1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
!"
"#$%%
&'
% ()*+,
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
!"
"#$%%
/011231-4 56789:;-<:-=;
>?@A4 B)C+DC*+C*,
&'
EFG4
+C&C&HI125J: 12
)C&7312K12L1
% M)*+,
2
N>O
!"#$%&%'
(()*+
Tác giả luận án
-P1.A:-5Q1
38
1.3.5. Vai trò, vị trí tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao trong tiêu dùng
xã hội
39
+CDC-n;RHV12;50.8m12;^UX./[1;-<89:;-<;-P7 43
4
Eb)COEo%Eb 44
)C+COA5;Hp1212-501:q. 44
2.1.1. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 44
2.1.2. Kế hoạch nghiên cứu 45
2.1.3. Cơ quan phối hợp nghiên cứu 47
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu 48
)C)C-HI12U-6U12-501:q. 48
2.2.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 48
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn và tọa đàm (phiếu hỏi) 49
2.2.3. Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học 49
2.2.4. Phương pháp toán học thống kê 50
2.2.5. Phương pháp toán thống kê kinh tế 52
2.2.6. Phương pháp điều tra tâm lý hành vi tiêu dùng 52
2.2.7. Phương pháp thực nghiệm ứng dụng 53
)C,Cr:-q:;-s:12-5[J 54
Eb,Ct%%
55
,C+CT1--T1-;50.8m12;^UX./[1;-<89:;-<;-P7:uP:K12:-q:"\501
:-q:"87P1-1-L1vJh;@A:I@v:K12X^U\312735:K12X^U;R01Wi5
S313h5C
55
3.1.1. Loại hình tiêu dùng tập luyện TDTT của công chức, viên chức,
doanh nhân tại một số cơ sở nội thành Hà Nội
55
3.2.1. Tình hình sân bãi, mật độ tập luyện TDTT 86
-+2+,+,+.H$1;0JK 87
-+2+,+2+(9.H$1$?":">;AL
F">$"> ":>35:+
89
3.2.2. Tình hình tổ chức thi đấu tại các cơ sở dịch vụ TDTT 91
3.2.3.Tình hình môi trường dịch vụ sự thỏa mãn dịch vụ tập luyện của
người tập
95
-+2+-+,+%6)>.H$1 95
-+2+-+2+M#N9">F;AL">
$">
99
3.2.4. Bàn luận tình trạng tổ chức cung ứng dịch vụ tập luyện thể dục
thể thao của các cơ sở công lập và ngoài công lập
103
-+2+4+,+I?;$":6"> 104
-+2+4+2+I?#;.H$1 ">0 106
-+2+4+-+I?<#>.H$1">0.1
0
108
,C,C128912Jh;@A25_5U-6U1-xJ1L12:P7:-=;XHp12;^UX./[1;-<89:
;-<;-P7:uP:K12:-q:"\501:-q:"87P1-1-L1C
110
3.3.1. Nguyên tắc lựa chọn các giải pháp 110
3.3.2. Chọn lựa giải pháp 111
-+-+2+,+O1DPQ#!>> 111
-+-+2+2+R%A>> 112
3.3.3. Nội dung các giải pháp ứng dụng vào thực tiễn 114
-+-+-+,+5:.!>> 114
QH - Quốc Hội
TN - Thực nghiệm
TTN - Trước thực nghiệm
STN - Sau thực nghiệm
TDTT - Thể dục thể thao
TP - Thành phố
UBND - Ủy ban nhân dân
VC - Viên chức
VHTTDL - Văn hóa, Thể thao và Du lịch
>tz
3.1. Hiện trạng nghề nghiệp và sự lựa chọn môn thể thao (n= 861) 60
3.2. Tình trạng lứa tuổi người tập thể dục thể thao(n= 861) 61
3.3. Số buổi tập thể thao trong tuần(n= 861) 62
8
3.4. Thời điểm tập luyện thể thao trong ngày(n= 861) 63
3.5. Thời lượng một buổi tập của đối tượng điều tra 65
3.6. Thời gian đã tham gia tập luyện TDTT thường xuyên(n= 861) 65
3.7. Thời điểm dành cho tiêu dùng TDTT (n= 861) Sau trang
66
3.8. Những yếu tố có tính chủ quan quyết định tham gia tập luyện
TDTT (n = 386)
69
3.9. Những yếu tố có tính khách quan quyết định tham gia tập luyện
TDTT(n = 475)
71
3.10. Tình hình thu nhập của đối tượng (n= 861) 74
3.11. Giá và chi phí tiêu dùng theo môn thể thao 75
3.12. Tỷ lệ % chi phí TDTT so với lương cơ bản (tháng) 77
3.13. Tình hình cung ứng dịch vụ sân bãi tập luyện (Trung tâm TDTT
Ba Đình)
3.5. Tổng điểm đánh giá sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở công lập 122
3.6. Tỷ lệ % sự hài lòng về các tiêu chí tại cơ sở công lập 122
3.7. Tổng điểm đánh giá sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở ngoài công lập 125
3.8. Tỷ lệ % sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở ngoài công lập 126
3.9. Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Quần Vợt Sau trang
127
3.10. Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Cầu lông Sau trang
127
3.11. Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Bóng bàn 128
10
a>$Oa
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa xã
hội nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho con người, nâng cao thành tích
thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người
phát triển toàn diện. Mục tiêu cơ bản phát triển TDTT của nước ta nhằm góp
phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, phục vụ cho việc bảo vệ
và xây dựng đất nước giàu mạnh. Mục tiêu này đồng thời cũng là chiến lược
lâu dài về con người mà trong đó, sức khỏe là vốn quý của con người và là tài
sản của mỗi quốc gia. [1]
Với quan điểm: Con người là vốn quý nhất của quốc gia, Đảng và Nhà
nước ta xem việc “Bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân là một vấn đề
rất quan trọng, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội,
với hạnh phúc của nhân dân. Đó là một trong những mối quan tâm hàng đầu
của chế độ ta, là trách nhiệm cao quý của Đảng và Nhà nước ta [57]
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ngày 18/11/1975 Ban bí thư
trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 227 chỉ đạo công tác thể dục thể thao
(TDTT) cho cả nước trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ: công tác TDTT cần
phấn đấu vươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể vào nền
nếp, phát triển công tác TDTT có chất lượng, có tác dụng thiết thực nhằm
mục tiêu "Khôi phục và tăng cường sức khoẻ của nhân dân góp phần xây
và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệm
của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người
dân. Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác thể dục
thể thao, bảo đảm cho sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển”.
- Đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển
của đất nước. Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao;
2
đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý điều
hành các hoạt động thể dục, thể thao.
- Giữ gìn, tôn vinh những giá trị thể dục thể thao dân tộc, tiếp thu
những tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển nền thể dục, thể thao nước ta
mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh.
Nhiệm vụ và giải pháp đã được thể hiện qua 6 giải pháp là:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao
trường học;
- Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quần
chúng;
- Nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng trẻ;
- Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu ứng dụng
khoa học và công nghệ;
- Đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước,
phát triển các tổ chức xã hội về thể dục thể thao; tăng cường hợp tác quốc tế;
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền.
[36]
Trong thời kỳ xây dựng phát triển đất nước trên con đường hội nhập với
thế giới thì vấn đề sức khoẻ lao động, nghỉ ngơi của công chức nhà nước
trong bối cảnh đô thị hoá đã trở thành mối quan tâm mang tính xã hội, nhưng
trong thời đại hiện nay có rất nhiều loại hình nghỉ ngơi, giải trí, nhu cầu văn
động cả nước có những ý nghĩa quan trọng về kinh tế xã hội. [20], [21]. Cùng
với việc đánh giá công tác TDTT hàng năm của ngành TDTT còn có một số
đề tài nghiên cứu tình hình tập luyện TDTT của nhân dân tại các thành phố
Hồ Chí Minh, Nghệ An….[45],[47] nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu
tình hình tập luyện TDTT của quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
Xuất phát từ những điều lý giải trên đây cho thấy việc nghiên cứu tình
hình tiêu dùng tập luyện TDTT không chỉ có ý nghĩa về củng cố tăng cường
4
sức khoẻ mà còn là vấn đề lối sống xã hội văn minh, tiến bộ khi mỗi người
dân dù hoàn cảnh nào vẫn có thể thu xếp công việc và thời gian, tiền bạc để
hoạt động TDTT nhằm bồi dưỡng sức khoẻ, vui chơi giải trí. Xuất phát từ cơ
sở tiếp cận trên, đề tài tiến hành:“Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện
thể dục thể thao của cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân ở thành phố
Hà Nội”.
>O~
Nghiên cứu tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của cán bộ
công chức, viên chức, doanh nhân tại các cơ sở TDTT công lập và ngoài công
lập ở nội thành Hà Nội nhằm làm rõ những yếu tố thuận lợi và hạn chế để tìm
ra những giải pháp phù hợp nâng cao chất lượng tiêu dùng tập luyện TDTT.
>4
>9:;50.+4Điều tra hiện trạng tiêu dùng dưới hình thức tập luyện thể
dục thể thao của cán bộ, viên chức, doanh nhân trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Mục tiêu này gồm các vấn đề cơ bản cần giải quyết dưới đây:
+ Tình hình tiêu dùng tập luyện TDTT của công chức, viên chức, doanh
nhân tại một số cở sở công lập, ngoài công lập Hà Nội gồm: loại hình tiêu
dùng tập luyện, nghề nghiệp và lứa tuổi người tập;
+ Nghiên cứu tình hình tập luyện thể dục thể thao của cán bộ, viên
chức, doanh nhân ở một số cơ sở nội thành Hà Nội gồm: tính thường xuyên
tập luyện và sử dụng các loại hình tiêu dùng khác;
vào thời kỳ xã hội hiện đại và sự hiện đại hóa. Quá trình biến đổi và phát triển
của thể dục thể thao vừa là quy luật tất yếu vừa là sản phẩm của xã hội biến
thiên. Do vậy thể dục thể thao hiện đại là một tiêu chí quan trọng của xã hội
hiện đại. Bởi lẽ, thể dục thể thao có mối tương quan chặt chẽ với sự biến thiên
của xã hội và xã hội hiện đại. Nước ta đang trong giai đoạn phát triển hiện đại
hóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh dẫn đến những ảnh hưởng quan
trọng tới thể dục thể thao.
Thể dục thể thao hiện đại là tài sản vô giá mà nhân loại đã sáng tạo ra
để thỏa mãn nhu cầu sống và phát triển, thể dục thể thao là hiện tượng xã hội,
chính thể dục thể thao đã và đang là một bộ phận cấu thành lối sống của con
người và xã hội. Trên thế giới không có một Quốc gia nào (cho dù nhỏ bé đến
đâu) mà không có thể dục thể thao, cho nên có thể nói trong lối sống của con
người, của xã hội về bản chất không thể thiếu trò chơi, thể dục thể thao không
chỉ nhằm hoàn thiện chất lượng sống mà còn là giải trí tinh thần. Mức độ, quy
mô, trình độ đỉnh cao của thể dục thể thao ở mỗi Quốc gia khác nhau như một
giá trị về trình độ phát triển xã hội. [68], [69], [74].
1.1.1. Phương thức sản xuất hiện đại công nghiệp hóa
Đặc trưng của phương thức sản xuất hiện đại: Phương thức sản xuất
hiện đại có các đặc trưng cơ khí hóa, quy mô hóa, cao tốc hóa và tự động hóa
[21],[22]
Ảnh hưởng của sự thay đổi phương thức sản xuất hiện đại tới sức khỏe
của người lao động:
[C>%A:\
7
Lao động thể lực Lao động trí thức = Giảm nhẹ cường độ lao động
cơ bắp, thể lực. Lao động thể lực và lao động trí óc đều gây ra mệt mỏi và
tính chất mệt mỏi được các nhà sinh lý học xác định như mô hình dưới đây:
>[;J•5
Mệt mỏi về thể lực - mệt mỏi
cục bộ gia tăng, các bộ phận khác
[84].
Các nhà tâm lý học đã khái quát khả năng đó theo sơ đồ dưới đây:
-5[;;T1-
X3J\5[:
Oh12:I;A;
:l. X! N
MBP
VZ
:l. ;-<
89:;-<;-P7
7i;Wh12;-<Xs:
:€Wn1--Hw12
51-Xs:X3J\5[: `5U-9:;A;
2-• 12I5 ;‚:-
:s:X3;:
!D+$+$]Z
Chất lượng cuộc sống với trình độ sức khỏe của xã hội:
Chất lượng cuộc sống gồm yếu tố vật chất và tinh thần, môi trường
sống và làm việc. Nhìn chung, xã hội hiện đại làm ra của cải vật chất nhưng
cũng gây không ít tác động xấu tới con người, ở đây chỉ nói tới vấn đề
phương thức sinh hoạt. Phương thức sinh hoạt có mối quan hệ gắn bó với sức
khỏe của mọi người. Sự biến đổi của phương thức sinh hoạt, nhịp độ sinh hoạt
đều sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của cá nhân, thậm chí sức khỏe của cả cộng
đồng và xã hội. Trong cuộc đời của mỗi con người, phương thức sinh hoạt
không thể hình thành bất biến. Cùng với sự biến đổi của phương thức sinh
hoạt, sự phong phú hoặc nghèo nàn của nội dung sinh hoạt, rộng mở hoặc
chật hẹp về lĩnh vực, sự nâng cao hay hạ thấp về chất lượng, tăng nhanh hoặc
9
giảm chậm nhịp độ sống đều mang đến ảnh hưởng tốt hoặc xấu cho sức khỏe.
[21], [69].
gian rảnh rỗi cố định. Trong thời đại công nghiệp, thời gian rảnh rỗi và thời
gian làm việc đã có sự khác biệt rõ ràng hơn. Đến xã hội thời đại thông tin,
thời gian lao động của mọi người sẽ rút ngắn rõ rệt, đồng thời tương đối tập
trung. Quan niệm của mọi người sử dụng thời gian rảnh rỗi hữu ích được mở
rộng, trong đó xu thế phát triển mạnh mẽ các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí
đang trở thành một bộ phận cấu thành của thời gian rảnh rỗi, thể dục thể thao
cho mọi người cũng theo đó mà phát triển. [20]
Hiện nay, thời gian rảnh rỗi ở các thành phố lớn của nước ta tương đối
ngắn đã ảnh hưởng đến việc triển khai thể dục thể thao cho mọi người. Trình
độ sản xuất của nước ta thấp là nguyên nhân căn bản hạn chế thời gian rảnh
rỗi của cư dân ở nông thôn và thành phố. Hiện tượng này được biểu hiện ở
các mặt sau:
+ Thời gian sản xuất tương đối dài, lao động thể lực nặng nề và dày
đặc. Một số công nhân viên chức ngoài 8 giờ lao động hàng ngày còn phải
tham gia các công việc sự vụ hoặc làm nghề phụ để tăng thu nhập;
+ Phí tổn “thời gian có quan hệ với học tập và công tác” tương đối nhiều,
kể cả những sinh hoạt cá nhân, bạn bè trong ăn uống liên tục diễn ra hàng ngày
+ Thời gian lao động phục vụ gia đình quá dài, cán bộ công chức nam
giới ở nước ta bình quân chi phí nhiều hơn 2,5 - 2,8 giờ mỗi ngày vào công
việc gia đình so với các nước khác trên thế giới. Thời gian tự do của nam cán
bộ công chức ít hơn 1,6 - 2,3 giờ, nữ ít hơn 1,3 - 2,6 giờ mỗi ngày so với các
nước công nghiệp tiên tiến khác. Theo quy luật cạnh tranh của kinh tế thị
trường ở một số quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp còn chiếm đa số như ở
nước ta thì cư dân nông thôn hầu như không có thời gian rảnh rỗi để sử dụng
vào mục đích cao quý theo sự phát triển của văn minh xã hội. Nếu có các hoạt
động trong thời gian rảnh rỗi của hầu hết cư dân nước ta phần lớn dừng ở các
“loại hình loại trừ mệt mỏi”. Một số nhà xã hội học thế giới cho rằng: hoạt
11
động trong thời gian rảnh rỗi có thể được chia làm 3 ngôi thứ là “loại hình
loại trừ mệt mỏi”, “loại hình đầu tư thể chất” và “loại hình vui chơi tiêu
thể dục thể thao là một trong những biện pháp hữu hiệu được đưa ra. [21],
[32], [42].
Đô thị hóa là quá trình lịch sử tự nhiên chuyển biến từ xã hội nông thôn
truyền thống lạc hậu sang xã hội thành thị hiện đại tiên tiến. Xét từ góc độ kết
cấu không gian thành thị, chủ yếu chia thành hai giai đoạn và được biểu hiện
qua quá trình phát triển từ phân tán tới tập trung rồi lại chuyển hóa tới phân
tán.
^;HG">
Quá trình đô thị hóa cận đại cho thấy, tập trung là hình thức biểu hiện
nổi trội nhất của đô thị hóa giai đoạn ban đầu. Tập trung khiến nhân khẩu
thành thị gia tăng, quy mô thành phố mở rộng, biến nông thôn thành đô thị,
biến thành thị nhỏ thành thành thị lớn. Tập trung khiến thành thị trở thành
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là trọng tâm của phát triển xã hội.
Kết cấu không gian và phân bổ của đô thị tập trung thường được quy
hoạch bằng thuyết đường tròn đồng tâm và thuyết xèo quạt, thông thường bao
gồm các khu vực chức năng như khu thương mại, khu công nghiệp, khu văn
hóa - công viên, khu thể dục thể thao quy mô lớn và tập trung khu dân cư
.v.v Trong những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu sử dụng
vành đai sinh hoạt thể dục thể thao để đối ứng với vành đai sinh hoạt đô thị,
có ảnh hưởng tới sự hình thành kết cấu không gian thể dục thể thao theo
phương thức tập trung của Nhà nước và các đoàn thể, các thành phần kinh tế
cung ứng dịch vụ thể dục thể thao.
^;HG>
Quá trình đô thị hóa tập trung cao độ không những làm gia tăng áp lực
của đô thị, mà còn tạo ra lực bức xạ khá lớn. Cùng với sự phát triển của các
13
phương tiện giao thông và kỹ thuật truyền thông, không gian sống và phạm vi
hoạt động kinh tế của nhân loại không ngừng mở rộng, thúc đẩy sự phân tán
nhân khẩu thành thị và khu vực hoạt động của họ, dẫn đến sự biến đổi to lớn
của hình thức đô thị. Biểu hiện nổi bật nhất của quá trình đô thị hóa phân hóa
tri thức, con người đã dần thay sức lao động thể lực chân tay đơn thuần bằng
máy móc cơ giới hóa, tự động hóa.
Xã hội văn minh hiện đại không phải hoàn toàn có lối sống lành mạnh.
Không ít nhà nghiên cứu chỉ ra nếu chỉ chạy theo hưởng thụ vật chất và tinh thần
đơn thuần, không có lối sống văn minh trong xã hội khỏe mạnh thông qua trạng
thái thể chất (hình thái, chức năng, thể lực, tâm lý, thích nghi ) thì cộng đồng
người không tạo ra một xã hội khỏe mạnh đúng nghĩa phù hợp phát triển sinh
học tự nhiên và xã hội văn minh hiện đại. Nhiều Nguyên thủ quốc gia của thế
giới đã hưởng ứng khuyến nghị của Liên hiệp quốc về 2 chính sách một mục
tiêu là chăm lo sức khỏe phòng chống chữa bệnh do ngành y tế đảm nhiệm và
chăm lo sức khỏe thể chất do ngành Thể dục thể thao đảm nhiệm là chính sách
quốc gia phải có trong cấu thành hệ thống chính sách của thiên niên kỷ đương
đại. [73]
Những năm gần đây kinh nghiệm toàn thế giới đã chỉ ra: Rèn luyện
thường xuyên để con người vận động về thể lực về tâm lý tinh thần chính là
phương tiện hữu hiệu bù đắp cho thiếu vận động thể lực. Tất nhiên phải chú ý
việc làm con người tham gia vận động khỏe hơn với mục đích vận động phù
hợp tăng sự thích ứng về thể lực cho từng cá nhân, không phải là “thể thao
hóa” để đạt kỷ lục mà phổ cập hóa thi đấu quần chúng vận động như các môn
thể thao giải trí thúc đẩy mọi người tập hiệu quả cao hơn. [17], [22]
Năm 1995, Liên hợp quốc khuyến nghị các quốc gia là năm giáo dục
thể chất theo tinh thần thể thao Olympic để có ý thức rèn luyện suốt đời thông
qua hoạt động thể thao.
15