Khoá luận tốt nghiệp - 2005
Mục lục
Trang
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề................................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ.......................................................................................5
4. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu........................................................................6
5. Phơng pháp nghiên cứu..................................................................................6
6. Cấu trúc luận văn............................................................................................6
Chơng 1: Bức tranh thiên nhiên đậm màu sắc Nhật Bản...........................7
1.1. Thiên nhiên Nhật Bản- một cái nhìn phác thảo..........................................7
1.1.1. Nhật bản, một mảnh đất không đợc thiên nhiên u đãi............................7
1.1.2. Thiên nhiên Nhật Bản- dữ dội và trữ tình................................................8
1.1.3. Hoà hợp với thiên nhiên- một biểu hiện của tinh thần Nhật..................9
1.2. Thiên nhiên trong sáng tác của Y.Kawabata một thiên nhiên đậm màu sắc
Nhật...................................................................................................................13
1.1.1. Hoa anh đào mùa Đông- những sắc màu tâm trạng.............................14
1.1.2. Xứ tuyết- miền đất thơ mộng.................................................................18
1.3. Một thiên nhiên thấm đẫm tình ngời........................................................21
1.3.1. Một thiên nhiên hoang sơ mà ấm áp.....................................................21
1.3.2. Tìm đến thiên nhiên- hành trình tìm lại chính mình.............................23
1.3.3. Thiên nhiên mang dáng vẻ, tâm hồn Nhật............................................26
Chơng 2: Tính cách Nhật, tâm hồn Nhật trong sáng tác
của Y.Kawabata..............................................................................................29
2.1. Con ngời Nhật- một cái nhìn khái lợc......................................................29
2.1.1. Cần cù và mạnh mẽ...............................................................................29
2.1.2. Hoà hợp Đạo và Đời..............................................................................31
2.1.3. Con ngời Nhật trong thời đại Y.Kawabata............................................35
nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, ngời thân và bè bạn.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới thầy giáo
Nguyễn Văn Hạnh- ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi. Tôi cũng xin cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo đã cho tôi những lời nhận xét, góp ý quý báu. Và cuối cùng xin cảm
ơn bạn bè, ngời thân đã luôn ở bên động viên tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
khoá luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5-2005
2
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
Sinh viên: Trần Thị Thuý Quỳnh
Mở đầu
1.lý do chọn đề tài
1.1. Nằm ở Đông Bắc của Thái Bình Dơng thuộc miền cực Đông của lục
địa châu á, Nhật Bản đợc coi là quốc đảo khi đợc hình thành từ 4 đảo lớn:
Hokaiđô, Honshu, kyshu, Sikoku và khoảng gần 4000 đảo nhỏ rải ra theo hình
cánh cung dài khoảng 3800 km. Trong con mặt thế giới, Nhật Bản là một siêu cờng về kinh tế, một đất nớc ở Châu á có sức mạnh thần kỳ đã làm nên điều kỳ
diệu khi thực hiện thành công phơng châm nổi tiếng: học tập phơng Tây, đuổi
kịp phơng Tây, vợt xa phơng Tây. Một đất nớc không đợc sự u ái của tạo hoá mà
vẫn đẹp rực rỡ nh sự bừng nở của hoa anh đào, mạnh mẽ nh các dũng sĩ Samurai
và tinh tế trong cuộc sống nh nghệ thuật thởng thức Trà đạo. Đất nớc ấy còn tự
khỏi giấc ngủ hàng thế kỷ, Nhật Bản nhờ những mối quan hệ và va chạm với phơng Tây đã chiếm một vị trí danh dự trên thế giới. Bằng cách đó, ngời Nhật đã
chứng tỏ rằng họ sống bằng hơi thở của thời đại chứ không phải bằng những thần
thoại hão huyền của quá khứ [18;283].
Nớc Nhật tiến bớc trên con đờng hiện đại hoá nên công nghiệp của mình
với hơi thở mới của thời đại. Nền văn hoá Nhật Bản theo đà đó bớc vào thời kỳ đơng đại. Nhiều khuynh hớng văn học bắt đầu nảy nở và trở nên phức tạp: Ngời
chủ trơng theo Âu Mỹ phủ nhận truyền thống, ngời muốn duy trì bảo vệ bản sắc
dân tộc, ngời muốn dung hoà cả hai...
Trớc thực tại đó, Y.Kawabata đã đa ra những quan niệm của mình bằng các
sáng tác mang đậm bản sắc Nhật, đã âm thầm cứu vớt những giá trị truyền thống
đang dần bị mai một. Chính vì thế, khi trao giải thởng cho ông, đại diện Hội
đồng giải thởng Nobel đã nhấn mạnh: Vì Nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình
cảm lớn lao thể hiện đợc bản chất và cách t duy Nhật Bản. Đó chính là lời đánh
giá chính xác nhất dành cho Y.Kawabata - Ngời suốt đời dấn bớc không mệt mỏi
trên hành trình Đi tìm cái Đẹp đã mất.
1.4. Trong những năm gần đây, tác phẩm của Y.Kawabata đã đợc đa vào
giảng dạy ở bậc PTTH và ĐH. Tuy nhiên, những kiến thức về tác giả mới chỉ
dừng lại ở việc giới thiệu một cách khái quát nhất, còn về tác phẩm thì chỉ đợc đa
vào phần học thêm với truyện ngắn Thuỷ nguyệt. Chính vì thế Y.Kawabata
4
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
vẫn đang còn là một hiện tợng khá lạ lẫm đối với độc giả Việt Nam. Cũng chính
vì lẽ đó chúng tôi đi vào đề tài này với mong muốn tìm hiểu thêm một phơng
diện nào đó trong Nghệ thuật sáng tạo của ông.
2. Lịch sử vấn đề
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc của mình. Trên hành trình đi tìm cái Đẹp,
Y.Kawabata đã hấp thu tinh hoa văn hoá dân tộc và nâng chúng lên mang tầm t tởng thời đại. Chính vì thế các tác phẩm của ông ngay từ khi mới ra đời đã nhanh
chóng trở thành quốc bảo của nhân dân Nhật.
2.2. Văn học Việt Nam và Nhật Bản vốn có cùng cội nguồn văn hoá phơng
Đông. T duy ngời Việt cũng nh ngời Nhật bắt gặp nhau trong tác phẩm của
Y.Kawabata. Đó là tình yêu cái Đẹp, tình yêu thiên nhiên và cuộc sống. Tuy
nhiên ở Việt Nam, việc nghiên cứu tìm hiểu về Y.Kawabata dờng nh mới chỉ bắt
đầu. Các công trình chủ yếu mới dừng lại ở dịch thuật, giới thiệu tác phẩm.
Năm 1969, Chu Việt dịch Xứ tuyết (Yukiguni). Năm 1989 Ngô Quý Giang
dịch Tiếng rền của núi (Yamanođo). Năm 1990 Vũ Đình Phòng dịch
Ngời đẹp say ngủ (Nemezeru bijo). Năm 1997, trong Tuyển tập truyện ngắn tác
giả đạt giải Nobel cớ đăng 3 truyện ngắn của Y.Kawabata. Năm 2001, NXB Hội
nhà văn đã cho ra đời Tuyển tập Y.Kawabata gồm 4 tiểu thuyết: Tiếng rền của
núi, Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc và Ngời đẹp say ngủ. Đây là một bớc đột phá, đáp
ứng nhu cầu của đông đảo bạn đọc Việt Nam trong việc thởng thức các tác phẩm
của Y.Kawabata.
Song song với quá trình tiếp nhận tác phẩm, các bài nghiên cứu, tìm hiểu
về Y.Kawabata đã cung cấp một cái nhìn có chiều sâu hơn về tác giả này. Trên
tạp chí Văn học số 9/1999 - Nhân kỷ niệm 100 năm sinh của Y.Kawabata (1899
- 1972)Lu Đức Trung trong bài Thi pháp tiểu thuyết của Y.Kawabata - Nhà văn
lớn Nhật Bản đã nghiên cứu hai đặc trng cơ bản trong thi pháp tiểu thuyết của
Y.Kawabata đó là: Thi pháp chân không biểu hiện mĩ học Thiền Thiền thờng
dựa vào suy ngẫm bên trong, bộc lộ sức mạnh ý chí đến độ trở thành Vô ngã.
Mĩ học Thiền sử dụng ít lời, ít phơng tiện biểu cảm nhất trong sáng tác nghệ
(Năm 2003, K40 A, ĐH Vinh) và Nghệ thuật thể hiện thiên nhiên trong sáng tác
của Y.Kawabata của sinh viên Mai Văn Quân (năm 2004, K40E- ĐH Vinh).
3. Mục đích nhiệm vụ của đề tài
3.1. Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là tìm hiểu bản sắc dân
tộc thể hiện trong sáng tác của Y.Kawabata.
3.2. Với mục đích ấy, đề tài có nhiệm vụ
Thứ nhất: Chỉ ra đợc bản sắc dân tộc thể hiện qua bức tranh thiên nhiên
trong sáng tác của Y.Kawabata.
Thứ hai: Chỉ ra đợc những nét tính cách, tâm hồn Nhật Bản thông qua các
hình tợng nhân vật.
Thứ ba: ở một mức độ nhất định, chỉ ra đợc sự kế thừa nghệ thuật truyền
thống trong nghệ thuật sáng tác của Y.Kawabata.
4. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian cũng nh sự hạn chế về t liệu nghiên cứu, chúng tôi
chọn Tuyển tập Y.Kawabata của NXB Hội nhà văn 2001 làm văn bản khảo sát.
7
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
Ngoài ra trong chừng mực nào đó, chúng tôi sẽ liên hệ với một số tác phẩm khác
của ông.
4.2. Đối tợng nghiên cứu
Y.Kawabata là một hiện tợng văn học độc đáo thu hút sự quan tâm chú ý
của các nhà nghiên cứu, phê bình trên nhiều phơng diện .Trong khuôn khổ luận
văn này chúng tôi chỉ có thể hớng tới đối tợng chính là bản sắc Nhật thể hiện qua
nghĩ ngay đến hình ảnh một siêu cờng kinh tế có nền công nghiệp phát triển nhất
nhì thế giới với những sản phẩm tối tân, hiện đại. Cũng nh một tên gọi khác của
Nhật Bản đất nớc này còn lung linh trong suy nghĩ của mọi ngời về một xứ sở
hoa anh đào đẹp đến nao lòng...
Nhng đâu phải chỉ có thế. Theo nhiều nghiên cứu khoa học, cách đây
nhiều triệu năm, từ đáy đại dơng sâu thẳm những vụ nổ núi lửa ghê gớm đã nâng
lên khỏi mặt đất Một dãy quần đảo hình cánh cung ôm lấy lục địa Châu á từ vĩ
tuyến 30 độ đến 45 độ Bắc. Đó là quần đảo Nhật Bản gồm 4 đảo lớn: Hokaidô,
Honshu, Kyushu, Sikôku và khoảng gần 4 nghìn đảo nhỏ rải ra theo hình cánh
cung dài khoảng 3 nghìn 800 km. [12;16] Do cấu tạo nền đất đợc hình thành
trong những điều kiện nh vậy nên 3/4 đất đai của Nhật Bản không thích hợp cho
việc trồng trọt. Đất canh tác chỉ chiếm khoảng 1/6 diện tích toàn quốc. Mặt khác,
ngay cả những vùng đất phì nhiêu nhất thì cũng bị những trận ma vùng gió mùa
cuốn trôi hoặc làm tan đi các chất khoáng màu mỡ cho việc trồng ngũ cốc. Vì thế
đất trồng trọt ở đây đã ít lại thờng nghèo chất hữu cơ. Vùng đất phì nhiêu nhất thờng chỉ có ở một số đồng bằng giàu phù sa nhng không rộng lắm nằm ở phía
Đông, mạn bờ Thái Bình Dơng của hòn đảo chính nớc Nhật. Đó là đồng bằng
Kantô ở phía Bắc vịnh Tôkyô, vùng đồng bằng mạn trên vịnh isê và đồng bằng
Kinai ở phía trên vịnh ôsaka. Những vùng đồng bằng này là nơi tập trung dân c
đông đúc nhất và họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử Nhật Bản.
9
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
Nhật Bản cũng là đất nớc rất khan hiếm tài nguyên thiên nhiên cho công
nghiệp dù là công nghiệp thô sơ thời cơ khí hoá. Sắt, đồng, vàng, bạc, thuỷ ngân
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
Nhật Bản nh một bức tranh bên cạnh những gam màu nóng, dữ dội là những gam
màu nhẹ nhàng, trong sáng, dịu mát. Ngời xem vừa cảm thấy choáng ngợp trớc
cảnh hùng vĩ của núi rừng trùng trùng điệp điệp, sờn đá cheo leo, khe lũng hiểm
trở, hồ trong veo đẩy nớc của tuyết núi tan đổ xuống, thác chảy rào rào [12;19],
lại vừa thấy thanh thản nhẹ nhàng nh khi đứng trớc thảm hoa anh đào đang nhẹ
nhàng buông trong nắng mùa xuân. Không phải ngẫu nhiên mà ngời Nhật Bản lại
lấy núi Fuji (có nghĩa là núi rợu trờng sinh) làm hình ảnh tợng trng cho đất nớc mình. Cái bức tranh thuỷ mặc điểm màu này ai đã một lần trông thấy hẳn sẽ
không thể nào quên đợc: Dới ánh sáng nhạt, một trái núi hùng vĩ hình chóp nón
phủ tuyết hiện lên trên bầu trời xanh thẳm, một vài đám mây trắng lửng lờ trôi, sờn và chân núi trải ra một tấm thảm màu lục bao la... Sự đối lập trong đờng nét,
sắc màu không tạo nên cảm giác loại trừ mà bổ sung, hoàn thiện trong một vẻ
đẹp thống nhất.
Thiên nhiên Nhật Bản vừa có cái gồ ghề của núi đá lại vừa có cái mềm mại
của những bờ biển uốn quanh, có cái hùng vĩ của những núi đồi dốc đứng, lại có
cái thơ mộng của những làng quê xanh tơi trù phú. Ngời dân Nhật Bản, với tất cả
lòng mến yêu và tự hào dân tộc, đã gọi dân tộc mình là đất nớc mặt trời mọc
( Nhật: Mặt trời, Bản: Gốc) hay xứ sở hoa anh đào những tên gọi ấy dù đợc giải
thích theo cách nào đi nữa cũng không thể phủ nhận một thực tế, đó là dấu ấn
thiên nhiên in đậm trong đời sống tinh thần ngời Nhật. Có thể nói họ đã học đợc
nghệ thuật sống thanh bạch, giản dị [12;27] và tình yêu thiên nhiên đã là
truyền thống mĩ học đợc bắt rễ sâu trong di sản văn hoá dân tộc Nhật Bản.
[12;27]
1.1.3. Hoà hợp với thiên nhiên-một biểu hiện của tinh thần Nhật
Nhân loại đang bớc vào thế kỷ XXI với tâm thế cởi mở chào đón những
Chức Nữ bị Ngân Hà chia rẽ, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần nếu trời không ma.
Các bé gái có hội hoa đào (ngày 3 tháng 3) còn các bé trai có hội Tan gô vào
ngày 5 tháng 5.
Có thể nói những lễ hội là ngày hội của đất trời, lòng ngời, tạo vật. Nó thể
hiện một nền văn hoá gắn bó với thiên nhiên, thể hiện khát vọng đợc tan hoà vào
thiên nhiên của con ngời. Chính trong sự căng thẳng của một đất nớc không đợc
thiên nhiên u đãi đã đem đến cho ngời Nhật một lối sống tinh tế, một cách làm
cân bằng đời sống tinh thần độc đáo thông qua những phong tục đẹp. Ngay từ thế
kỷ VIII, vào thời Hâyan, phụ nữ đã có tục hành hơng, phần vì mộ đạo, phần để
chiêm ngỡng thiên nhiên và hởng chút tự do ở ngoài chốn khuê phòng. Ngoài hoa
anh đào, ngời Nhật còn có tục lệ ngắm hoa mẫu đơn vào tháng 5, hoa irit vào
tháng 6, hoa sen tháng 7, hoa cúc, hoa asagaô và lá thu vào tháng 10. Thởng thức
sự bừng nở của những cánh hoa không chỉ là một thú thanh tao mà đó còn là biểu
hiện của lối sống hoà hợp với thiên nhiên. Dờng nh khi đắm mình trong không
gian cỏ cây hoa lá ấy , con ngời đạt đến sự tĩnh lặng tuyệt đối của cõi lòng mình
để đợc tan hoà vào sắc hơng của đất trời, tạo vật.
12
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
Thiên nhiên đã đi vào văn chơng Nhật Bản từ rất xa xa. Trong tuyển tập
thơ cổ nhất là Manyôsu (Vạn diệp tập) một phần ba số thơ là miêu tả các loại cây
và hoa để diễn đạt nội tâm. Và đó là một thiên nhiên kỳ thú trong sự chuyển
hoá linh động của bốn mùa với nhan sắc của tuyết, trăng, sơng mù, hoa cỏ
,núi đồi, sóng biển, suối khe... một thiên nhiên hoàn toàn Nhật Bản . Các nhà
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
màu lá thu sáng ngời.
(Bài 2192 - Vô danh).
Thông qua các tác phẩm của các nhà thơ Manyoshu ta thấy đợc sự hoà
quyện gắn bó giữa con ngời với thiên nhiên. Đó là một biểu hiện của triết lý
Thiên nhân đồng thể hợp nhất (Thiên nhiên và con ngời gắn bó làm một) của
ngời phơng Đông nói chung, Nhật Bản nói riêng .
T tởng triết lý này đợc thể hiện xuyên suốt trong tiến trình văn học Nhật
Bản, đặc biệt kết tinh ở những tác phẩm của thiên tài Matshuo Basho (1644
-1694). Những tác phẩm nổi tiếng của Basho nh: Oi no kobun (Ghi chép trên
chiếc túi hành hơng - 1688) và Sarashina kiko (Nhật ký về thôn Sarashina) là lời
ca ngợi thiên nhiên vô cùng nồng nàn, là lời kêu gọi say đắm Trở về với thiên
nhiên. Đó là lý tởng mà Basho gọi là Fuga (Phong nhã) Kẻ nào ấp ủ nó đều
đón nhận thiên thiên và trở nên ngời bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, ngời ấy đều
nhớ đến hoa, nghĩ điều chi, ngời ấy cũng liên tởng đến trăng. Nếu nhìn vật mà
không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu t tởng mà không quay về trăng thì có khác chi
cầm thú.[2;265]
Basho trở thành một hiện tợng đặc biệt đợc ngời ta tôn sùng đến mức cho
rằng Nớc Nhật sinh ra cùng với Basho vào năm 1644. Ông chính là ngời đã
sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản. Ngời ta hành hơng theo những bớc đờng
phiêu lãng ngày xa của ông.
Y.Kawabata - với tài năng và cốt cách tâm hồn của một ngời Nhật đã trở
thành ngời lữ khác đi tìm cái Đẹp đã mất, tái hiện lại trong tác phẩm của mình
một thế giới thiên nhiên đậm màu sắc Nhật.
1.2. Thiên nhiên trong sáng tác của Y.Kawabata - Một thiên nhiên đậm
màu sắc Nhật
1.2.1. Trong diễn từ đọc tại lễ nhận giải Nobel văn học năm 1968 tại
Đợc sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản,Y.Kawabata là ngời tôn vinh vẻ đẹp h ảo
và hình ảnh u ẩn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con ngời. Tác phẩm của ông là những bài ca, ca ngợi vẻ đẹp bất diệt của con ngời và
thế giới thiên nhiên - một thiên nhiên hoàn toàn Nhật Bản với cảnh tuyết trắng
dát bạc trên các sờn núi Kamakura, những đồi thông trên hòn đảo, hình ảnh đám
mây hoa anh đào (Sacura), những âm thanh trong trẻo lắng sâu của tiếng chuông
mùa xuân vang vọng núi cao, những dòng suối mát lành...
1.2.2 Hoa anh đào mùa đông - những sắc màu tâm trạng
Kiệt tác Tiếng rền của núi đợc hoàn thành vào năm 1954. Bối cảnh câu
chuyện là nớc Nhật thời hậu chiến. Tuy chiến tranh không đợc trực tiếp miêu tả
song nó lại in sâu vào đời sống tâm hồn ngời Nhật, vì vậy để xoa dịu nỗi đau
không hiện diện đó, Y.Kawabata đã dùng thiên nhiên nh một linh dợc để chữa
chạy vết thơng tâm hồn . Mỗi khi gặp những biến cố đau buồn trong cuộc sống
các nhân vật lại tìm đến với thiên nhiên. Và trong bức tranh thiên nhiên ấy, hoa
15
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
anh đào xuất hiện nh một ám ảnh nghệ thuật về một màu hoa tiêu biểu của dân
tộc.
Bối cảnh câu chuyện xoay quanh cuộc sống gia đình Singô và đợc mở rộng
ra với những mối quan hệ giữa các nhân vật trong đời sống riêng của mình. Singô
- một ngời đàn ông đã bớc sang cái dốc bên kia của cuộc đời mà vẫn canh cánh
trong lòng nỗi đau về con cái , về trách nhiệm của một ngời cha. Cả hai ngời con
của Singô đều không tìm đợc ý nghĩa của cuộc sống. Ngời con gái Phuxacô thì
bỏ nhà chồng mang theo hai con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ. Ngời con trai thứ hai
dập tắt sự phẫn nộ và nỗi đau buồn trong lòng mình [7;70] đã tìm thấy ở nơi
những cánh hoa anh đào mùa đông kia niềm an ủi dù chỉ trong phút chốc?.
Tình yêu thiên nhiên, đặc biệt với hoa anh đào đã đợc thể hiện một cách
độc đáo từ lâu trong văn học Nhật Bản. Tiêu biểu là Saigyo (1118 - 1190) đợc
mệnh danh là nhà thơ cuả hoa anh đào. Những bài thơ của Saigyo thể hiện một
tình yêu thắm thiết đối với loài hoa này:
Ước vọng của tôi
Là đợc chết
Dới cội hoa đào
Vào đêm trăng rằm
Trong ánh mùa xuân
[2;150]
Ông có thể quay lng lại với mọi điều, trừ hoa đào:
Với mọi điều từ bỏ
Nh tôi vẫn tởng
Thế mà trái tim tôi
Vẫn còn đó chứ
ửng sắc hoa đào
[2;150]
Thú vui Ngồi ngắm hoa đào nở và nghe tiếng chuông chùa mùa xuân
cũng là một nét văn hoá độc đáo của ngời Nhật. Khi Basho viết:
Một đám mây hoa
Chuông đền Ueno vang vọng
Hay đền Asakusa
[2;271]
thì ngời đọc Nhật hiểu ngay ông đang nhắc đến tiếng chuông mùa xuân và hoa
anh đào đang nở rộ. Thú vui này giúp con ngời lấy lại đợc sự cân bằng th thái
trong lòng mình.
Trong kiệt tác Tiếng rền của núi nhân vật Singo đã đợc bà vợ kể về câu
choán hết cả bầu trời. Nó đang ở vào giai đoạn nảy nở rực rỡ nhất và khó có thể
tin rằng một vẻ huy hoàng dờng ấy lại sắp sửa mất đi. Những chiếc lá sắc trắng
từ trên cành rụng xuống lả tả và phủ lên mặt đất xung quanh nh một tấm thảm,
[7;96-97]. Thật là một bức tranh tuyệt mỹ. Đắm mình trong không gian ngập tràn
hoa đào ấy Singô dờng nh mới có thể quên đi những đau buồn trong cuộc sống,
một cuộc sống dẫu biết là còn lắm xô bồ nhng không ai đủ can đảm để khớc từ.
Hoa anh đào là loài hoa không có cái sức mạnh tiềm ẩn nh cây gincô
thiếu vẻ hùng vĩ của cây thông, cái rực rỡ của cây mận, cái duyên dáng của cây
liễu nhng lại mộc mạc và bình dị [12;14]. màu lá anh đào mùa thu và màu hoa
anh đào mùa xuân tạo nên cảnh thanh bình, thịnh vợng và ấm cúng, khác với
những mùa đông lạnh lẽo kéo dài [12;14].
Ngời Nhật Bản chọn hoa anh đào làm thứ hoa tiêu biểu cho dân tộc mình
vì ngay khi đạt đến độ nở đẹp đẽ nhất những bông hoa Sakura bắt đầu ụng
18
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
xuống theo những cơn gió xuân bất chợt và trải xuống theo những giọt ma xuân.
Hoa anh đào sống một cuộc đời ngắn ngủi, nhng chính vì thế nó gây ra trong
lòng ngời niềm luyến tiếc khôn nguôi về cái Đẹp. Y.Kawabata đã mợn hình ảnh
hoa anh đào để thể hiện một triết lý sâu sắc: Dù cuộc sống có đáng buồn thật đấy
nhng ngời ta không đợc phép buông xuôi hay đầu hàng mà ngợc lại phải biết vơn
lên nh loài hoa anh đào kia mỗi năm chỉ nở một lần ngắn ngủi vào mùa xuân nhng Sukura vẫn luôn đẹp, đẹp ngay cả khi đã chết. Cuộc sống con ngời cũng vậy,
đau khổ trầm luân không thể giết đi khát vọng sống. Đó cũng chính là sức sống
tiềm tàng của dân tộc Nhật, nhất là trong thời hậu chiến, luôn cố gắng vơn lên để
khẳng định vị trí của mình trong lịch sử. Có thể nói ngời Nhật đã làm đợc những
cảnh và con ngời vùng đất này đã làm anh ngạc nhiên đến sững sờ ngay khi đang
còn ở trên tàu Cái phi vật chất của hai hình ngời ấy dờng nh tơng ứng và trộn
lẫn vào bóng tối mờ ảo của phong cảnh màn đêm để tạo nên một vũ trụ duy nhất,
một thứ thế giới siêu nhiên và tợng trng không phải của thời gian này [7;226].
Một thế giới đẹp khôn tả mà Shimamura cảm thấy thấm vào tận tim anh, có cảm
giác nh anh đang đi đến một thế giới phi thực với một vẻ đẹp huyền diệu lạ kỳ
[7;227]. Anh nh đang mê đi trớc bức tranh vừa không thực lại vừa siêu nhiên, anh
bị quyến rũ bởi sắc đẹp kỳ lạ của khuôn mặt đang lớt trên nền phong cảnh ban
đêm.Anh quên cả bản thân anh , anh hoàn toàn bị cuốn hút vào những điều thần
diệu ấy và không biết mình mơ hay tỉnh nữa .
Đây không phải là lần đầu tiên Shimamura đến xứ tuyết nhng vẻ đẹp và
phong cảnh của con ngời nơi đây vẫn luôn mới mẻ và hấp dẫn anh. Lần đầu tiên
anh đến đây là vào mùa xuân đó là lúc mở đầu mùa leo núi, khi không còn
nguy cơ tuyết lở nữa, khi núi cao lại có một màu xanh mới và ngào ngạt những
hơng thơm tuyệt diệu của mùa xuân, khi những loại măng non akebi - một món
ăn sắp thiếu vắng trên bàn ăn [7;233]. Để rồi Shimamura đã không cỡng lại đợc
sự quyến rũ của vùng đất này. Xứ tuyết hấp dẫn anh bằng chính vẻ nguyên sơ
mộc mạc của nó. Vùng đất này dờng nh tách biệt hẳn với thế giới cuộc sống công
nghiệp hiện đại. Nơi đây vẫn còn giữ đợc những ngôi làng đơn sơ kiểu nông thôn
với những ngôi nhà có tấm biển phai màu, những cánh cửa đẩy kiểu cũ và những
lớp giấy tẩm dầu đen xỉn bởi thời gian, những khu suối nớc nóng và dĩ nhiên là
còn bởi cả những cô geisha nữa. Xứ tuyết nh một miền đất trong trẻo tinh khiết
cha hề biết đến cái ồn ào bụi bặm của thành phố công nghiệp hiện đại. Nơi đây
trong cảnh yên tĩnh thanh bình này, tiếng nớc rào rào chảy trên sỏi của dòng
thác xa xa vọng tới nh một bản nhạc êm dịu.[7;247]
Shimamura là ngời có những đam mê nhất thời, lúc đầu đến với xứ tuyết
anh mang trong mình tâm thế của một du khách - nghĩa là đến nghỉ ngơi hởng
thụ rồi đi. Thế nhng, con ngời có những đam mê nhất thời, hời hợt ấy đã không cỡng đợc lòng mình khi đến vùng đất này. Anh không chỉ đến một lần rồi hai lần,
ba lần mà lần nào cũng cảm thấy háo hức, mới mẻ. Có thể nói thiên nhiên và con
ngời nơi đây đã hoàn toàn chinh phục anh. Chất thơ quyến rũ của vùng núi đã tác
1.3. Một thiên nhiên thấm đẫm tình ngời
1.3.1. Một thiên nhiên hoang sơ mà ấm áp
Sinh ra ở Tokyo, Shimamura có một cuộc sống mà nhiều ngời mơ ớc, nhng
anh lại không cảm thấy hạnh phúc. Cuộc sống ở một thành phố lớn xô bồ, sặc
mùi vụ lợi với bao cám dỗ của đời sống vật dục khiến anh chán ngán. Niềm đam
mê về nghệ thuật đã vấp phải những mu toan không thể chấp nhận của các nhà
cách tân giả hiệu mà các sáng kiến của họ chỉ cốt để chiều lòng ngời xem
[7;240]. Lần đầu tiên Shimamura nghĩ tới xứ tuyết là nghĩ tới cái lạnh ở nơi đây.
Nhng anh thấy xứ này cũng có chút gì ấm áp, đó không chỉ vì màu đen sâu thẳm
của mái tóc, đó còn là cái ấm áp của tình ngời - những tình cảm xuất phát tự đáy
lòng không tính toán vật chất. Nó hoàn toàn xa lạ với lối sống ở những thành phố
21
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
lớn khi mà tất cả đều đợc đong đếm bằng những giá trị vật chất tầm thờng.
Shimamura đã nếm trải tất cả những thăng trầm của cuộc sống ấy, để rồi khi đến
đây anh chỉ có một mong muốn đó là nhằm tìm lại nhu cầu trò chuyện với mọi
ngời. [7;238] Một mong muốn bình thờng giản dị mà thật khó khăn trong một
xã hội quay cuồng chao đảo với nhịp sống gấp gáp nặng về vật chất.
Xứ tuyết - vùng đất quanh năm băng giá lạnh lẽo, nơi mà du khác chỉ đến
nghỉ ngơi một thời gian ngắn rồi đi lại là bến đỗ bình yên cho tâm hồn cô đơn và
chán chờng của anh, làm tiêu tan những phiền toái của cuộc sống nơi thành thị ở đó là lối sống lai căng, xô bồ, sặc mùi vụ lợi, sự cám dỗ của đời sống vật dục.
Chỉ có nơi đây anh mới tìm thấy sự yên tĩnh, th thái trong tâm hồn, mới cảm nhận
đợc cái kỳ diệu của núi rừng xứ tuyết, cùng hoà mình vào tiếng ca của thác nớc và tận hởng sự thanh khiết cha từng thấy của bầu trời mùa thu sáng láng.
Qua một đờng hầm dài giữa hai vùng đất thế là đã đến xứ tuyết.[7;221]
niệm về một cành hoa tuyết đã tan, một mối tình đã mất [18;295]. Y.Kawabata
đã dụng công xây dựng một không gian thiên nhiên đẫm màu sắc Nhật, một
không gian đã nuôi dỡng và bảo dỡng tâm hồn con ngời, làm tan đi băng giá và
chai sạn, giúp con ngời nhận chân đợc những giá trị đích thực và vĩnh cửu của
cuộc sống - giá trị của tình ngời.
1.3.2. Tìm đến thiên nhiên- hành trình tìm lại chính mình.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nớc Nhật rơi vào cảnh lệ thuộc đế quốc
Mỹ. Từ đó văn hoá Nhật bị ảnh hởng của các luồng văn hoá, t tởng phơng Tây.
Truyền thống cái Đẹp trong văn học Nhật ngày càng rơi vào cảnh mai một, suy
tàn. Trớc tình trạng đó Y.Kawabata là ngời tiên phong đấu tranh bảo vệ truyền
thống dân tộc. Ông là một lữ nhân không hề biết mệt mỏi trên con đờng đi tìm
kiếm khôi phục và sáng tạo cái Đẹp. Những tác phẩm của ông là lời ca ngợi vẻ
đẹp của thiên nhiên và con ngời, là sự cứu vớt những giá trị đích thực đã bị cuộc
sống đô thị vùi lấp.
Kiệt tác Xứ tuyết là tác phẩm mà Y.Kawabata dụng công vun đắp nhất. Tác
phẩm miêu tả hành trình lên xứ tuyết của chàng lãng tử Shimamura nhng chiều
sâu t tởng của tác phẩm lại không dừng ở chỗ mô tả hành trình trở về một xứ sở,
một thiên nhiên hiện hữu. Đó còn là sự trở về miền thẳm sâu trong tâm hồn trong
sạch, là hành trình tìm lại chính mình.
Một đặc trng đầy tính nhân bản của phơng Đông là lối sống chan hoà với
thiên nhiên. Dờng nh khi sống với thiên nhiên con ngời trở nên đẹp hơn, trong
sáng hơn, thanh khiết hơn. Thiên nhiên nh một tấm gơng lớn để con ngời soi
mình vào đó, nhận ra đợc những giá trị thực sự của chính mình.
Trong văn học Nhật, độc giả hẳn không ai quên đợc những cuộc hành trình
của Matshu Basho (1644 - 1694), ngời đã từ bỏ cuộc sống yên ổn để làm một lữ
nhân của phù thế, nổi tiếng nhất là cuộc du hành lên phơng Bắc đợc thực hiện
năm ông 45 tuổi. Trong hành trình đó, M.Basho đã để lại kiệt tác Oku no
hosomichi (Con đờng sâu thẳm). Chủ đề của Con đờng sâu thẳm là cuộc hành
23
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Tây [7;240]. Đó là một niềm đam mê của một ngời tình lý tởng, yêu một cách
cao quý và thuần khiết cha hề bao giờ gặp đợc ngời mình yêu nồng cháy
[7;241]. Cha hết anh cũng cảm thấy thích thú khi bớc vào giới văn học [7;241]
nhng anh lại không coi trọng thực sự cả những công trình nghiên cứu thỉnh
thoảng anh công bố, cả tác giả của chúng [7;241].
Shimamura đã sống một cuộc sống nhiều đam mê nhng không sâu sắc,
chính vì thế anh không tìm đợc ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Anh đã ngạc
24
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thuý Quỳnh - 42A2 Văn
Khoá luận tốt nghiệp - 2005
nhiên biết bao khi thấy Komako ghi nhật ký. Anh càng ngạc nhiên hơn khi biết
cô ghi từ năm mời lăm, mời sáu tuổi. Shimamura đã quen đánh giá mọi việc bằng
lợi ích vật chất, chính vì thế anh đã không hiểu vì sao Komako lại dám hi sinh cả
những năm tháng tuổi trẻ để đi làm gesiha lấy tiền chữa chạy cho anh con trai bà
giáo dạy nhạc, không hiểu đợc vì sao cô lại tự xây cho mình vỏ bọc bớng bỉnh,
nhiều khi thất thờng.
Y.Kawabata đã để cho nhân vật của mình tự suy ngẩm, tự mổ xẻ bản thân.
Những ngày thơ mộng cùng Komako đi chơi, đi tắm suối, cùng thởng thức cảnh
sắc tuyệt vời vùng tuyết, đặc biệt đợc nghe cô tâm sự, anh thấm thía cái cảm
giác cố gắng vô ích, cái cảm giác nhọc nhằn uổng công, đến mức chỉ một chút
nữa thôi là anh thấy cuộc đời anh cũng cằn cỗi vô bổ [7;259] . Những kiến thức
nghệ thuật mà anh say sa tìm hiểu, nghiên cứu tởng chừng nh lãng quên thì đến
đây lần đầu tiên kiến thức của anh đợc đem dùng có hiệu quả vào một việc gì
đó, bởi vì trong lúc trò chuyện những kiến thức ấy đã giúp anh gợi đợc tình cảm
thân mật của cô gái anh vừa quen [7;242]