Nâng cao năng lực cán bộ công chức xã Xương Giang – thành phố Bắc Giang – tỉnh Bắc Giang - Pdf 19


LỜI MỞ ĐẦU
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính
bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị. Cấp xã
giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối,
chính sách, pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp
chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân.
Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng được xây
dựng và củng cố, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cơ sở.
Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố
chính quyền cấp xã vững mạnh. Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính
quyền cấp xã vững mạnh thì phải xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và
phẩm chất để thực hiện sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ
sở xã, phường, thị trấn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước đã xác
định từ nay đến năm 2005, cần tập trung giải quyết mấy vấn đề cơ bản và bức
xúc trong đó ghi rõ:
Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm,
thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết
hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở [20, tr. 167-168].
Thực tế cho thấy, ở những xã chính quyền vững mạnh là do có đội ngũ
cán bộ mạnh và những xã yếu kém thì thường cũng bắt đầu yếu kém từ khâu
cán bộ. Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã trong cả
nước nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng đã có những mặt tiến bộ rõ nét.
1
Thực hiện Nghị quyết 09 ngày 14 tháng 8 năm 1997 của Hội đồng nhân
dân (HĐND) tỉnh Bắc Giang về xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững
mạnh, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng

của các đại biểu HĐND cấp xã không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của
nhiệm vụ mà nhân dân giao cho.
Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về đội ngũ cán
bộ chính quyền cấp xã để có giải pháp nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Bắc Giang. Từ những phân tích nêu trên em
xin chọn đề tài: "Nâng cao năng lực cán bộ công chức xã Xương Giang –
thành phố Bắc Giang – tỉnh Bắc Giang" để làm chuyên đề thực tập.
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực đội ngũ cán bộ công chức xã
Chương 2: Thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ công chức xã Xương
Giang – TP. Bắc Giang – tỉnh Bắc Giang.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp
xã Xương Giang – TP. Bắc Giang – tỉnh Bắc Giang.
Do thời gian thực tập có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên chuyên đề
của em không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết về nội dung và hình
thức. Vì vậy em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô
trong Khoa Quản lý Kinh tế để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CÔNG CHỨC XÃ
1.1. Cán bộ công chức cấp xã
1.1.1. Khái niệm cán bộ công chức cấp xã
Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt

tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan Nhà
nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây:
1. Văn phòng Quốc hội ;
2. Văn phòng Chủ tịch nước;
3. Các cơ quan Nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;
4. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án dân
sự các cấp;
5
5. Cơ quan đại diện Nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân;
7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
1.1.2. Vai trò của cán bộ công chức cấp xã
Cán bộ, công chức và chất là vấn đề cốt lõi của mỗi hệ thống, cơ quan,
tổ chức. Đó vừa là mục tiêu vừa là căn cứ để hệ thống tồn tại và phát triển.
Nếu chất lượng cán bộ, công chức không có hoặc yếu kém có thể dẫn tới suy
thoái, bộ máy hành chính Nhà nước trì trệ, kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống
chính trịnh đó.
1.1.3. Phân loại cán bộ công chức cấp xã
1.1.3.1.Theo ngạch
Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của công chức. Ngạch là một dấu hiệu đặc thù của cán bộ, công
chức, bất cứ một người cán bộ nào sau khi được tuyển dụng chính thức đều
được xét vào một ngạch nhất định. Người ta căn cứ vào quá trình đào tạo, khả
năng chuyên môn nghiệp vụ để phân loại cán bộ công chức theo ngạch khác
nhau, và có chức danh tiêu chuẩn riêng. Người cán bộ, công chức muốn nhập
ngạch hoặc lên ngạch cao hơn phải được xét chọn và qua thi tuyển. Căn cứ
vào đó để xếp ngạch đối với cán bộ, công chức chủ yếu là do năng lực chuyên

đội khung, vượt khung của ngạch và tình trạng không khuyến khích công
chức phấn đấu và ngược lại khi công chức ra nhập ngạch cao thì tuổi đời đã
lớn, thời gian công tác còn lại ngắn.
7
1.2. Năng lực cán bộ công chức xã
1.2.1. Khái niệm năng lực cán bộ công chức xã
Năng lực cán bộ công chức là tổng hợp các thuộc tính có giá trị và phẩm
chất cá nhân, kiến thức, kỹ năng chuyên môn, hành vi và thái độ nhờ đó mà
người lực cán bộ công chức mang lại hiệu quả trong quá trình thực hiện công
việc của tổ chức.
Như vậy, theo khái niệm trên thì năng lực lực cán bộ công chức không chỉ
có trình độ chuyên môn, năng lực nghề nghiệp mà nó còn phải là sự tổng hợp
của nhiều yếu tố đó là kỹ năng chuyên môn, phẩm chất đạo đức của người
thực hiện nhiệm vụ tổ chức cán bộ. Hay nói cách khác năng lực cán bộ công
chức là tổng hợp của ba yếu tố đó là: Kiến thức, kỹ năng chuyên môn; kỹ
năng quản lý; và phẩm chất cá nhân.
1.2.2. Các tiêu chí đo lường
Ngày nay, cán bộ công chức xã được coi là những nhân viên quan trọng
trong tổ chức vì họ cùng với những người quản lý ở các bộ phận khác quản lý
một nguồn lực quan trọng trong tổ chức. Với chức năng là những người người
lãnh đạo, những người quản lý , các bộ phận những nhân viên nhân lực này
đóng góp rất lớn trong việc đề ra và tổ chức thực hiện chủ trương chính sách
của nhà nước. Cán bộ, công chức tổ chức phải là những người có kiến thức về
chuyên môn, nghiệp vụ kinh tế, quản lý, tổ chức lao động, tâm lý xã hội học
lao động, kiến thức về luật nói chung và kiến thức về luật lao động cũng như
các kiến thức về kinh doanh, hay kiến thức xã hội khác…
1.2.2.1. Tiêu chí về kiến thức
Năng lực chuyên môn nghề nghiệp là một trong những yếu tố không thể
thiếu được đối với người cán bộ, công chức làm công tác tổ chức cán bộ nói
chung và người lao động làm việc trong một tổ chức nói chung. Vì có những

triết học, luật học, nhân tướng học, kinh tế học là hết sức quan trọng với
người tổng điều hành (chủ tịch xã) để giúp họ có thể tham gia hiệu quả vào
việc lập kế hoạch nhân sự, thiết lập các mối quan hệ con người trong tổ chức;
khuyến khích người lao động làm việc tự giác có năng suất lao động cao;
kiểm soát và đánh giá mức độ sử dụng nhân lực trong việc thực hiện mục tiêu
của tổ chức; tuyển mộ, tuyển chọn và bố trí sử dụng những người lao động có
trình độ; đưa ra các kế hoạch phát triển nhân sự; điều hòa các cá nhân, tổ chức
trong xã hội.
1.2.2.2. Tiêu chí về kỹ năng tổ chức quản lý
Năng lực tổ chức quản lý là tổng hợp các kỹ năng nhằm thực hiện hoạt
động quản lý nhân sự trong tổ chức. Năng lực quản lý của người cán bộ, công
chức tổ chức cán bộ thể hiện ở năng lực lập kế hoạch và năng lực tổ chức
quản lý nhân sự. Điều này càng trở lên đặc biệt quan trọng đối với những
người điều hành về nguồn nhân lực.
Năng lực lập kế hoạch trong quản lý nhân sự là quá trình vạch ra những
mục tiêu và xác định những biện pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu đó.
Người cán bộ, công chức cần xác lập ra những mô hình, chiến lược nhân sự
cho tương lai, từ đó nhận ra những cơ hội, rủi ro để có biện pháp triển khai
tận dụng cơ hội và né tránh những rủi ro có thể đem lại. Năng lực lập kế
hoạch rất cần thiết trong quá trình kế hoạch hóa nguồn nhân lực, xây dựng các
chương trình chiến lược nguồn nhân lực, thiết lập chương trình và chiến thuật
để thực hiện chiến lược đó.
Năng lực tổ chức là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn
lực để tạo nên một môi trường thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong
tổ chức phát huy được năng lực, công sức của mình đóng góp nhiều nhất vào
việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Năng lực tổ chức bao gồm: tổ chức bộ
máy, tổ chức nhân sự và tổ chức công việc. Phòng tổ chức cán bộ trước hết có
10
chức năng giúp các lãnh đạo trong tổ chức xây dựng cơ cấu bộ máy của tổ
chức thông qua việc phân tích công việc của từng bô phận trong tổ chức, từ

quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội khi thực hiện
công việc.
+ Trong khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu
hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan,
tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp. Phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái
độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc khi giao tiếp.
+ Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn,
phiền hà cho nhân dân khi thi hành công việc. ( Điều 15, 16, 17 Luật cán bộ
công chức)
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cán bộ, công chức xã
1.2.3.1.Các yếu tố chủ quan
 Tư chất năng khiếu của mỗi cá nhân
Tư chất năng khiếu của mỗi người là là sự thiên phú mà mỗi người có
được, đó chính là sự thông minh, tư duy nhạy bén, khả năng giao tiếp mà mỗi
người có được. Những người có năng khiếu này nếu được bồi dưỡng thì sẽ
giúp ích nhiều trong công việc, đặc biệt là những công việc cần quan hệ giao
tiếp với nhiều người trong xã hội. Vì vậy, tư chất năng khiếu của mỗi cá nhân
cũng ảnh hưởng nhiều đến việc thực hiện công việc của cán bộ công chức.
 Ý thức cá nhân
Ý thức là năng lực nhận thức của tri thức, đó là chức năng cao cấp mà
chỉ ở con người mới có. Chính nhờ có ngôn ngữ con người biến hình ảnh tâm
lý thành đối tượng khách quan và xác định mục đích cho hành động. Ý thức
12
cá nhân được hợp bởi bốn bộ phận: năng lực nhận thức về xã hội, năng lực
xác định thái độ, năng lực sáng tạo và năng lực nhận thức về bản thân. Từ đó
mỗi cá nhân có ý thức học tập, ý thức rèn luyện và khả năng tiếp nhận những
điều mới để nâng cao trình độ bản thân mình.
1.2.3.2. Các yếu tố khách quan
 Công tác tuyển dụng của tổ chức
Tuyển dụng là quá trình đánh giá các ứng viên ở nhiều khía cạnh khác

 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức
Đào tạo và phát triển các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của tổ chức là điều kiện quyết định để tổ chức hoàn thành
mục tiêu của mình. Bất cứ một chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực nào cũng nhằm nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp
cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững chuyên môn nghiệp
vụ của mình, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình một cách tốt hơn,
đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với công việc của họ trong tương lai.
Vì vậy, chất lượng đào tạo của tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của
cán bộ, công chức trong tổ chức. Một chương trình đào tạo và phát triển tốt sẽ
nâng cao hiệu quả thực hiện công việc của người lao động thông qua việc sử
dụng những kiến thức và kỹ năng mà người lao động lĩnh hội được từ chương
trình đào tạo vào việc hoàn thành công việc của người lao động trong tổ chức.
 Các chính sách thù lao, đãi ngộ
Mục đích hàng đầu của các cá nhân làm việc trong xã hội là làm việc vì
lợi ích bản thân. Vì vậy, các chính sách thù lao, đãi ngộ có ảnh hưởng lớn đến
năng lực làm việc của người lao động trong tổ chức. Thu nhập từ tiền lương
chiếm từ 70% đến 80% tổng thu nhập của người lao động. Vậy tiền lương
14
phải gắn với số lượng, chất lượng công việc, phải phản ánh được cống hiến
của người lao động cho tổ chức, đồng thời nó cũng phản ánh vai trò, vị trí
đích thực của người lao động. Việc trả thù lao công bằng, hợp lý sẽ là cơ sở
để đảm bảo được đời sống của người lao động giúp họ yên tâm, phấn khởi,
gắn bó lâu dài với tổ chức và có mong muốn nâng cao không ngừng năng lực
bản thân để hoàn thành tốt công việc mà tổ chức giao cho.
15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ
XƯƠNG GIANG – THÀNH PHỐ BẮC GIANG – TỈNH BẮC GIANG
2.1. Giới thiệu tổng quan về xã Xương Giang – TP. Bắc Giang – tỉnh Bắc

• Tài nguyên đất:
Với diện tích đất tự nhiên là 281,95ha, bao gồm cả đất nông nghiệp,
đất dành cho Công nghiệp, Thương mại Dịch vụ;
• Tài nguyên nước:
Xã Xương Giang là một xã diện tích đất hẹp, sông, suối, ao hồ không
nhiều, người dân chủ yếu dùng nước sạch do công ty Một thành viên cấp
thoát nước Bắc Giang cung cấp nước sinh hoạt;
Diện tích ao hồ chứa đựng lượng nước nhỏ, nên không đảm bảo nước
tưới cho sản xuất nông nghiệp, do vậy bà con nhân dân xã Xương Giang sử
dụng nước Cầu Sơn, nước nhà Máy phân Đạn để lấy nước tưới tiêu phục vụ
cho sản xuất cho sản xuất.
2.1.2.Trình độ phát triển kinh tế – xã hội:
2.1.2.1.Kết cấu cơ sở hạ tầng:
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của xã phát triển. xã
đã cân đối ngân sách, huy động các nguồn vốn đầu tư, tập trung xây dựng kết
17
cấu hạ tầng, kinh tế – xã hội nhằm tạo cơ sở vật chất vững chắc và tiền đề cho
phát triển kinh tế – xã hội của xã. Trong 5 năm từ 2006 – 2011, tổng số vốn
đầu tư xây dựng trên địa bàn xã đạt 50 .658,542 triệu đồng, trong đó vốn đầu
tư từ ngân sách địa phương là 9.652,350 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân
hàng năm đạt 15,3%.
- Về giao thông: Định hướng chính quyền xã xác định giao thông đóng
vai trò chủ chốt, huyết mạch trong việc phát triển kinh tế – Xã hội của địa
phương, do đó từ năm 2004 được sự giúp đỡ của các tổ chức, sự đầu tư của
Nhà nước xã đã đầu tư mở rộng được các tuyến đường đảm bảo Ôtô đến các
thôn, đổ nhiều đoạn đường cấp phối, đường bê tông tạo điều kiện thuận lợi
cho việc giao lưu hàng hoá, đi lại của người dân.
- Về điện năng: Toàn xã hiện có 09 Trạm điện hoà mạng điện lưới
Quốc gia, 100% số Hộ dân xã được sử dụng điện. Tổng số vốn đầu tư về điện
năng giai đoạn 1999 – 2004 đạt 36.592,351 triệu đồng.

Một số cơ sở kinh doanh, hợp tác xã đã mạnh dạn vay vốn đầu tư xây dựng
mới và mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất, đảm bảo ổn
định sản xuất kinh doanh như ngành cơ khí, điện nước, xây dựng, Mộc dân
dung, ngành nghề Mây tre giang đan, thêu rên xuất khẩu vv
+ Về dịch vụ: Giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ 6 tháng đầu năm
2011 ước đạt 49,2 tỷ đồng, bằng 130% so với cùng kỳ. Trong năm chỉ số giá
tiêu dùng tăng so với cùng kỳ 12,9%, do ảnh hưởng của thị trường thế giới
19
nên giá vàng và ngoại tệ tăng kéo theo sự tăng giá của nhiều mặt hàng khác
như: Lương thực Thực, phẩm, Xi măng, Sắt thép, phân bón, thức ăn chăn
nuôi tăng từ 5 – 10%. Tổng giá trị hàng hoá luân chuyển bán lẻ trong 6 tháng
đầu năm 2011 ước đạt 41,6 tỷ đồng, bằng 132,2% so với cùng kỳ.
Việc cải tạo, nâng cấp Chợ xã, đường giao thông tạo điều kiện cho
việc giao lưu buôn bán hàng hoá thuận lợi, tăng thu nhập của người dân. Đã
đầu tư xây dựng chợ Quán Thành 46 tỷ đồng tạo điều kiện cho bà con nhân
dân và các tư thương các Huyện, tỉnh ban lân cận chao đổi hàng hoá và cũng
là chợ đầu mối của thành phố Bắc Giang.
+ Về sản xuất Nông nghiệp: Tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 49,2 tỷ đồng, bằng 119,3% so với cùng kỳ.
Trong đó: trồng trọt 19,24 tỷ đồng, bằng 109,5% so với cùng kỳ; chăn nuôi
19,5 tỷ đồng, bằng 112,3% so với cùng kỳ; nuôi trồng thuỷ sản 9,8 tỷ đồng,
bằng 95,4% so với cùng kỳ.
Giá trị sản lượng trồng trọt và chăn nuôi tăng do áp dụng tốt khoa học kỹ
thuật và đưa giống, cây Con mới có năng suất cao vào sản xuất như Đào thế, hoa
Hồng, Hoa ly, hoa Loa kèn và một số rau có hiệu quả kinh tế cao khác.
2.1.2.3.Kết cấu dân số và lao động
Theo số liệu tổng hợp báo cáo 6 tháng đầu năm 2011 của Uỷ ban nhân
dân xã hiện nay với số dân là 6.786 người, trong đó có 3.336 nam, 3.450 nữ,
số người trong độ tuổi lao động là 4.998 người chiếm khoảng 70,9% tổng dân
số. Mật độ dân số trung bình của xã khoảng 226 người/km

các biện pháp phồng chống HIV/AIDS. Địa bàn xã hiện có 01 trạm y tế được
xây dựng kiên cố, có trang thiết bị tương đối đầy đủ, hiện đại; với 01 Bác sỹ,
05 Y sỹ và điều dưỡng.
21
Công tác Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được bảo đảm, 6 tháng đầu
năm 2011 Trạm y tế xã đã tổ chức khám, chữa bệnh cho nhân dân được 1.696
lượt cho nhân dân đạt 89,6% kế hoạch của năm . Trong đó khám bảo hiểm:
1052 lượt , trẻ em dưới 6 tuổi là 236 trường hợp, khám cấp thuốc cho người
cao tuổi là 119 lượt.
Trong 6 tháng đầu năm 2011 chương trình Bảo vệ bà mẹ và trẻ em và
công tác kế hoạch hoá gia đình tổ chức khám tại trạm và phối hợp chiến dịch
sức khoẻ sinh sản đã được thực hiện thường xuyên đạt kết quả tốt.
2.1.2.6. An ninh trật tự
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn Xã hội; Tăng cường công tác
đảm bảo phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới. Trên địa bàn xã luân
luân ổn định; những thành tựu phát triển kinh tế - Xã hội của đất nước cũng
như những sự kiện chính trị trọng đại được tổ chức trong năm đã có tác động
tích cực, to lớn tạo nên các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong cán bộ,
Đảng viên, nhân dân các dân tộc trong xã, tạo khí thế thi đua sâu rộng, mở ra
những điều kiện thuận lợi để xã Xương Giang đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế, phát triển Văn hoá xã hội, đảm bảo an ninh trật tự hàng năm Công an
xã đạt Danh hiệu quyết thắng.
22
2.2. Thực trạng cán bộ công chức xã Xương Giang – thành phố Bắc
Giang – tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ 2.1.Sơ đồ bộ máy chính quyền của xã:
(HĐND: Hội đồng nhân dân, UBND: Uỷ ban nhân dân)
2.2.1. Số lượng
Hội đồng nhân dân xã Xương Giang là Quyền lực Nhà nước ở địa
phương, do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng

giao
thông
thuỷ
lợi
Trạm
y tế
Ban
công
an
Ban
Chỉ
huy
quân
sự
23
2.2.2. Giới tính
Tính đến ngày 31/12/2012 tổng số cán bộ, công chức hành chính xã
Xương Giang là 26 người, trong đó:
Nam: 18 người
Nữ : 8 người
* Nhận xét :
Nhìn chung tỷ lệ giữa số lượng cán bộ, công chức Nam và Nữ của xã
Xương Giang là chưa hợp lý : Tỷ lệ Nam nhiều gần gấp hai lần, Nam là
18/26 bằng 69% , tỷ lệ Nữ là 8/26 bằng 31%.
2.2.3. Độ tuổi
Dưới 30
tuổi
Từ 30 đến 50
tuổi
Trên 50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status