ném và sử dụng chúng vào mục đích giáo dục thể chất cho thế hệ sau).
Trong quá trình phát triển lý luận và thực tiễn giáo dục thể chất đã
hình thành những bài tập đặc biệt dành cho các nhóm cơ khác nhau và cả

một trong những vấn đề quan trọng của quá trình giáo dục thể chất.
3.1.4. Kỹ thuật của bài tập thể dục
Kỹ thuật của bài tập thể dục là cách thức thực hiện các bài tập thể
dục, nhờ đó nhiệm vụ vận động đợc giải quyết hợp lý và có hiệu quả nhất.
Kỹ thuật các bài tập thể dục không ngừng thay đổi và hoàn thiện. Sự hoàn
thiện kỹ thuật và thiết lập những hình thức mới của các bài tập thể dục
nhằm mục đích đạt kết quả cao, nâng cao sự chuẩn bị thể lực của ngời tập,
khám phá những quy luật sinh cơ học của vận động nhờ ứng dụng những
thiết bị thể dục, thể thao hoàn thiện hơn.
Kỹ thuật bài tập vận động bao gồm các khâu.
+ Nguyên lý kỹ thuật: là những thành tố chính của bài tập, cần thiết
dể giải quyết nhiệm vụ bài tập vận động. Nếu thiếu bất cứ một thành tố nào


20
của nguyên lý kỹ thuật thì bài tập đó không thể thực hiện đợc hoặc bài tập
sai. Ví dụ: Nhảy cao có đà: Các thành tố chính của bài tập là chạy (chân bớc tay vung) "bay" qua dây, "hạ" xuống mặt đất.
+ Khâu cơ bản của kỹ thuật: Là phần quan trọng và quyết định nhất
của cơ chế cơ bản của bài tập: Ví dụ trong nhảy cao có đà thì khâu cơ bản
của kỹ thuật là dậm nhảy kết hợp với chân đà lăng cao và nhanh ("bay" qua
dây). Khâu này thực hiện trong khoảng thời gian ngắn và đòi hỏi sự gắng
sức hơn của cơ bắp.
+ Các chi tiết kỹ thuật: là những đặc điểm thứ yếu của bài tập. Những
đặc điểm này có thể thay đổi mà không ảnh hởng đến cơ chế cơ bản của bài
tập (thờng là t thế cuối cùng của bài tập).
Chi tiết kỹ thuật của bài tập có thể khác nhau ở những trẻ khác nhau,
đa số các trờng hợp chúng phụ thuộc vào đặc điểm chức năng và thể hình
của cá nhân trẻ, vào điều kiện thực hiện bài tập vận động.
3.1.5. Phân loại bài tập vận động
Dựa trên những cơ sở sử dụng những phơng tiện và phơng pháp tiến

củng cố kỹ năng vận động và phát triển tố chất vận động trong điều kiện tự
nhiên (thiên nhiên). Ngời ta tổ chức cho trẻ nhỏ những cuộc dạo chơi kết
hợp sử dụng các bài tập vận động
Đối với mần non các bài tập thể dục và trò chơi vận động là những
bài tập vận động cơ bản [5].


22
3.2. Khái niệm, vị trí của phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động
3.2.1. Khái niệm: Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động cho 4- 5
tuổi là quá trình cô giáo sử dụng các câu chuyện có liên quan đến bài tập
vận động để kể cho các cháu nghe nhằm tăng sự hấp dẫn của giờ học hay
trò chơi vận động, làm chính xác hoá các động tác cơ bản, giúp trẻ tởng tợng tốt hơn tình huống chơi hay vận động, kích thích sự cố gắng thực hiện
động tác của trẻ.
Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động đựoc sử dụng dới ba hình
thức cơ bản:
a) Dạy các bài tập vận động cho trẻ dới hình thức tiết học theo chủ đề,
chủ điểm, có nghĩa là tiết học thể dục đợc xây dựng bằng một câu chuyện kể.
Xuyên suốt từ phần mở đầu, phần khởi động, trọng động và hồi tỉnh.
b) Dạy vận động cơ bản khó bằng cách lồng vào một câu chuyện hình thức này giúp trẻ thực hiện bài tập một cách dễ dàng, nắm bắt đợc
chính xác các kỹ thuật của bài tập. Hình thức này thờng áp dụng vào thời
gian ngoài tiết học
c) Sử dụng chuyện kể vào đầu tiết học hoặc trò chơi vận động để gây
hứng thú và kích thích sự tích cực hoạt động của trẻ.
3.2.2. Vị trí của phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động
Trong giáo dục thể chất mầm non ngời ta sử dụng nhiều phơng pháp
khác nhau, có thể chia thành 3 nhóm chính sau đây [5]:
a) Nhóm phơng pháp trực quan
Cơ sở của nhóm phơng pháp này là những càm giác, tri giác trực tiếp
của trẻ về bài tập vận động.

Phơng pháp chỉ dẫn bài tập vận động
Phơng pháp đàm thoại về bài tập vận động
Phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động
Nh vậy phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động nằm trong nhóm
phơng pháp dùng lời


24

3.3. Tính tự kỹ trung tâm ở trẻ 4 - 5 tuổi và vai trò của phơng pháp kể
chuyện về bài tập vận động trong giáo dục thể chất cho mầm non
3.3.1. Tính tự kỹ trung tâm ở trẻ 4 - 5 tuổi
Jean Pieget gọi là "egoxentrisme", tức là tự lấy mình làm trung tâm,
tức là luôn đứng vị trí của mình mà nhìn nhận sự vật, dù là sự vật tự nhiên,
ngời khác, hay bản thân. Từ đó cũng có thể dịch là tính tự kỷ trung tâm.
Chữ tự kỷ ở đây không mang tính đạo đức nh trong ích kỷ, vị kỷ, mà cần
hểu theo quan điểm lôgíc, hiểu về mặt nhận thức. Đây là một tình trạng bất
phân, hoá nhập bản thân vào sự vật, vào ngời khác, hoá nhập những thuộc
tính khách quan của sự vật với những cảm nghĩ chủ quan. Do tính tự kỷ ấy
trẻ em không nhận thức đợc cái chủ quan và cái khách quan, hiện thực chỉ
dàn trải trên một bình diện duy nhất. Vì thế trẻ em cho rằng sự vật cứ theo
những cảm nghĩ của mình mà chuyển biến. Hệ quả là chúng cho rằng sự vật
đều có ý đồ tình ý nh con ngời và còn cho rằng chúng đợc tạo ra do con ngời hay một đấng linh thiêng nào đó theo những ý đồ và kế hoạch nhất
định[11]. Trẻ em trớc 6 tuổi nói chung và 4 - 5 tuổi nói riêng khác với các
lứa tuổi khác đều tin vào những nhân vật trong truyện kể, đặc biệt là truyện
cổ tích. Vì thế trong giáo dục trẻ trớc 6 tuổi (Giáo dục gia đình và nhà trờng) đều sử dụng linh hoạt phơng pháp kể chuyện, và giáo dục thể chất cho
trẻ mầm non cũng không nằm ngoài quy luật đó.
3.3.2. Vai trò của phơng pháp kể chuyện về bài tập vận động trong giáo
dục thể chất cho trẻ mầm non.
Trong suy nghĩ của trẻ mầm non, kể chuyện mở ra một thế giới vô




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status