BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ NHƯ DUYẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ NHƯ DUYẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
Tác giả, học viên
HỒ NHƯ DUYẾN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCHTW
Ban chấp hành trung ương
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
HĐND
Hội đồng nhân dân
HĐGD
Hội đồng giáo dục
CLGD
Chất lượng giáo dục
Xã hội hóa giáo dục
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục có bản chất xã hội. Xã hội càng văn minh, giáo dục càng
phát triển. Trình độ phát triển của giáo dục đồng hành với việc bộc lộ ngày
càng rõ nét, cụ thể và đầy đủ bản chất xã hội của giáo dục. Chính từ bản
chất đó mà “xã hội hoá” đã trở thành cách làm giáo dục, con đường và định
hướng phát triển giáo dục của nhiều quốc gia.
Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong bối cảnh hội nhập với xu thế toàn cầu hóa, cùng với nền kinh tế tri
thức, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, tạo ra những thách thức, những
vận hội mới. Đảng và Nhà nước ta chọn giáo dục - đào tạo, khoa học - công
nghệ là “quốc sách hàng đầu”, phát huy yếu tố con người, coi con người là
“vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển”. Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992 đã ghi “Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu”. Và mục tiêu của giáo dục nước ta là “Đào tạo con
người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Trong thời đại hiện nay khi mà sự giàu mạnh và phát triển toàn diện
của một quốc gia không chỉ là tài nguyên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố ngày
càng trở nên quyết định chính là nguồn lực con người. Tiềm năng và sức
sáng tạo con người thông qua việc phát triển đúng định hướng và có hiệu
quả của sự nghiệp giáo dục, đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân
nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây
dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn ” [7].
Nhà nước phải chăm lo tốt nhất cho sự nghiệp giáo dục, vì thế, cùng
với việc đầu tư cơ sở vật chất mở mang trường lớp, xác định mục tiêu phát
triển, xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, chuẩn bị
đội ngũ giáo viên, sách giáo khoa, Nhà nước còn phải huy động mọi lực
9
lượng, mọi tiềm năng của xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục. Toàn
dân và toàn xã hội tự nguyện tham gia xây dựng trường lớp, tham gia chăm
sóc và giáo dục thế hệ trẻ với mọi khả năng của mình.
Từ khi có Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ, công tác
XHHGD tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng. Ngân sách Nhà nước
chi cho giáo dục hằng năm đều tăng. Bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước là
chính, Ngành GD-ĐT còn nhận được sự đầu tư, hỗ trợ về các mặt từ các tổ
chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước. Sự hỗ trợ
đó góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc xây dựng cơ sở vật chất trường,
lớp học, mua sắm các thiết bị hiện đại phục vụ đổi mới phương pháp dạy
và học, giúp đỡ những học sinh có hoàn cảnh khó khăn....
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện XHHGD đã bộc lộ những mặt
hạn chế, bất cập, Nhà nước chưa xây dựng được những chiến lược dài hạn
nhằm giải quyết những vấn đề cốt lõi, lâu dài và có sự đồng thuận của xã
hội về XHHGD. Cũng chính vì vậy, mặc dù các biện pháp huy động
XHHGD đa dạng, phong phú nhưng vẫn mang tính “tình thế”. Cho đến
nay, công tác XHHGD còn gặp khó khăn và vướng mắc một phần là do
chưa có một môi trường thể chế phù hợp và các biện pháp hỗ trợ để định
hướng, dẫn dắt và khuyến khích xã hội tham gia sâu rộng hơn nữa vào sự
nghiệp giáo dục.
Cùng với sự phát triển giáo dục của đất nước, giáo dục trung học phổ
Công tác xã hội hóa giáo dục THPT .
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục trung học phổ thông tại tỉnh
Bình Phước.
11
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực thi một hệ thống giải pháp có cơ sở khoa học
phù hợp với tình hình thực tế thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
trung học phổ thông tỉnh Bình Phước.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo
dục trung học phổ thông.
- Xây dựng cơ sở thực tiễn của giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo
dục trung học phổ thông tỉnh Bình Phước.
- Đề xuất các giải pháp phát triển xã hội hóa giáo dục trung học phổ
thông tỉnh Bình Phước.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận;
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về XHHGD; làm rõ
những nguyên tắc, nội dung của việc thực hiện XHHGD trong giai đoạn
hiện nay.
7.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã khảo sát toàn diện thực trạng XHHGD ở tỉnh Bình
Phước. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác
Trung Quốc đặc biệt quan tâm vấn đề lôi cuốn xã hội tham gia xây
dựng giáo dục. Tinh thần của họ là "Lấy ngân sách nhà nước là chính, là rất
quan trọng, đồng thời phải lôi cuốn xã hội, đoàn thể xã hội và cá nhân tham
gia phát triển giáo dục theo nguyên tắc tự nguyện, lượng theo sức mình để
quyên góp vốn, chung vốn làm giáo dục không thu thuế. Hoan nghênh sự
quyên góp, trợ giúp cho giáo dục của đồng bào Hương Cảng, Áo Môn, Đài
Loan và các nhân sỹ hữu nghị các đoàn thể có quốc tịch nước ngoài".
Nhật Bản đã bước vào giai đoạn đại chúng hóa giáo dục đại học với
tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học bậc cao vào các trường cao đẳng/ đại
học khoảng 60% (2007). Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế và những kết
quả tốt của học sinh Nhật Bản trong các kỳ đánh giá của khối OECD
(Organization for Economic Cooperration and Development) về chất lượng
giáo dục đã phần nào cho thấy tính đúng đắn và hiệu quả của các chính
sách phát triển giáo dục của Nhật Bản trong nhiều thập kỷ qua.
Xây dựng xã hội học tập, chuẩn bị một thế hệ trẻ phát triển toàn diện,
năng động, tự chủ, sáng tạo, đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội hiện
14
đại Nhật Bản trong nền kinh tế tri thức với quá trình toàn cầu hóa, nâng cao
khả năng cạnh tranh của Nhật Bản trong trường quốc tế.
Indonesia đặc biệt quan tâm đến giáo dục không chính quy và sự
tham gia của cộng đồng vào giáo dục. Phong trào xây dựng "Quỹ học tập"
phát triển rầm rộ nhằm hỗ trợ cho trẻ em và người lớn đi học. Ở các vùng
nông thôn, phụ nữ được vận động đi học với sự tham gia giảng dạy của các
lực lượng tôn giáo theo đạo Hồi.
Đức là một trong những nước phát triển hàng đầu Châu Âu. Theo
quan điểm của chính phủ Đức thì nhà nước thực hiện nhiệm vụ hiến định là
tạo điều kiện cho con em của mọi tầng lớp trong xã hội đều được đến
trường và những gì cản trở nó đều không phải XHHGD. Không được lợi
nhưng đều thể hiện cả xã hội chăm lo cho giáo dục.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Đất nước ta đang chuyển mình để bước sang một thời kì đổi mới tư
duy trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải phát triển
đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH. XHH GD đã được Đảng ta đặc biệt
quan tâm chỉ đạo, nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Quan niệm đa
dạng hoá, đa phương hoá trong công tác giáo dục vốn có được tiếp tục khơi
dậy và nâng cao lên một tầm mới.
Tư tưởng XHHGD đã được Đảng ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo,
nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII ngày 14/01/1993 đã xác định
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu và định hướng đường lối
XHHGD: “ Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp
nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà
nước”; “Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục: người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động
qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo; Nhà nước có chính sách bảo
đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học”.
16
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII ( năm 1997) yêu cầu cụ thể hơn
về chủ trương XHHGD: “ Cụ thể hóa và thể chế hoa chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa sự nghiệp GD &ĐT, trước hết là về
đầu tư phát triển và bảo đảm kinh phí hoạt động. Ngoài việc ngân sách
dành một tỉ lệ thích đáng cho sự nghiệp phát triển GD &ĐT, cần thu hút
thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành phần kinh tế, các giới
kinh doanh trong và ngoài nước đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả nguồn
đầu tư cho GD &ĐT. Những doanh nghiệp sử dụng người lao động được
đào tạo có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách GD &ĐT. Đổi mới chế độ học
động trong các lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa thể thao và môi
trường quy định: “Cơ sở thực hiện xã hội hóa được liên doanh, liên kết với
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phù hợp với chức năng nhiệm vụ
hoạt động nhằm huy động vốn, nhân lực và công nghệ, nâng cao chất lượng
dịch vụ”…
Chủ trương XHHGD được đề cập tại Hội nghị lần tư BCHTW khóa
VII và tiếp tục được khẳng định ở Hội nghị lần hai BCHTW khóa VIII và
trong Chiến lược phát triển Giáo dục 2000-2010, Đảng ta đã khẳng định: khoa
học và công nghệ cùng với GD&ĐT là quốc sách hàng đầu để phát triển
nguồn nhân lực nhằm đưa nước ta ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu, vươn lên
trình độ tiên tiến thế giới. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành
TW khoá VIII đã chính thức đề cập đến nội dung công tác XHHGD: “Nhà
nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục nhưng vấn đề quan trọng là phải quán
triệt sâu sắc và tiến hành tốt các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng,
phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội.
Phải coi đầu tư cho phát triển là một trong những hướng chính, tạo điều kiện
cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển KT-XH. Huy động
toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng
nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước"…
Trong lĩnh vực khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các tổ
chức đã có nhiều công trình nghiên cứu về XHHGD, tiêu biểu như:
18
Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục”
coi XHH là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách
mạng ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn khái niệm đó lại được phát triển thêm,
nội hàm phong phú hơn.
Tác giả Phạm Minh Hạc là người đã viết nhiều tài liệu về XHHGD:
Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” xuất bản năm 1997 ông đã
toàn xã hội cùng làm giáo dục, tất cả cho giáo dục (All for Education) và
giáo dục cho mọi người (Education for All)".
XHHGD vì vậy bao hàm cả XHH trách nhiệm, nghĩa vụ và cả XHH
quyền lợi của mọi người về giáo dục. "Mọi người cho giáo dục" và "Giáo
dục cho mọi người" là 2 vấn đề liên quan chặt chẽ và tác động qua lại với
nhau, là 2 đặc trưng của "Xã hội học tập". Muốn mọi người có trách nhiệm
đối với giáo dục thì giáo dục phải phục vụ cho tất cả mọi người. .
Bản chất của XHHGD được xác định trong nghị quyết TW4, khoá
VII (14/01/1993) là: "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục nhân dân dưới sự quản lý
của Nhà nước". Đây là quan niệm rất cơ bản và rõ ràng về đối tượng, nội
dung và cơ chế hoạt động của XHHGD. Quan niệm này đã khẳng định: lực
lượng tham gia XHHGD là toàn xã hội và mọi tầng lớp nhân dân, nội dung
XHHGD là mọi người cùng "làm" giáo dục, chứ không chỉ tham gia, hỗ trợ
cho giáo dục. Cơ chế hoạt động của XHHGD không tuỳ tiện mà dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành
Giáo dục.
Để có quan niệm đúng về XHHGD, cần quán triệt một số vấn đề sau:
- XHHGD không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của
Nhà nước. Trái lại XHHGD chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh
đạo trực tiếp và thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
21
- XHHGD không phải là một ý đồ chiến thuật, được vận dụng một
cách nhất thời, cho một giải pháp tình thế khi đất nước còn nghèo, điều
kiện đầu tư cho giáo dục còn quá eo hẹp mà XHHGD là một quan điểm chỉ
đạo của Đảng nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của
dân, do dân, vì dân.
1.3.1. Mục tiêu xã hội hoá giáo dục THPT
Dựa trên quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, công tác
XHHGD nhằm đến việc xây dựng một xã hội mà trong đó mọi người dân
đề được hưởng sự công bằng, bình đẳng, công khai, dân chủ thực sự trong
học tập, thông qua XHH để xây dựng một xã hội học tập suốt đời, một nền
giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân.
Các mục tiêu của công tác XHHGD ở nước ta được xác định:
- Huy động sự tham gia của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo
dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, làm cho mọi người, mọi tổ
chức đều được đóng góp để phát triển giáo dục cũng như được hưởng thụ
những thành quả giáo dục càng cao.
- Thống nhất nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức Đảng,
chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội, mọi cá nhân, tập thể,
cộng đồng về vị trí, vai trò quan trọng của XHHGD trong sự phát triển đất
nước, xác định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ học tập và
đóng góp sức người, sức của để phát triển sự nghiệp giáo dục.
- Tổ chức, phối hợp và quản lý tốt hơn các loại hình giáo dục chính
quy, không chính quy, công lập, ngoài công lập, các nguồn tài chính từ Nhà
nước và từ nhân dân để mở rộng hợp lý quy mô, nâng cao chất lượng và
hiểu quả giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH.
- Xây dựng và ban hành một hệ thống đầy đủ và đồng bộ các văn
bản pháp lý về XHHGD để các hoạt động này được tiến hành ổn định và
phát triển.
23
Trên cơ sở mục tiêu giáo dục đã đề ra, những nhiệm vụ chủ yếu của
công tác XHHGD là:
+ Phải huy động được nhiều nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực)
cho phát triển giáo dục.
trường, các cơ quan quản lý giáo dục và các tổ chức chính trị, kinh tế, xã
hội.
1.3.2.3. Huy động các lực lượng tham gia vào quá trình đa
dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình nhà trường
Các lực lượng xã hội và các cá nhân có thể tham gia trực tiếp vào
quá trình giáo dục bằng cách thành lập các cơ sở giáo dục thuộc các thành
phần kinh tế, tổ chức và cá nhân bên cạnh các cơ sở giáo dục của Nhà
nước. Các cơ sở giáo dục dân lập và tư thục này sẽ góp phần quan trọng
vào việc phát triển giáo dục, làm giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước, tạo
điều kiện cho giáo dục có thể phát triển mạnh mẽ hơn. Các lực lượng còn
có vai trò quan trọng trong việc mở các lớp xóa mù chữ; trung tâm giáo dục
thường xuyên; trẻ khuyết tật, trẻ lang thang đường phố… Đó là các hình
thức giáo dục mà nhà nước trong những điều kiện khó khăn về kinh tế hiện
nay chưa có khả năng đảm nhiệm hết.
1.3.2.4. Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục
Các lực lượng xã hội có thể đóng góp nhân lực, vật lực để xây dựng
trường lớp, tăng cường trang thiết bị dạy học cho nhà trường, giúp đỡ học
sinh nghèo, học sinh con em gia đình chính sách gặp khó khăn, khuyến
khích khen thưởng học sinh giỏi, phát hiện và bồi dưỡng tài năng, góp phần
chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đội ngũ giáo viên. Huy động các
nguồn lực cho giáo dục không chỉ là huy động tiền của mà còn tính đến
phạm vi rất rộng rãi các loại nguồn lực; nhân lực, vật lực, tài lực. Hơn nữa,
một khi các nội dung toàn diện của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được
thực hiện tốt thì chính đó là điều kiện tiên quyết để dễ dàng tạo động lực
25