Một số giải pháp quản lý công tác kiểm định chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn AUN (asean university network) ở khoa cơ - Pdf 32

-1MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục giữ một vị trí quan
trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần
vào việc xây dựng một nền kinh tế tri thức. Vì vậy đòi hỏi giáo dục Việt Nam
phải nhanh chóng đổi mới cách quản lý để đảm bảo và ngày càng nâng cao chất
lượng đào tạo ngang tầm với khu vực và Quốc tế.
Những năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo đã quan tâm đến công tác
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ chất lượng cao. Nhất là công tác
đào tạo đại học đang được quan tâm đặc biệt về nội dung phương pháp và chất
lượng đào tạo đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Việc nâng cao chất lượng đào tạo thông qua một bộ tiêu chuẩn quốc tế là
nhiệm vụ giáo dục hiện nay đối với các trường Đại học nói chung đặc biệt đối
với chuyên ngành Cơ khí của Khoa Cơ khí trường đại học Bách khoa TP.HCM
nói riêng.
Nhu cầu đào tạo và nguồn học sinh đầu vào ngày càng lớn đã tạo ra rất nhiều
cơ hội mở rộng quy mô, đa dạng hóa lĩnh vực đào tạo của các cơ sở đào tạo. Điều
này cũng làm cho sự cạnh tranh trong giáo dục đào tạo trở lên gay gắt và khó kiểm
soát về chất lượng trong những năm vừa qua. Vì vậy vấn đề đảm bảo chất lượng
giáo dục cần được đặt ra cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Quản lý chất
lượng tổng thể một cách hiệu quả trên cơ sở thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng là điều kiện cần để thực hiện bảo đảm chất lượng đào tạo, đặc biệt từng
bước nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong xu thế hội nhập.
Giáo dục đại học Việt Nam đang giữ vai trò đòn bẩy phát triển nền kinh tế
đất nước. Do đó, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học cần được đặc
biệt quan tâm, đồng thời từng bước chuẩn hóa giáo dục đại học phù hợp với xu
thế đào tạo của khu vực và quốc tế nhằm nâng cao vị thế giáo dục đại học Việt
Nam và hội nhập được tiêu chí toàn diện với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.


-2Kiểm định chất lượng giáo dục đại học là một nhiệm vụ tất yếu trên thế giới

hệ thống đánh giá vẫn chưa mang tính khoa học toàn diện và chưa hướng tới
những tiêu chí chung của đào tạo giáo dục đại học thế giới và khu vực. Nếu xây
dựng một mô hình đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn AUN ở Khoa Cơ khí
Trường ĐHBK TP.HCM nói riêng và hệ thống đại học ở Việt Nam nói chung thì
việc quản lý chất lượng sẽ được cải tiến ở giáo dục và chất lượng đào tạo sẽ
được nâng cao đáp ứng với thị trường lao động và nguồn nhân lực có trình độ
cao.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
5.1.2 Khảo sát thực trạng bảo đảm chất lượng tại Khoa Cơ khí trường Đại
học Bách Khoa TP.HCM và mô hình bảo đảm chất lượng của đại học
Việt Nam
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác kiểm định chất lượng theo
chuẩn AUN nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở Khoa Cơ khí
Trường ĐHBK TP.HCM
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tại một số lớp và các khóa học từ năm 2007 của khoa
Cơ khí Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thực hiện các chỉ thị nghị quyết của đảng tại nghị quyết Trung ương Đảng
(NQTW) lần thứ 11, chỉ thị của nghành giáo dục đào tạo giai đoạn 2010-2012 về
đổi mới quản lý giáo dục đại học và nghị quyết của Đảng bộ ĐHBK TP.HCM
lần thứ 12 về việc nâng cao chất lượng đào tạo. Căn cứ vào sổ tay áp dụng bộ
tiêu chuẩn AUN để nâng cao chất lượng. Dựa vào các nghiên cứu trong nước về
vấn đề chất lượng và thực trạng tại trường ĐHBK TP.HCM nói chung và Khoa


-4Cơ khí nói riêng để nghiên cứu.

chính quyền, các cơ quan tài trợ và người sử dụng lao động CHEA chủ quản 7
tổ chức Chea - địa hạt.
Bản Tuyên ngôn Sorbonne được ký giữa các bộ trưởng giáo dục Anh,
Pháp, Ý và Đức vào năm 1998 tại Paris thủ đô nước Pháp đã đề ra chương trình
“Cân đối Kiến trúc Hệ thống Giáo dục Đại học toàn Châu Âu mở đầu một cao
trào chấn hưng GDĐH khu vực này và làm bước đệm cho hiệp ước “Tiến trình
Bologna” (The Bologna Process) – sau đây sẽ được gọi tắt là BP - hình thành
một năm sau đó. Hiệp ước Tiến trình Bologna xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn
chất lượng chung cho hệ thống đại học Châu Âu ngày nay có 46 quốc gia Châu
Âu tham gia trong đó có 293 thành viên của khối EU.
Đề tài nghiên cứu của Freeman (1994) có ba bước cơ bản trong trong việc
thành lập một hệ thống đảm bảo chất lượng: Thiết lập sứ mạng của nhà trường,
thiết kế các phương pháp và lập các chuẩn mực;
Công trình nghiên cứu của Frazer (1992) Có bốn thành phần chính trong
đảm bảo chất lượng: Một là, tất cả mọi người trong hệ thống phải có trách nhiệm
duy trì chất lượng mà tổ chức tạo ra. Hai là, tất cả mọi người trong hệ thống phải
có trách nhiệm củng cố chất lượng đó. Ba là, tất cả mọi người trong hệ thống


-6phải “hiểu, sử dụng và làm chủ hệ thống đó”. Bốn là, tất cả mọi người hưởng lợi
cần phải thường xuyên kiểm tra và có trách nhiệm với hệ thống đó.
Tác giả Dr Lim Cher Ping (2001) việc thiết lập một hệ thống đảm bảo chất
lượng cần phải có nhiều bước: Xác định sứ mạng hay mục đích của các trường
đại học, Xác định chức năng mà các trường đại học thực hiện, và tầm quan trọng
của nó, Xác định mục tiêu của mỗi chức năng và đặt ra các chỉ số thực hiện định
tính và định lượng chúng, Thành lập một hệ thống quản lý đảm bảo chất lượng
và các quá trình quản lý nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu này có thể đạt được,
Thành lập một hệ thống kiểm định chất lượng nhằm đánh giá việc các trường đại
học thực hiện các chức năng và xác định các lĩnh vực nơi cần có sự cải tiến.
Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được

quan hệ mới giữa thầy và trò trong đó thầy chỉ đóng vai trò xúc tác, trách nhiệm
học tập (của trò) được chia sẻ và việc học tập được phép “ đàm phán”.
Phương pháp tiếp cận này tập trung vào việc thực hiện quá trình học tập hơn
so với sự tiếp cận trước đó tập trung vào đối tượng đầu vào hơn. Phương pháp
“lấy người học làm trung tâm tạo ra sự linh hoạt và dễ dàng đối với việc phát
triển những mô hình được áp dụng bởi người thầy. Vì vậy, có lợi cho người học,
cung cấp cơ hội cho việc học suốt đời.
+ Tiến trình này hoạch định người học là những cá nhân độc lập, chịu trách
nhiệm giải trình về các tình huống bản thân, kinh nghiệm, phương thức hoạt
động, phong thái và nhu cầu học tập.
+ Người học liên quan đến những gì mình học, xây dựng việc học có ý
nghĩa riêng bằng cách học tập một cách “chuyên nghiệp” chủ động, khám phá
và phản ánh những tri thức tiếp thu được; người thầy có trách nhiệm xây dựng
những ý thức phê phán như một bộ phận của quá trình tiếp thu.
+ Sự đánh giá là để xây dựng một cách tổng quát, và có sự báo hồi liên tục.
Hoạt động bảo đảm chất lượng của các cơ quan đánh giá chất lượng của các
nước Châu Âu đang tăng cường các nguyên tắc dành cho việc bảo đảm chất
lượng của các cơ quan đánh giá ngoài. Các nguyên tắc ấy được xác định gồm
các tính năng: Có các mục đích đa dạng, phù hợp với từng vùng lãnh thổ Châu


-8Âu và phù hợp từng loại hình trường; Được rút kinh nghiệm từ các mô hình
tương thích mà nước Mỹ đã đi trước; INQAAHE là cơ quan chịu trách nhiệm
hướng dẫn các thực hành Đảm bảo chất lượng cho GDĐH Châu Âu; Hai cơ
quan đồng trách nhiệm khác cho việc đăng ký và thanh tra định kỳ của GDĐH
Châu Âu là “European Standards and Guidelines” và “European Quality
Assurance Register”
Riêng về kinh nghiệm phát triển mô hình Đảm bảo chất lượng, giới chức
trách lãnh đạo tiến trình Bologna đưa ra mối quan tâm đối với các vấn đề xin
được luận kèm sau đây:

Cũng theo báo cáo tại hội nghị nói trên, Hội đồng Đánh giá và Cấp chứng
chỉ hành nghề Đại học của Đài Loan HEEACT được thành lập vào năm 2005
đang hoàn tất vòng 1 của chương trình cấp chứng nhận cho hơn 4.000 chương
trình đại học 4 năm theo mô hình chứng chỉ hành nghề. Theo mô tả, mô hình
Chứng nhận hành nghề HEEACT áp dụng tính năng phiếu phản hồi (của người
trực tiếp sử dụng sản phẩm giáo dục) và các “quan sát bên lề” (của các bộ phận
không trực tiếp tham gia hay hưởng thụ tức thời lợi ích của sản phẩm) trong tiến
trình và thủ tục đánh giá, để có thể bảo đảm rằng chương trình đã cung cấp cho
sinh viên một môi trường học tập tốt.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam có thời gian
phát triển chưa lâu, nhưng cũng đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên
cứu, nhiều hội thảo, chuyên luận,... đề cập đến vấn đề này ở các phương diện,
mức độ khác nhau.
Theo thực trạng giáo dục Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng (TC
KHGD số-2011) đã nêu lên thực trạng kiểm định chất lượng giáo dục đại học
của Việt Nam, vai trò của công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục
đại học được xác định ở mức độ rất quan trọng và tác giả đã nêu lên luật hóa
một trong những giải pháp cần thiết của công tác kiệm định chất lượng giáo dục
đại học đó là luật hóa các tiêu chí quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học thực
hiện đồng bộ, cùng vì cái chung nhằm đạt tới một xu hướng chung, tránh tình


- 10 trạng "mạnh ai nấy làm". Những điều kiện cơ bản về thực lực, độ công khai,
minh bạch và chuẩn đầu ra cần được quan tâm đúng nhưng trên thực tế, điều này
không phải là công việc được ưa chuộng ở tất cả các trường. Nhất là khi nhiều
trường còn phải lo đến việc thuê giảng đường, thiếu giảng viên có trình độ đạt
chuẩn, thiếu thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập. Thậm chí, với các trường lớn
và tốp đầu, việc thực hiện bảo đảm chất lượng theo một quy trình tương thích
với quốc tế cũng chưa chắc đã là vấn đề được hưởng ứng, bởi vì khi chưa có cái

điểm mốc của lịch sử đối ngoại nêu trên thực sự có ý nghĩa quan trọng trong
việc cải tổ giáo dục Việt Nam trong đó có GDĐH Việt Nam. Đất nước bắt đầu
mở cửa nhìn ra thế giới vào giữa thập niên cuối của thế kỷ 20 và GDĐH Việt
Nam đã bỏ ra vài năm định hướng trước khi lấy lại thế cân bằng trong xu thế
toàn cầu hoá của thế giới: sự phát triển rầm rộ về số lượng các trường đại học
(kể cả các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trực thuộc) làm cho vấn
đề chất lượng trở thành một câu hỏi lớn cần được quan tâm nhiều hơn.
Từ năm 2005 Việt Nam triển khai công tác kiểm định các trường đại học
trên hệ thống toàn quốc. Đây là một bước tiến đáng kể của các hoạt động bảo
đảm chất lượng của GDĐH Việt Nam sau mười năm đổi mới. Sự kiện Việt Nam
gia nhập WTO 07/11/2006 và nhiều vai trò mới của đất nước trên thương trường
cũng như chính trường quốc tế cũng góp phần thúc đẩy trách nhiệm thể chế của
GDĐH Việt Nam trước nhân dân Việt Nam và toàn cầu.
Tác giả Vũ Thị Phương Anh về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại
Việt Nam với yêu cầu hội nhập đã nêu lên hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
đã quan niệm quản lý chất lượng giáo dục đồng nghĩa với việc kiểm soát đầu
vào thông qua các kỳ thi tuyển mang tính cạnh tranh cao độ.
Trong thời gian này, đảm bảo chất lượng được thực hiện bằng phương pháp
kiểm soát chất lượng (quality control). Ngoài việc kiểm soát đầu vào như đã nêu
trên, chất lượng đầu ra cũng được kiểm soát thông qua hoạt động thi cử, công
nhận tốt nghiệp, và cấp phát văn bằng theo những quy định được áp đặt từ trên
xuống. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất lượng hoạt động được thực hiện thông
qua hệ thống thanh - kiểm tra nhằm giám sát những hoạt động cốt lõi.


- 12 Điểm nhấn bài viết của tác giả nhằm nhấn mạnh công tác đảm bảo chất
lượng giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng có thể thực sự phát huy
tác dụng, nhằm đưa giáo dục đại học Việt Nam đến ngang tầm khu vực và vươn
dần đến chuẩn mực quốc tế.
Có thể nói, những kết quả nghiên cứu nói trên đã tạo nên một bức tranh về

thuộc khối ASEAN được thông qua từ năm 1998 và được triển khai liên tục năm
1999 đến nay, với khá nhiều hoạt động và thành tưu, trong đó có sự tham gia
tích cực của 2 ĐHQG của Việt Nam. Kể từ khi thành lập hệ thống các trường
Đại học ASEAN, chất lượng được xem là một mục tiêu quan trọng nhằm khẳng
định với quốc tế về sự hội nhập của giáo dục Đại học Đông Nam Á, mặt khác
tạo ra sự liên thông và công nhận lẫn nhau giữa các Trường trong AUN. Kể từ
khi thành lập hệ thống các trường đại học ASEAN, chất lượng được xem là một
mục tiêu quan trọng nhằm khẳng định với quốc tế về sự hội nhập của giáo dục
Đại học Đông Nam Á, mặt khác tạo ra sự liên thông và công nhận lẫn nhau giữa
các Trường trong AUN. Chuẩn kiểm định chất lượng dành cho hệ thống các
trường Đại học thuộc khối ASEAN AUN-QA (ASEAN University Network –
Quality Assurance) được thông qua từ năm 1998 và được triển khai liên tục năm
1999 đến nay, đã đem lại khá nhiều hoạt động và thành tựu. AUN-QA có 18 tiêu
chuẩn bao gồm 71 tiêu chí đánh giá. Mỗi tiêu chí sẽ được chấm điểm theo mức
thang từ 1 đến 7, trong đó 7 là mức cao nhất.
Mục đích của việc ra đời hệ thống của AUN là tăng cường sự hợp tác giữa
các trường đại học hàng đầu trong khối ASEAN. AUN có tuyên ngôn, quy chế
hoạt động và những quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của các thành viên cũng
như hoạt động liên kết, hợp tác của các thành viên trong tổ chức này.
1.2.3. Giải pháp, giải pháp quản lý
Giải pháp là những cách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một quá
trình, một trạng thái hoặc hệ thống…nhằm đạt được mục đích. Giải pháp thích
hợp sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn, mang lại hiệu quả cao hơn.


- 14 Giải pháp được xây dựng từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để đảm
bảo tính khoa học, hệ thống và tính khả thi. Giải pháp không tồn tại độc lập mà
có một hệ thống gồm nhiều giải pháp có mối quan hệ chặt chẽ cới nhau.
Giải pháp quản lý là những cách thức tổ chức của chủ thể quản lý tác động
đến đối tượng quản lý thông qua nội dung, môi trường, biện pháp cụ thể, nhằm

mực cố định.
1.3.2 Mục đích của kiểm định chất lượng
Mục đích của kiểm định chất lượng không chỉ là đảm bảo nhà trường có
trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và
nâng cao chất lượng chương trình đào tạo cũng như chất lượng tòa trường.
Một nhóm kiểm định được coi là hoạt động có hiệu quả khi không chỉ đánh
giá xem một trường hay một chương trình đào tạo có đạt chất lượng hay không
mà còn phải có vai trò như những chuyên gia tư vấn sẵn sàng giúp nhà trường
giải quyết các vấn đề tồn đọng và nâng cao chất lượng các hoạt động.
Kiểm định chất lượng do một cơ quan hay một tổ chức chịu trách nhiểm
triển khia thực hiện. Cơ quan hay tổ chức đó có thể thuộc Nhà nước hau không
thuộc Nhà nước. Ở Mỹ và Bắc Mỹ, Cơ quan kiểm định thuộc Hiệp hội các
trường đại học hay Hiệp hội nghề nghiệp. Ở nhiều nước châu Âu và châu Á,
kiểm định có sự tham gia của Nhà nước (Nhà nước lập ra các tổ chức kiểm định,
cấp kinh phí hoạt động và cho phép hoạt động với tính độc lập cao)
Kiểm định có thể là kiểm định trường hay kiểm định chương trình đào tạo.
Đối tượng kiểm định có thể chí có các trường tư hay cả trường tư lẫn trường
công. Kiểm định có thể tự nguyện hay bắt buộc. Các trường Đaị học, các
chương trình đào tạo ở Mỹ có thể tham gia kiểm định một cách tự nguyện,
nhưng chỉ những sinh viên đang theo học tại các trường Đại học hay các chương
trình đào tạo đã được kiểm định mới có thể vay tiền Nhà nước để đi học. Ở
Hungary kiểm định là bắt buộc đối với tất cả các trường đại học.
1.3.3. Bộ quy định hệ thống tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học
Việt Nam


- 16 Ngày 2/12/2004, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số
38/2004/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng
trường đại học. (Trích Tài liệu tập huấn Tự đánh giá, Cục Khảo thí và Kiểm
định chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006).

chí
+ Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
trong tiêu chuẩn này có 9 tiêu chí
+ Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính trong tiêu chuẩn này có 3
tiêu chí.
Có thể thấy 10 tiêu chuẩn đã nêu trong Bộ tiêu chuẩn chất lượng trường đại
học của Việt Nam đã bao quát gần như toàn bộ các khía cạnh liên quan đến cơ
chế quản lý cũng như các mặt hoạt động của một trường đại học hiện đại, không
mấy khác với các tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế. Có được
một bộ tiêu chuẩn minh bạch để quản lý chất lượng trường đại học thực sự là
một bước đột phá trong tư duy quản lý giáo dục VN, cho thấy quyết tâm hội
nhập của ngành giáo dục và với nhiều hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi tích
cực cho vấn đề chất lượng giáo dục đại học trong thời gian tới.
1.4. Kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo tiêu chuẩn AUN
1.4.1. Hệ thống tiêu chuẩn kiểm định AUN
Hệ thống kiểm định AUN bao gồm 18 tiêu chuẩn như sau:
+ Tiêu chuẩn 1 về Kết quả học tập mong đợi
Kết quả học tập mong đợi, hoặc hiểu cách khác, đó là năng lực của sinh
viên, là điểm xuất phát cho quá trình tự đánh giá. Ngoài ra, chúng ta cần phân
biệt những kỹ năng chung và kỹ năng cụ thể.
+ Tiêu chuẩn 2 về Chương trình chi tiết
Là một nguồn thông tin giúp các sinh viên đang học cũng như các sinh
viên tiềm năng hiểu về chương trình.
Là một nguồn thông tin dành cho các nhà tuyển dụng, đặc biệt là các
thông tin về kỹ năng và các năng lực trí tuệ có thể chuyển đổi được phát triển
trong chương trình.


- 18 Là cơ sở để được công nhận bởi các tổ chức nghề nghiệp và các cơ quan
pháp luật có chức năng kiểm định các chương trình đào tạo bậc đại học. Chương

Chúng ta buộc phải đặt câu hỏi rằng: các mục tiêu phải được thể hiện qua
chương trình như thế nào. Chương trình có chặt chẽ và cập nhật không. Chương
trình góp phần như thế nào cho việc hoàn thành sứ mạng chung của nhà trường.
+ Tiêu chuẩn 4 về Cấu trúc chương trình đào tạo
+ Tiêu chuẩn 5 về Quan điểm sư phạm và chiến lược giảng dạy/học tập
Bộ Tiêu chuẩn chất lượng AUN mô tả một cách chi tiết làm thế nào để
xem xét một quá trình học tập, xem xét các yêu cầu của một quan điểm sư phạm
tốt và chiến lược của việc dạy/học. Mục đích của giáo dục đại học là nhằm phát
triển khả năng tri thức ngày càng cao trong sinh viên, vì thế cần lưu ý các đặc
điểm sau để đảm bảo chất lượng học tập:
• Khả năng tự khám phá tri thức. Người học cần có kỹ năng nghiên cứu,
phân tích và tổng hợp các tư liệu do chính mình thu thập, đồng thời hiểu được
các chiến lược học tập khác nhau để có thể lựa chọn chiến lược phù hợp nhất
cho từng nhiệm vụ học tập cụ thể.
• Khả năng ghi nhớ kiến thức. Sử dụng phương pháp học tập nhấn mạnh
hiểu biết hơn là trí nhớ sẽ giúp người học nhớ kiến thức lâu hơn.
• Khả năng nhận biết mối liên hệ giữa kiến thức cũ và mới. Chất lượng
học tập luôn luôn đòi hỏi người học phải tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác
nhau.
• Khả năng sáng tạo sự hiểu biết mới. Một người học đạt chất lượng phải
biết nhận ra mối quan hệ giữa khối kiến thức của người khác đã học với kinh
nghiệm của chính bản thân mình, cũng như với những gì mình đã được học
trước đó để hình thành nên những nhận thức mới.
• Khả năng vận dụng kiến thức vào việc giải quyết vấn đề.
• Khả năng diễn đạt kiến thức của mình cho người khác. Việc học tập đạt
chất lượng khi người học có khả năng hình thành cũng như diễn đạt một cách rõ
ràng và chặt chẽ những suy nghĩ và hành động độc lập của mình.


- 20 • Sự say mê học hỏi. Việc học tập đạt chất lượng khi người học có quan

- 21 Chất lượng của khoa không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của chương
trình. Vì vậy, chúng ta cần xem xét các điều kiện tiên quyết để thực hiện chương
trình. Chất lượng đầu vào của sinh viên sẽ quyết định đến chất lượng quá trình
và chất lượng đầu ra. Ngoài ra, chất lượng của việc phân phối chương trình sẽ
gần như không thể đạt nếu thiếu chất lượng và năng lực của giảng viên. Không
chỉ nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng mà các nguồn tài chính về kinh phí
dành cho chương trình, trang thiết bị,… khác cũng rất quan trọng. Thuật ngữ đội
ngũ cán bộ giảng viên bao gồm giảng viên toàn thời gian và bán thời gian, giảng
viên thỉnh giảng, cán bộ phục vụ giảng dạy và cán bộ hành chính. Chất lượng sẽ
không đạt được nếu đội ngũ này thiếu năng lực. Tài liệu hướng dẫn về đảm báo
chất lượng của AUN cung cấp các tiêu chí dành cho đội ngũ cán bộ giảng viên.
Chúng ta cần kiểm tra xem nhà trường đã đáp ứng các yêu cầu theo các tiêu chí
này như thế nào. Để có thể kiểm tra, chúng ta cần nắm rõ:
• Số lượng cán bộ giảng viên và bằng cấp của họ
• Hệ thống quản lý đội ngũ cán bộ giảng viên và nguồn nhân lực
+ Tiêu chuẩn 8 về Chất lượng của các cán bộ phục vụ giảng dạy
Việc giám sát và hỗ trợ sinh viên như thế nào sẽ rất cần thiết cho nghề
nghiệp sau này của sinh viên. Bộ Tiêu chuẩn chất lượng AUN xác định rằng nhà
trường phải đảm bảo có các môi trường vật lý, vật chất, xã hội và tâm lý tốt.
+ Tiêu chuẩn 9 về Chất lượng sinh viên
Chất lượng của đầu ra phụ thuộc nhiều vào chất lượng của đầu vào, nghĩa
là chất lượng sinh viên lấy vào rất quan trọng.
+ Tiêu chuẩn 10 về Dịch vụ hỗ trợ sinh viên
Việc giám sát và hỗ trợ sinh viên như thế nào sẽ rất cần thiết cho nghề
nghiệp sau này của sinh viên. Bộ Tiêu chuẩn chất lượng AUN xác định rằng nhà
trường phải đảm bảo có các môi trường vật lý, vật chất, xã hội và tâm lý tốt.
+ Tiêu chuẩn 11 về Trang thiết bị và cơ sở hạ tầng
Trang thiết bị và tài nguyên học tập cần phù hợp với các mục tiêu và mục
đích của chương trình. Trang thiết bị cũng liên quan đến chiến lược giảng dạy và



- 23 các nhóm đối tượng khác. Tuy nhiên, nhà trường cần thực hiện lấy ý kiến sinh
viên và sử dụng chúng để thực hiện các cải tiến.
+ Tiêu chuẩn 14 về Thiết kế chương trình
Xây dựng và thiết kế chương trình là công việc đặc biệt. Thường một
chương trình được xem như là bao gồm một số học phần do các giáo sư cung
cấp. Đôi khi các giáo sư này giống như những người buôn bán nhỏ, nghĩa là họ
bán sản phẩm của mình nhưng lại không biết những người khác bán gì. Thiết kế
chương trình cần bắt đầu bằng việc xây dựng các kết quả mong muốn đạt được.
Vấn đề tiếp theo là xem các học phần nào sẽ giúp đạt được mục tiêu và cuối
cùng ai sẽ giảng dạy các học phần này? Điều quan trọng là một chương trình cần
phải được tổng hợp từ nhiều phía.
+ Tiêu chuẩn 15 về Hoạt động phát triển đội ngũ
Giảng viên là tài nguyên học tập quan trọng nhất và có giá trị nhất đối với
sinh viên. Điều quan trọng là các giảng viên cần có kiến thức và hiểu biết đầy đủ
về bộ môn mình đang giảng dạy, có các kỹ năng cần thiết và kinh nghiệm giảng
dạy để truyền đạt, trao đổi những kiến thức và hiểu biết đó cho sinh viên một
cách hiệu quả trong môi trường dạy học, và có thể lấy ý kiến phản hồi của sinh
viên về việc giảng dạy của mình. Nhà trường cần đảm bảo rằng việc tuyển dụng
giảng viên và các nguyên tắc tuyển dụng là phương tiện nhằm đảm bảo rằng tất
cả các giảng viên mới tuyển ít nhất phải có những năng lực cần thiết tối thiểu.
Nhà trường cần tạo điều kiện cho đội ngũ giảng dạy phát triển và mở rộng khả
năng nghề nghiệp và khuyến khích họ nâng cao kỹ năng. Nhà trường cung cấp
cho giảng viên cơ hội cải tiến kỹ năng để đạt một trình độ có thể chấp nhận được
và có các biện pháp để thuyên chuyển giảng viên sang các nhiệm vụ khác nếu họ
giảng dạy không hiệu quả.
+ Tiêu chuẩn 16 về Lấy ý kiến phản hồi của các đối tượng có liên quan
Chúng ta cần xác định chất lượng “là sự đạt được các mục tiêu và mục
đích”. Khi xây dựng các mục tiêu, chúng ta phải quan tâm đến yêu cầu của tất cả
các đối tượng có liên quan. Điều này nghĩa là chúng ta phải tự hỏi các đối tượng



- 25 Bước 2. Đánh giá bên ngoài và thẩm định của cơ quan kiểm định chất
lượng giáo dục.
Bước 3. Quyết định công nhận trường đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định
chất lượng.
Chính trên cơ sở quy trình của AUN. một số cơ sở giáo dục đại học đã
xây dựng quy trình kiểm định chất lượng ở đơn vị mình. Ví du, Đại học Quốc
gia hà Nội đã đề ra “Qui trình kiểm định chất lượng Đại học Quốc gia Hà Nội
do cơ quan, tổ chức kiểm định bên ngoài thực hiện”.
Bước 1: Căn cứ vào kế hoạch công tác kiểm định chất lượng Giám đốc
ĐHQG HN đề nghị cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng (trong nước, quốc tế)
thực hiện kiểm định chất lượng ĐHQG HN.
Bước 2: Hội đồng kiểm định chất lượng ĐHQGHN tổ chức tự đánh giá
theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của cơ quan, tổ chức kiểm định chất
lượng và gửi báo cáo tự đánh giá cũng như số liệu thống kê, thông tin và tư liệu
cần thiết theo yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng.
Bước 3: Cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng tổ chức đánh giá ngoài và
kết luận.
Như vậy, căn cứ vào tiêu chí và quy trình kiểm định của AUN, chúng ta
thấy đây là một tiêu chí kiểm định có chất lượng cao về tất cả các mặt, phù hợp
với mục tiêu đào tạo đại học của các nước tiên tiến hiện nay. Trong điều kiện
hiện nay, không phải trường đại học nào ở Việt Nam cũng áp dụng được bộ tiêu
chuẩn nầy (nhất là các trường mới thành lập, mới chuyển từ cao đẳng lên,...),
nhưng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn này mà một trong những điều kiện để phát
triển bền vững giáo dục đại học. Trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc
gia TP. Hồ Chí Minh là một trong số ít cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam
đang hướng tới điều đó.
1.5. Các nội dung cơ bản của công tác quản lý công tác kiểm định chất
lượng đào tạo theo tiêu chuẩn AUN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status