Nghiên cứu tính đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã môn sơn, vùng đệm vườn quốc gia pù mát nghệ an - Pdf 32

Mở ĐầU

Cuộc sống của con ngời liên quan mật thiết đến nguồn tài nguyên mà trái
đất cung cấp, đặc biệt là tài nguyên sinh học. Nhng với sự khai thác quá mức của
mình, loài ngời đã ngày càng làm cạn kiệt đi nguồn tài nguyên đó. Đó là nguồn
tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất mà không thể tái tạo đợc, nó là cơ sở của sự
sống còn, sự thịnh vợng và phát triển bền vững của loài ngời. Con ngời làm giảm
tính đa dạng sinh học dẫn đến làm mất cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều thảm
họa mà loài ngời phải gánh chịu nh lũ lụt, hạn hán, cháy rừng... Chính vì thế, việc
sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, bảo vệ các nguồn gen quý đã
trở thành một vấn đề cấp thiết không chỉ cho một quốc gia mà cho cả toàn cầu.
Nhận thức đợc vấn đề to lớn đó mà các quốc gia trên thế giới đã kí vào công ớc
bảo tồn đa dạng sinh học đợc thông qua tại Đại hội thợng đỉnh Rio de janeiro
(Braxin, 1992).
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong 12 trung tâm cây
trồng lớn của thế giới và là cái nôi của sự phát sinh thực vật hạt kín, do đó hệ
thực vật rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên do chiến tranh, nạn gia tăng dân số,
cùng với sự khai thác quá mức, đã dẫn đến việc suy giảm diện tích các khu rừng
một cách nhanh chóng, tính đa dạng sinh học ngày càng giảm. Do đó việc thành
lập các khu bảo tồn, vờn quốc gia để khoanh vùng bảo vệ là một đòi hỏi cấp bách
và tất yếu.
Pù Mát là một Vờn quốc gia mới đợc thành lập, nằm trong khu Đa dạng
sinh học bắc Trờng Sơn, là một trong những trung tâm sinh vật đa dạng nhất của
Việt Nam. Việc nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Pù Mát có một ý nghĩa rất
lớn, là cơ sở để đánh giá tài nguyên sinh học trong vùng, từ đó xây dựng các biện
pháp khoanh nuôi, bảo vệ thích ứng. Cho đến nay đã có một số công trình nghiên
cứu về hệ thực vật Pù Mát, tuy nhiên vẫn còn ít ỏi so với tiềm năng đa dạng sinh
học ở đây.

1


sự cam kết của các quốc gia trên toàn thế giới về bảo tồn đa dạng sinh học, đảm
bảo sự sử dụng hợp lí, bền vững nguồn tài nguyên sinh vật.
Thuật ngữ đa dạng sinh học là một thuật ngữ mới mẻ, nhng nội dung của nó
lại rộng lớn, có thể tóm tắt trong 3 nội dung cơ bản sau:
1- Đa dạng di truyền (đa dạng về gen ).
2- Đa dạng loài.
3- Đa dạng hệ sinh thái.
Những nghiên cứu riêng lẻ về các nội dung trên đã đợc tiến hành từ thế kỷ
XIX, XX, tuy nhiên những nghiên cứu đó không phải dựa trên quan điểm đa
dạng sinh học nh ngày nay. Ví dụ: Thống kê loài đã đạt đến trình độ cao, công
nghệ gen trong việc tạo giống cây trồng, vật nuôi, những quan niệm về quần lạc
sinh địa, hệ sinh thái ... Ngày nay những nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen, bảo
tồn loài hay hệ sinh thái đợc tiến hành trên cơ sở nhận thức bao trùm đó là bảo
tồn đa dạng sinh học. Chính vì vậy khi nghiên cứu đa dạng sinh học cũng cần
phải tiến hành nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên nó.
Trong phần tổng luận này chúng tôi chỉ đề cập đến những công trình
nghiên cứu về đa dạng thực vật ở mức độ loài và các quần xã thực vật.
1. 2. Nghiên cứu về đa dạng thực vật.

1. 2.1. Nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật.
3


1. 2.1.1. Trên thế giới.
Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ rất lâu, khởi đầu ở Ai
Cập khoảng hơn 3.000 năm trớc công nguyên khi con ngời biết sử dụng cây cỏ.
Tuy nhiên cũng nh khởi điểm của mọi quá trình nghiên cứu tự nhiên, quá trình
nghiên cứu sự sống cũng đợc bắt đầu từ quan sát, mô tả. Sự phát triển của quan
sát dẫn tới nhu cầu sắp xếp, phân loại các sự kiện đã thu đợc, vì vậy sinh học bắt
đầu bằng phân loại học. Trong các sách phân loại sớm nhất là sách thuốc và sách

vật đã đợc mô tả và đặt tên. Cho đến nay ở vùng nhiệt đới đã xác định đợc
khoảng 90.000 loài, trong lúc đó vùng ôn đới Bắc Mỹ và Âu - á đã có 50.000 loài
đợc xác định (Theo [58]).
1. 2.1.2. ở Việt Nam.
So với các nớc khác, quá trình nghiên cứu thực vật ở Việt Nam xuất hiện
chậm hơn. Thời gian đầu chủ yếu là sự thống kê của các danh y về những loài
cây dùng làm thuốc chữa bệnh. Trong đó đặc biệt là Tuệ Tĩnh (1417 ), ông đã mô
tả đợc 759 loài cây làm thuốc trong bộ Nam dợc thần hiệu gồm 11 quyển, Lê
Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ đã chia thực vật làm nhiều loài: Cây cho hoa
quả, ngũ cốc, rau, mộc, thảo, cây mọc theo mùa khác nhau (Theo [54],[65]).
Nguyễn Trữ (đời nhà Lê ) trong tác phẩm Việt Nam thực học cũng đã mô
tả đợc nhiều loài cây trồng. Lý Thời Chân (1595) xuất bản Bản thảo cơng mục
đề cập đến trên 1.000 vị thuốc thảo mộc (Theo [54]).
Trong thời kỳ Pháp thuộc, tài nguyên thực vật còn đa dạng phong phú của
hệ thống rừng rậm nhiệt đới Việt Nam đã thu hút rất nhiều công trình nghiên cứu
của các tác giả nớc ngoài. Điển hình có Loureiro (1790 ) trong Thực vật Nam
Bộ mô tả đợc gần 700 loài cây, Pierre (1879 ) trong Thực vật rừng Nam Bộ đã
mô tả khoảng 800 loài cây gỗ (Theo [54]).
Trong một
m công trình lớn nhất về quy mô cũng nh giá trị là công trình
nghiên cứu Thực vật chí Đại cơng Đông Dơng của các tác giả ngời Pháp do
H.Lecomte chủ biên ( 1907-1943 ) bao gồm 7 tập đã thống kê và mô tả đợc hơn
7.000 loài thực vật có mặt ở Đông Dơng. Tiếp đó Humber H. (1960-1997 ) và
cộng sự bổ sung thêm cho hệ thực vật Đông Dơng, xuất bản 29 tập Thực vật chí
Lào, Cămpuchia, Việt Nam. Năm 1965, Pocs Tamas tuy không nghiên cứu hệ
thực vật Miền Bắc, nhng dựa trên bộ Thực vật chí Đông Dơng đã thống kê đợc
5.190 loài ở hệ thực vật Miền Bắc Việt Nam, đồng thời ông còn đi sâu vào nghiên cứu
cấu trúc hệ thống cũng nh dạng sống và các yếu tố địa lý của khu hệ này (Theo [10]).
5


(1996) công bố 1.750 loài thuộc 680 chi và 210 họ; kết quả nghiên cứu tính đa
dạng hệ thực vật Mỏ vàng Bồng Miêu-Đà Nẵng với 417 loài thuộc 297 chi và 116
họ; hệ thực vật khu bảo tồn Na Hang 680 loài, 236 chi và 117 họ; hệ thực vật núi
đá vôi Hòa Bình với 1.251 loài thuộc 604 chi và 152 họ, hệ thực vật Vờn quốc gia
Pù Mát với 1.144 loài thuộc 545 chi và 159 họ,...
Dựa trên cơ sở những công trình nghiên cứu trong nớc và trên thế giới đã
công bố gần đây, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt
Nam bao gồm 11.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi của 378 họ trong đó
7


có 10.580 thực vật bậc cao có mạch. Đồng thời ông cũng đánh giá và phân tích
đa dạng thực vật trên nhiều phơng diện khác nhau [58].
Đa dạng các taxon của các ngành thực vật bậc cao:
TT

Ngành

Loài

Chi

Họ

793

182

60


1

1

5

Polypodiophyta

669

137

25

6

Pinophyta

63

23

8

7

Magnoliophyta

9.812



11,9%

- Yếu tố Trung Quốc:

33,8%

- Yếu tố Xích Kim - Himalaya :

18,5%

8


- Yếu tố Malaysia và các nhiệt đới:

15,0%

- Yếu tố phân bố rộng và nhập nội:

20,8%

Mỗi hệ thực vật có sự khác biệt về số lợng, tỉ lệ % và nhất là đặc điểm của
các yếu tố địa lý.Trong các yếu tố địa lý thì yếu tố đặc hữu đợc đánh giá là quan
trọng nhất vì nó thể hiện tính độc đáo, riêng biệt, bản chất của mỗi hệ thực vật.
Tuy nhiên việc xác định các loài đặc hữu cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Theo T.Pocs, A.I.Tonmachôp và J.Schmithỹsen: ... Đặc hữu là những loài chỉ
phân bố ở một vùng (một miền , một địa phơng ...) duy nhất trên trái đất, không
thể phát hiện đợc bất kỳ nơi nào khác trên trái đất [87];[10].
Nh vậy theo cách hiểu này thì khi xác định tính đặc hữu chỉ cần quan tâm

9,33 %

+ Malaysia- Indonexia:

25,68 %

9


+ Các vùng nhiệt đới khác: 7,36 %
- Các yếu tố khác:

4,83 %

Năm 1978, Thái Văn Trừng căn cứ vào bảng thống kê các loài thực vật
Bắc-Việt Nam cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu. Nhng sau đó ông gộp loài đặc hữu và loài bản địa làm một, đã nâng loài đặc hữu bản
địa lên 50%, yếu tố di c từ Malaysia là 15%, từ Himalaya, Vân Nam, Quý Châu
là 10% và từ ấn Độ-Myanma là 14%.
Năm 1990, Lê Trần Chấn và cộng sự phân tích các yếu tố địa lý của hệ
thực vật Lâm Sơn và cũng đã lập phổ các yếu tố địa lý cho hệ thực vật này với
các yếu tố đặc hữu Việt Nam chiếm 13,16% [11],[79].
Khi nghiên cứu hệ thực vật Cúc Phơng, Nguyễn Bá Thụ (1995) cũng đã lập
phổ các yếu tố địa lý cho hệ thực vật này. Đặc biệt Nguyễn Nghĩa Thìn, Phùng
Ngọc Lan và cộng sự (1996) đã xếp 1.944 loài thực vật bậc cao Cúc Phơng vào 17
yếu tố địa lý [32], trong đó các yếu tố đặc hữu Việt Nam chiếm 17,48% gồm:
- Yếu tố đặc hữu Cúc Phơng:

0,15 %

- Yếu tố đặc hữu Bắc Bộ:

của các nhân tố sinh thái. Tuy nhiên việc nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật
cũng chỉ mới đợc nghiên cứu gần đây.
1. 2.3.1. Trên thế giới.
Mặc dù cho đến nay đã có rất nhiều cách phân loại dạng sống khác nhau,
nhng khi xây dựng phổ dạng sống của một hệ thực vật nào đó ngời ta vẫn thờng
sử dụng cách phân loại của Raunkiaer (1934) vì nó khoa học, đơn giản dễ sử
dụng [84]. Cơ sở để phân chia dạng sống của Raunkiaer là sự khác nhau về tính
thích nghi của thực vật trong thời gian bất lợi của năm. Từ tổ hợp các dấu hiệu
thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu làm biểu thị để phân loại, đó là vị trí
của chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm. Theo ông có 5 dạng sống
cơ bản :
1. Cây chồi trên đất

- Phanerophytes (Ph)

2. Cây chồi sát đất

- Chamaerophytes (Ch)

3. Cây chồi nửa ẩn

- Hemicryptophytes (He)

4. Cây chồi ẩn

- Cryptophytes (Cr)

5. Cây sống 1 năm

- Therophytes (Th).

- Đa dạng sinh học ở cấp độ sinh thái:
Vờn quốc gia Pù Mát có đặc điểm của một khu rừng thờng xanh rộng lớn,
đặc điểm này đợc phản ánh ở sự đa dạng của các quần xã động-thực vật đã đợc điều
tra ở đây. Khu rừng này trải dài từ rừng kín thờng xanh nhiệt đới đến rừng hỗn giao
và bao gồm cả các diện tích rừng lá kim quý hiếm trên độ cao 1.000m. Các thung
lũng rừng kín thờng xanh có lẽ là hệ sinh thái có ý nghĩa nhất trong Vờn quốc gia
Pù Mát và là điểm đợc u tiên lớn nhất đối với các nỗ lực bảo tồn [56].
Tuy nhiên hầu khắp Vờn quốc gia đã chịu những tác động rất lớn. Nhiều
vùng trớc đây đã hoàn toàn bị phát quang làm nơng rẫy nay đợc bỏ hóa và đang
phục hồi trở lại. Trong đó vùng dọc theo thung lũng khe Khặng thuộc các xã
Môn Sơn, Lục Dạ là một trong những vùng nh vậy. Những vùng này cần tránh bị
tác động nhằm phục hồi lại những khu rừng thành thục mà trớc đây từng tồn tại,
góp phần đáng kể vào hệ sinh thái của Vờn quốc gia.
Hệ thống sông suối cũng là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái Vờn
quốc gia Pù Mát, chúng đợc phân loại theo quy mô từ các con suối nhỏ đến các
13


con sông có thể qua lại bằng thuyền bè. Những thay đổi của môi trờng sống xung
quanh từ rừng thành thục đến đất trồng trọt có thể đã có những ảnh hởng xấu đến
các môi trờng sống gắn liền với các con sông trong Vờn quốc gia, tuy nhiên hệ
cá và một số loài thủy sản khác vẫn còn tính đa dạng cao.
Diện tích núi đá vôi rộng lớn trong vùng đệm của Vờn quốc gia tăng thêm
tầm quan trọng đa dạng sinh học nói chung của vùng. Xung quanh những khu
vực này diễn ra các hoạt động của con ngời và nhiều nơi bị ảnh hởng bởi các hoạt
động phát quang, đốt rừng làm nơng rẫy hay tác động vào các hang đá vì nhiều lí
do khác nhau.
- Đa dạng sinh học ở cấp độ loài:
Theo giả thuyết của các nhà khoa học thì Pù Mát có thể là nơi có những
quần thể của những loài đặc hữu lớn nhất Việt Nam. Mặt khác đây cũng là nơi

Luyện đã công bố 251 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 178 chi, 77 họ ở vùng
đệm Pù Mát, tác giả cũng đã đa ra một danh lục tập đoàn cây trồng của ngời Đan
Lai [37].
Năm 1999, Đặng Quang Châu và cộng sự với đề tài cấp bộ: Góp phần
nghiên cứu một số đặc trng cơ bản của hệ thực vật Pù Mát - Nghệ An thống kê
đợc 883 loài thực vật bậc cao thuộc 460 chi và 144 họ, tác giả cũng đa ra phổ
dạng sống của hệ thực vật Pù Mát, đồng thời bớc đầu đã có nhận xét về tính chất
và quy luật phân bố của thảm thực vật [9].
Năm 2000, Nguyễn Thị Hạnh trong công trình nghiên cứu cây thuốc của
đồng bào dân tộc Thái vùng tây nam Nghệ An, tác giả đã mô tả 544 loài thực vật
bậc cao làm thuốc thuộc 363 chi của 121 họ và đã công bố nhiều bài thuốc hay
của đồng bào dân tộc [20]. Cũng trong năm 2000, Phạm Hồng Ban đã công bố
586 loài thực vật bậc cao thuộc 334 chi và 105 họ ở vùng đệm Pù Mát - Nghệ An
trong công trình Nghiên cứu đa dạng thực vật sau nông nghiệp n ơng rẫy ở vùng
đệm Pù Mát - Nghệ An, ngoài sự đánh giá về đa dạng thành phần loài tác giả
còn đánh giá sự đa dạng của các quần xã thực vật và đã xác định đợc diễn thế của
thảm thực vật sau nơng rẫy tại khu vực nghiên cứu [4].
Năm 2001, trong công trình điều tra đa dạng sinh học ở Vờn quốc gia Pù
Mát rất quy mô của SFNC do cộng đồng Châu Âu tài trợ, Nguyễn Nghĩa Thìn và
cộng sự đã thống kê đợc 1.208 loài thực vật, trong đó có 1.144 loài thuộc 545 chi
15


của 159 họ đã đợc xác định và công bố. Đây đợc xem là danh lục thực vật đầy đủ
nhất từ trớc tới nay của Vờn quốc gia Pù Mát [56].
Theo hớng thực vật học dân tộc, năm 2001 Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn
Thị Hạnh, Ngô Trực Nhã đã công bố Cây thuốc của đồng bào Thái huyện Con
Cuông Nghệ An, trong đó các tác giả đã thống kê đợc 551 loài thuộc 364 chi,
120 họ thực vật chiếm 17,2% tổng số loài cây làm thuốc ở Việt Nam, hầu hết nguồn
tài nguyên tài nguyên quí giá này đều nằm trong Vờn quốc gia Pù Mát [61].

một khu vực bảo vệ rộng nhất và ít có sự tác động nhất còn tồn tại, tầm quan
trọng bảo tồn của nó đã đợc biết đến ngày một nhiều trong những năm gần đây
[56].
2.1.1. Vị trí địa lý.
Vờn quốc gia Pù Mát nằm ở 18 046-19012 vĩ độ bắc và 104 024-104056
độ kinh đông, thuộc vào địa giới hành chính của 3 huyện: Anh Sơn, Con
Cuông, Tơng Dơng tỉnh Nghệ An. Đờng ranh giới phía nam của Vờn quốc gia
Pù Mát chạy dọc theo đờng biên giới quốc tế Việt-Lào.
Vờn quốc gia Pù Mát đợc thành lập năm 2001 và đợc chia làm 2 vùng:
Vùng nghiêm ngặt (vùng lõi) 91.113 ha và vùng đệm 86.000 ha, Pù Mát là tên
gọi của đỉnh núi cao nhất ( 1.841m ).

17


18


19


Vùng đệm Vờn quốc gia nằm chủ yếu phía đông của Vờn quốc gia, phía
bắc giáp với thị trấn huyện Tơng Dơng, phía nam giáp với xã Phúc Sơn huyện
Anh Sơn, phía tây giáp với vùng nghiêm ngặt của Vờn quốc gia, phía đông giáp
sông Cả. Diện tích của vùng đệm thuộc địa giới hành chính của 3 huyện với Con
Cuông chiếm 48%, Tơng Dơng 31% và Anh Sơn 21%.
2.1.2. Địa chất, địa hình.
Vờn quốc gia Pù Mát nằm trên dải Trờng Sơn, độ cao từ 100-1.841m so với
mặt biển, trong đó 90% diện tích của Vờn quốc gia có độ cao dới 1.000m. Những
khu vực cao nhất nằm ở phần phía nam của Vờn quốc gia, nơi mà các đỉnh giông

Con Cuông thuộc vào vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh,
ma vào mùa hè, mùa nóng ẩm từ tháng 4-10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau. Vào mùa đông sơng mù khá phổ biến trong nhiều tháng ở nhiều vùng
thấp. Độ ẩm trung bình hàng năm là 86%.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,5 0C, nhiệt độ cao nhất từ trớc
đến nay là 42,60C và thấp nhất là 20C (Tính từ năm 1994-2001).
- Thuỷ văn:
Lợng ma trung bình hàng năm là 1.791mm, khoảng 40 ngày ma (209mm)
trong thời gian mùa khô (tháng 11-3) và khoảng 93 ngày ma (1059mm) vào mùa
ma (tháng 4-10) [56],[71].
Bảng sinh khí hậu huyện Con Cuông [71]
I

Ii

iii

Iv

V

Vi

Vii

Viii

Ix

X


18,1

23,5

R

35,6

34,4

43,6

92,0 171,4 163,2 158,2 268,2 386,0

300,
5

104,5

33,5

1791,1

t

6,8

6,1


85

81

81

78

84

87

88

88

87

86

S

2,8

2,3

2,9

4,6


- Gió và bão:
+ Gió mùa đông bắc thờng xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. +
Gió mùa nóng ẩm và gió Lào thờng xuất hiện từ tháng 5-11.
+ Bão thờng xuất hiện vào khoảng tháng 8-10 kèm theo áp thấp nhiệt đới,
kéo theo ma lũ gây ra nhiều đợt lũ lớn.
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội.

Vùng đệm Vờn quốc gia Pù Mát có một số tộc ngời thiểu số mà nổi trội là
ngời Thái, Khơ Mú, Đan Lai và một số lợng đáng kể ngời Kinh sinh sống. Năm
1999, có khoảng 50.000 ngời thuộc 5.000 hộ sống trong vùng đệm Vờn quốc gia
Pù Mát, phân bố trên 90 làng bản của 16 xã và một thị trấn tập trung ở 3 huyện
Anh Sơn, Con Cuông và Tơng Dơng.
Môn Sơn là một xã tơng đối lớn của huyện Con Cuông có 12 làng khoảng
6.000 dân, trong khi đó đại bộ phận các xã khác trung bình 3-5 làng bản. Đây là
xã có đất trồng lúa nhiều nhất, đợc xem là vựa lúa của huyện Con Cuông,
ngoài ra Môn Sơn còn đợc xem là cái nôi của phong trào cách mạng ở Con
Cuông với nhiều di tích lịch sử đợc công nhận. Hiện nay Môn Sơn là xã có số dân
sinh sống trong vùng đệm nhiều nhất, thậm chí cả trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt.
Nhìn chung kinh tế xã hội của Môn Sơn nói riêng và vùng đệm nói chung
chậm phát triển, sản xuất lơng thực không đủ ăn, mang tính chất tự cung tự cấp.
Tập quán chủ yếu là dựa vào canh tác nông nghiệp, canh tác nơng rẫy và hàng
ngày vào rừng khai thác lâm sản bán lấy tiền mua lơng thực.
Năm 1998, Nhà nớc chủ trơng giao đất lâm nghiệp cho ngời dân lâu dài từ
30-50 năm, biện pháp trên làm hạn chế tác động tiêu cực của ngời dân đối với
rừng. Tuy nhiên đời sống của con ngời nơi đây cũng không tăng lên là bao nhiêu,
ngời dân phải lo đối phó với lơng thực hàng ngày trong khi đó để có thu nhập từ
22


khoanh nuôi rừng thì phải có thời gian lâu dài và điều này lại làm tăng nguy cơ

- Tháng 11/2001: Thu mẫu thực vật đợt 1.
- Tháng 1/2002:

Thu mẫu thực vật đợt 2.

- Tháng 4-5/2002: Thu mẫu thực vật đợt 3.
- Tháng 7/2002:

Thu mẫu thực vật đợt 4.

Mỗi đợt thu mẫu kéo dài 7-10 ngày, sau mỗi đợt thu mẫu thì tiến hành xử
lí, phân tích và giám định ngay.
- Tháng 8-10/2002: Xử lí số liệu và viết luận văn.
- Tháng 10- 11/2002: Hoàn chỉnh luận văn và bảo vệ.
3.4. Phơng pháp nghiên cứu tính đa dạng thực vật.

3.4.1. Phơng pháp nghiên cứu đa dạng về thành phần loài.
Để nghiên cứu đa dạng về thành phần loài chúng tôi tiến hành những bớc
cụ thể nh sau:
3.4.1.1. Thu hái và xử lí mẫu vật.
- Đợc tiến hành theo hớng dẫn trong Phơng pháp nghiên cứu thực vật
của R.M.Klein, D.T.Klein (1979) [30] và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh
vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [58]. Chúng tôi tiến hành thu mẫu theo

24


phơng pháp mở rộng dần bán kính cho đến khi không gặp loài nào mới nữa thì
thôi.
3.4.1.2. Phơng pháp xác định tên cây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status