Vận dụng tư tưởng đạo đức hồ chí minh vào giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ công chức ở thị xã sa đéc, tỉnh đồng thá - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THANH TÙNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC,
LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC
Ở THỊ XÃ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH:
LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN CHÍNH TRỊ


- 2-

ĐỒNG THÁP 11/2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THANH TÙNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC,
LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC
Ở THỊ XÃ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH:
LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN CHÍNH TRỊ

Đồng Tháp, năm 2010
Tác giả luận văn

Võ Thanh Tùng


- 4-

MỤC LỤC
Mục lục............................................................................................................4
MỞ ĐẦU........................................................................................................5
NỘI DUNG.....................................................................................................11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC...........................11
1. Một số khái niệm........................................................................................11
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.............................................................14
3. Tính tất yếu của công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, công chức
trong giai đoạn hiện nay..................................................................................27
4. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, công chức ở thị xã
Sa Đéc..............................................................................................................34
5. Đánh giá chung............................................................................................41
6. Những kinh nghiệm.....................................................................................50
Chương 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG
CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở THỊ XÃ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
1. Phương hướng chung..................................................................................54
2. Mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nâng cao đạo đức, lối sống của cán bộ,
công chức ở thị xã Sa Đéc giai đoạn hiện nay.................................................56
3. Những giải pháp chủ yếu.............................................................................59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...............................................................82

dụng, kích thích tư duy sáng tạo của mọi người, khắc phục sự ỷ lại, bảo thủ


- 6-

trước đây… Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, kinh tế thị trường cũng
tạo ra những mặt trái của nó như: lối sống thực dụng, xa hoa, lãng phí và tệ nạn
xã hội theo đó mà nảy sinh.
Thị xã Sa Đéc là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của
tỉnh Đồng Tháp, đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng đông. Thời gian qua, số
đông cán bộ công chức thị xã tận tụy, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục
vụ nhân dân, tuy nhiên một số còn chưa thấy hết vị trí, vai trò, trách nhiệm của
mình là công bộc của dân, còn quan liêu, hách dịch, tham nhũng, vô cảm với
nhân dân.
Nhận thức được vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ
mới, Thị ủy, Ủy ban nhân dân thị xã rất quan tâm đến việc giáo dục đạo đức lối
sống cho đội ngũ này trong đó đặc biệt chú trọng đến việc đưa tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh vào rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, công chức.
Những năm qua, việc giáo dục đạo đức lối sống cho cán bộ công chức
dựa trên các chuyên đề “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
ở thị xã Sa Đéc đã được triển khai bước đầu có kết quả tích cực, tuy nhiên, công
tác này cũng có những hạn chế nhất định: một số cản bộ vẫn còn yếu kém về
nhận thức và hành động, chưa thấy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong phục
vụ nhân dân. Trên thực tế, thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại
chúng, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ án tham nhũng lớn. Có thể nói, tham
ô, lãng phí, xa hoa… đã và đang là căn bệnh nguy hiểm đối với xã hội ta. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến tính trạng đó, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất
đó là sự sa sút về đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức.
Do vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải nghiên cứu một cách sâu sắc về
vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, công chức theo tư tưởng đạo đức

hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn.
Nghị quyết hội nghị TW6 (Khóa X) về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, Đảng viên.
- Một số công trình nghiên cứu có liên quan như:


- 8-

+ Sách “xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ
thống chính trị đổi mới”, của PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên 1998, đã xác
định tiêu chuẩn cán bộ thực trạng đội ngũ này, tiêu chuẩn phương hướng, giải
pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
+ Sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, PGS.TS
Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên, 2003, đã đề cập nhiều
đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.
+ Các tài liệu bồi dưỡng về đạo đức cho cán bộ công chức của Ban chỉ
đạo Cuộc vận động: “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do
NXB chính trị quốc gia xuất bản vào các năm 2007, 2008, 2009, 2010
+ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, NXB Chính Trị
quốc gia, Hà Nội…
Như vậy, vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống nhằm xây dựng đội ngũ cán
bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” ở nước ta cũng đã được đề cập rất nhiều. Riêng ở
thị xã Sa Đéc vấn đề này còn mới mẻ, cho đến nay, chưa có một công trình khoa
học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống về vấn đề này, đây là
một khó khăn cho tác giả. Vì thế, đề tài luận văn mà tác giả lựa chọn không
trùng lấp với các công trình khoa học đã công bố. Các công trình nghiên cứu nêu
trên với nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau là điều kiện để tác giả tham khảo
và tìm ra những phương pháp thích hợp để giải quyết vấn đề mà luận văn đặt ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nêu bậc thực trạng nguyên nhân những ưu điểm, hạn chế của công tác
giáo dục đạo đức, lối sống và đề ra những giải pháp cơ bản khả thi trong việc
giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức trong thời gian tới, giúp cho các cấp ủy,
chính quyền có cơ sở để thực hiện công tác bồi dưỡng, giáo dục cán bộ đạt hiệu
quả cao hơn, củng cố và xây dựng niềm tin cho nhân dân vào đội ngũ cán bộ,
công chức ở thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu


- 10-

tham khảo; ngoài ra, cũng có thể sử dụng trong việc nâng cao hiệu quả của Cuộc
vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 2 chương, trừ phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham
khảo, phụ lục.


- 11-

NỘI DUNG
Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC
1.1 Lý luận chung về đạo đức
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Về đạo đức
Đạo đức là một phạm trù rất rộng nhưng lại rất cụ thể. Trong cuộc sống
hằng ngày, chúng ta thường nhắc đến cụm từ đạo đức trên mọi lĩnh vực: đạo đức

điểm tư tưởng, lý luận, con người đã hoạt động thực tiễn, tức là đã sản xuất ra
các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các
hình thái ý thức xã hội của một thời đại đều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội đó. Ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội. Đạo đức
cũng vậy, nó là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng
các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của con người.
Chủ nghĩa Mác – Lênin nêu bật khái niệm đạo đức như sau: đạo đức là
một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực
xã hội nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong
các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.
Như vậy, đạo đức không phải là cái sẵn có ở đâu đó, nó được hình thành
từ khi có xã hội loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng loài người, tuy nhiên đạo
đức lại có tính lịch sử là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, mà
tồn tại xã hội lại không bất biến. Hình thái ý thức xã hội đạo đức giúp con người
điều chỉnh hành vi của mình hướng con người đến cái chân, thiện, mỹ.


- 13-

1.1.1.2. Về giáo dục đạo đức
Đây là sự tác động có mục đích, có định hướng với các hình thức, biện
pháp khác nhau của chủ thể đến khách thể nhằm nâng cao tri thức, nhận thức
của khách thể về hệ tư tưởng, đường lối, truyền thống, đạo lý dân tộc,... nhằm
hướng đến mục đích đã định. Theo nghĩa đó, giáo dục đạo đức là một quá trình
truyền bá, phổ biến một cách cơ bản, có hệ thống về những giá trị tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, công chức nhằm xây dựng thế giới quan,
nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, hình thành đạo đức lối sống tốt
trong cán bộ, công chức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: học là để sửa chữa tư tưởng; học là để tu
dưỡng đạo đức cách mạng; học để tin tưởng và học để thực hành cho tốt.

Đảng đã được phân công, lại phải còn là một thành viên tốt của gia đình, là một
người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và ngoài xã hội, sống cuộc sống chan
hoà, gần gũi với mọi người chung quanh trong cùng bản làng, thôn xóm…
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Cách đây hàng nghìn năm, vai trò của đạo đức đối với xã hội đã được các
nhà xã hội học xem xét và bàn luận tới.
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (thế kỷ thứ VI tr CN) đã
khuyên học trò “tiên học lễ, hậu học văn”. Mạnh Tử rất đề cao đạo đức đến mức
ông đề xuất quản lý xã hội bằng “đức trị”.
Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, học thuyết của đạo Phật do Thích Ca Mâu Ni
sáng lập đã đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức. Cái cốt lõi của đạo đức Phật giáo
là khuyên con người sống thiện, biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, xa lánh cái
ác.
Trong xã hội Hy Lạp – La Mã cổ đại, đặc trưng cơ bản nhất về giáo dục
con người được thông qua những truyền thuyết, các sử thi… cũng để đề cao giá
trị đạo đức - cái cao thượng của con người. Đó là nữ thần Atina đẹp như mặt
trăng, đầy tình nhân ái đối với con người. Hình tượng thần Dớt có tài, đức vẹn
toàn. Ôđixê là bản trường ca bất hủ, một biểu tượng cao đẹp về tính trung thực,


- 15-

lòng quả cảm, sự trong sáng trong tình bạn, tình yêu… Tất cả những hình tượng
đó đều là những phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người.
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức được các nhà nghiên cứu xã hội đặt ra rất
sớm. Đặc biệt trong các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, nhân dân ta đã đề cao
những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức giúp con người hướng đến những điều tốt
đẹp. Truyện Tấm Cám, Cây Tre Trăm Đốt, Trạng Quỳnh… đều giáo dục con
người hướng thiện và nhân cách cao đẹp trong cuộc sống.

thức dậy trong con người những tình cảm tốt đẹp, những phẩm chất cao quý, đó
là lòng nhân ái, vị tha, tính trung thực, thẳng thắn…Đạo đức như một động cơ
có sức mạnh thôi thúc con người đấu tranh chống lại những cái ác, cái xấu, giữ
gìn và phát huy những cái tốt, cái thiện.
Như vậy, đạo đức có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã
hội. Xã hội loài người càng tiến lên thì vai trò của đạo đức càng quan trọng, có
thể đạo đức sẽ nắm vai trò điều khiển xã hội, thay thể chức năng quản lý con
người bằng pháp luật. Khi xã hội phát triển đến mức văn minh thì một số hình
thái ý thức xã hội sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát triển cùng với
loài người.
Mặt khác, đạo đức cũng có tính hai mặt của nó. Nếu hệ thống các nguyên
tắc, chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp với đời sống xã hội, với xu thế vận
động của xã hội thì đạo đức sẽ có tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển;
còn ngược lại nó sẽ gây nên những tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển xã
hội. Do vậy, trong quá trình xây dựng xã hội mới, chúng ta phải biết kế thừa và
phát triển những giá trị đạo đức truyền thống phù hợp với xã hội ngày nay; đồng
thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức cũ, không còn phù hợp, xây dựng chuẩn
mực đạo đức mới tiến bộ hơn.
1.1.2.2. Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của
người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23
điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn
về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với


- 17-

công việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là
một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một
cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng

cúi đầu.
Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần
chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.
Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng
Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường
nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự,
lương tâm của dân tộc và thời đại.
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu
yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh
vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan
hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với công việc. Tư tưởng Hồ
Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên,
nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ,
Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật
sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.
1.1.3 Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam
trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh
a) Trung với nước, hiếu với dân
Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương
Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.
Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước,
phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu".
Nước là của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích


- 19-

của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì

nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên,
kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm.
Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp
hơn. Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa
chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ.
Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng
con người.
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ
nghĩa Mác - Lênin để thương yêu nhau hơn. Người viết: "Hiểu chủ nghĩa Mác Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống
không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được" [18,
tr.163]
c) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là
phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh, là mối quan hệ “với tự mình”.
Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con
người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ
thể nội dung từng khái niệm.
- Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có
năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không
ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn
sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta” [22, tr.632]
- Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân,
của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ,
không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức...” [35, tr. 636].


- 21-

Tiết kiệm khác với hà tiện, bủn xỉn. Nghĩa là khi cần thiết thì bao nhiêu tiền

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những
quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì
Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới,
anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh
thể hiện trong các điểm sau:
Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh
giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.
Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu
chung, “bốn phương vô sản đều là anh em” [23, tr.192]
Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.
Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước
chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của
chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc...
1.1.3.1 Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
Hồ Chí Minh nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong
xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động
viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện. Đó là:
1.1.3.2. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức
Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm.
Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ
đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên... là rất quan trọng. Người
yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm
gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên...
Đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Người nói: “Trước mặt
quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu
mến.


- 23-

- 24-

định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ
không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [21, tr.557 – 558]
Tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì
ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong
mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn
hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái
ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động
thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan
hệ của mình.
1.1.3.5. Về tiết kiệm.
Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều đến
tiết kiệm và thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người đã
luận giải kỹ các nội dung trên như sau:
Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm “là không xa xỉ, không hoang phí, không
bừa bãi” [19, tr.636]
Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho
Tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng.
Tiết kiệm là tích cực. “Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân
dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà
tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân
dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”
[19, tr.636]
Tiết kiệm là để phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc.
Để tăng thêm tiền vốn xây dựng đất nước. Điều này càng quan trọng khi
nước ta là nước dân chủ nhân dân, không thể tích lũy vốn theo kiểu thực dân, đế
quốc bằng cách cướp bóc thuộc địa, bóc lột công nhân, nông dân, vay nợ nước
ngoài...


mà biến thành người có tội với cách mạng. “Chúng ta phải cứu vãn họ, giúp họ


Trích đoạn Những kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status