BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THANH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CẤP XÃ Ở HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã
trích dẫn).
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều
cơ quan, tổ chức, cá nhân. Với tình cảm chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Lời đầu tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy, cô giáo đã giảng dạy và
giúp đỡ tôi trong suốt khoá học.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Bùi Bằng Đoàn, người đã tận
tình giúp đỡ, đầy trách nhiệm để tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
các khoa, phòng chức năng, Ban quản lý đào tạo đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các ban, ngành trong huyện, xã, các
đồng nghiệp và bạn bè đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp những tư liệu thực tế và
thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5
2.1 Lý luận chung về CBCC cấp xã 5
2.1.1 Khái niệm về CBCC 5
2.1.2 Yêu cầu, trách nhiệm, tiêu chuẩn, nghĩa vụ và quyền lợi của CBCC
cấp xã 6
2.1.3 Công tác tuyển dụng, quản lý CBCC cấp xã 10
2.2 Khái niệm về năng lực và nâng cao năng lực CBCC cấp xã 11
2.2.1 Khái niệm năng lực CBCC cấp xã 11
2.2.2 Các tiêu chí phản ánh năng lực CBCC cấp xã 20
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực CBCC cấp xã 34
2.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực CBCC cấp xã 37
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài nhiên cứu 39
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 57
3.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 57
3.3.1.
Tiêu chí đánh giá năng lực CBCC cấp xã 57
3.3.2.
Chỉ tiêu đánh giá năng lực CBCC cấp xã 57
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
4.1 Thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên 59
4.1.1 Thực trạng năng lực và chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở nước ta hiện
nay 59
4.1.2 Số lượng CBCC cấp xã huyện Mỹ Hào 62
4.1.3 Chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Mỹ Hào 63
4.2 Thực trạng năng lực CBCC cấp xã của huyện qua điều tra 80
4.2.1 Năng lực CBCC cấp xã qua phẩm chất chính trị 80
4.2.2 Năng lực CBCC qua phẩm chất đạo đức 81
4.2.3 Trình độ năng lực của CBCC cấp xã 82
quản lý, kiểm tra đội ngũ CBCC 103
4.4.3 Đổi mới nội dung chương trình, hình thức đào tạo, bồi dưỡng CBCC
cấp xã 106
4.4.4 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách đối với đội ngũ
CBCC cấp xã 108
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
5.1 Kết luận 111
5.2 Kiến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CBCC
HĐND
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Tình hình dân số và lao động huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 50
3.2 Kết quả phát triển kinh tế huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 54
4.1 Số lượng CBCC cấp xã huyện Mỹ Hào qua 3 năm 62
4.2 Chất lượng CBCC cấp xã huyện Mỹ Hào 64
4.3 Tổng hợp số lượng và chất lượng cán bộ cấp xã 67
4.4 Tổng hợp số lượng và chất lượng cán bộ cấp xã 69
4.5 Tổng hợp số lượng và chất lượng cán bộ cấp xã 72
4.6 Tổng hợp số lượng và chất lượng cán bộ cấp xã 74
4.7 Tổng hợp số lượng và chất lượng công chức cấp xã 77
4.8 Tổng hợp số lượng và chất lượng công chức cấp xã 79
4.9 Phẩm chất chính trị của CBCC cấp xã 81
4.10 Phẩm chất đạo đức của CBCC cấp xã 82
4.11 Năng lực của CBCC cấp xã 83
4.12 Chất lượng CBCC cấp xã thể hiện qua trình độ chuyên môn 84
4.13 Khả năng tổ chức, tập hợp, vận động quần chúng của CBCC cấp xã 87
4.14 Triển khai văn bản chỉ đạo của cơ quan Quản lý Nhà nước 90
4.15 Khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của CBCC cấp xã 91
4.16 Năng lực CBCC cấp xã về tình hình phát triển kinh tế xã hội 92
nguy cơ thách thức cần phải tỉnh táo, phán đoán xử lý kịp thời. Do vậy, đòi hỏi
Đảng ta phải xây dựng cho được một đội ngũ chủ chốt cho cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội từ Trung Ương đến cơ sở có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,
năng lực trí tuệ, năng lực thực tiễn đáp ứng tình hình thực tế và mục tiêu Nghị quyết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đề ra: “Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức,
trong sáng về lối sống và có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn
bó với nhân dân” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2002, tr. 141).
Yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, Đảng ta đã xác định công nghiệp hoá,
hiện đại hoá phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn là nhiệm vụ có tầm quan
trọng hàng đầu. Cán bộ chủ chốt cấp xã là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực
hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn.
Vì vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Nếu đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã không có năng lực lãnh đạo thì không thể thực hiện yêu cầu
nhiệm vụ mà Đảng ta đã đề ra. Nắm bắt được tầm quan trọng Đảng ta đã nhiều lần
khẳng định trong các khoá Đại hội như Đại hội VII, VIII, IX, là lấy phát triển kinh
tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, mà công tác xây dựng Đảng thì cán bộ
và công tác cán bộ là quan trọng nhất, là khâu then chốt trong vấn đề then chốt, là
nguyên nhân của nguyên nhân.
Nằm trong thực tế chung của đất nước, đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh Hưng
Yên nói chung và huyện Mỹ Hào nói riêng cũng chưa được chuẩn hóa. Đội ngũ cán
bộ chủ chốt xã, thị trấn trong huyện đã cơ bản đủ về số lượng. Trình độ học vấn, lý
luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, điều hành công việc ở cơ
sở đã được nâng lên một bước. Phần lớn được rèn luyện, thử thách trong quá trình
đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, lại được quan tâm, đào tạo, bồi
dưỡng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, có ý
trên một số lĩnh vực đất đai, ngân sách, thực hiện các chính sách xã hội. Một số
lĩnh vực phát sinh ở cơ sở nhưng không được phát hiện, giải quyết kịp thời, gây
bức xúc trong nhân dân, dẫn đến cấp tỉnh, huyện phải giải quyết đơn thư, khiếu
nại tố cáo của công dân ở cơ sở.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên”. Làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng năng lực đội ngũ CBCC cấp xã của huyện
Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên thời gian qua, đề xuất các giải pháp tăng cường đào tạo,
bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực đối với CBCC cấp xã theo hướng chuẩn hóa cán
bộ phục vụ công tác quản lý hành chính nhà nước của chính quyền cơ sở và phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
triển kinh tế xã hội của địa phương.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về năng lực CBCC cấp xã và
nâng cao năng lực CBCC cấp xã;
- Đánh giá thực trạng năng lực CBCC cấp xã huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
trong những năm vừa qua;
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao năng lực đối với CBCC cấp
xã của huyện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương trong
những năm tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là cán bộ, công chức cấp xã; các tiêu chí phản ánh năng lực cán bộ, công
chức cấp xã và giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, huyện trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, huyện thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Luật
công chức, 2008).
(2) Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
lập theo quy định của pháp luật.
(3) Cán bộ xã, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã
hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, CBCC quy định tại khoản 1, khoản 2 và 3 Điều 4 của Luật này bao
gồm:
a) CBCC trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội;
b) CBCC trong cơ quan nhà nước;
c) Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;
Tiêu chuẩn của CBCC cấp xã:
Theo điều 6 chương 2 Nghị định Số: 114/2003/NĐ-CP của Chính Phủ ngày
10 tháng 10 năm 2003 quy định tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã, phường,
thị trấn ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm
2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định CBCC cấp xã phải đáp ứng những tiêu
chuẩn sau đây:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; có năng lực và tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với
dân. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ
chức kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân
dân, được nhân dân tín nhiệm.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng
lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
- Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
- Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô
thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
- Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý
luận chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý luận
chính trị trở lên ở khu vực miền núi.
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Phải đạt trình độ trung cấp trở lên, phù hợp với
chuyên ngành cần tuyển dụng. Sau khi được tuyển dụng phải qua lớp bồi dưỡng
quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Nghĩa vụ của CBCC cấp xã:
Page 9
Quyền lợi của CBCC cấp xã:
Theo Nghị định Số: 114/2003/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 10 tháng 10 năm
2003 quy định tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn ban hành
kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ quy định CBCC cấp xã có các quyền lợi sau đây:
- Được nghỉ lễ, nghỉ hàng năm và nghỉ việc riêng theo quy định của Bộ luật
Lao động. Trong trường hợp có lý do chính đáng được nghỉ không hưởng lương,
sau khi có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý và sử dụng
CBCC cấp xã;
- Được hưởng lương và các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, công
tác phí, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, thôi việc và các quy định khác;
- Được ưu tiên trong việc xét tuyển, thi tuyển vào làm việc ở các tổ chức, cơ
quan Nhà nước từ cấp huyện trở lên khi có đủ điều kiện và tiêu chuẩn;
- CBCC là nữ còn được hưởng các quyền lợi quy định tại khoản 2 Điều 109,
các điều 111, 113, 114, 115, 116, và 117 của Bộ luật Lao động;
- Có quyền tham gia hoạt động chính trị, xã hội theo quy định của pháp luật;
được tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ, được quyền nghiên cứu khoa học,
sáng tác; được khen thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ được giao;
- Có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về việc làm của cơ quan, tổ chức, cá
nhân mà mình cho là trái pháp luật đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những khiếu nại, tố
cáo và khởi kiện đó;
- Khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ;
- CBCC hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được xem xét để
công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật; bị thương trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ được xem xét để áp dụng chính sách chế độ tương tự như đối
với thương binh.
- Tổ chức việc thi tuyển hoặc xét tuyển, quyết định tuyển dụng, điều động,
miễn nhiệm, cho thôi việc công chức cấp xã và quản lý công chức, hồ sơ công chức
cấp xã theo hướng dẫn của ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
- Tổ chức việc thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ
đối với CBCC;
- Tổ chức việc bồi dưỡng CBCC;
- Quyết định khen thưởng, kỷ luật đối với CBCC;
- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về CBCC;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với CBCC theo quy định của pháp luật;
- Thống kê, đánh giá số lượng, chất lượng CBCC trong phạm vi huyện, quận,
thị xã, huyện thuộc tỉnh.
2.1.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý, sử dụng CBCC cấp xã có trách
nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn và nâng cao
trình độ, năng lực cho CBCC cấp xã.
- Việc đào tạo CBCC cấp xã căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn đối
với từng chức vụ và tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng chức danh.
- Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã do ngân sách nhà nước cấp. Chế độ
đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.
Hoạt động của CBCC cấp xã có những đặc điểm riêng đòi hỏi nhận thức và
phân biệt với CBCC cấp tỉnh, huyện và các lao động khác. Sự phân biệt rõ đặc điểm,
chức năng, nhiệm vụ của CBCC cấp xã với CBCC tỉnh, huyện và lao động phổ thông
khác để bố trí sử dụng họ đúng vị trí, hoạt động có hiệu quả trong thực thi công vụ.
Để đáp ứng yêu cầu trên, một mặt đòi hỏi các tổ chức có qui hoạch đào tạo,
bồi dưỡng và bố trí sử dụng CBCC phù hợp với năng lực của họ. Mặt khác, CBCC
phải biết biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo để có những tri thức và đạo đức, tác
(Hoàng Phê, 2004, tr. 660-661).
Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói
đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực thuộc về một hoạt động cụ thể
nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng
lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động
giảng dạy… Như vậy, có thể hiểu năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những
thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Nếu
không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được. Ở mỗi
một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, năng lực nghề
nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố: Tri thức chuyên môn; kỹ năng hành nghề;
thái độ với nghề.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Dưới góc độ hành chính học, năng lực có ba cách tiếp cận sau: Năng lực là
tập hợp ba nhóm yếu tố kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử một người có và sử dụng
để đạt được kết quả trong công việc; năng lực là những gì một người có, biết và làm
được để đạt được kết quả trong công việc; năng lực là những gì một người phải có
để hoàn thành công việc theo quy định. Năng lực của mỗi người bao giờ cũng gắn
liền với hoạt động của chính người đó và cả sản phẩm của chính hoạt động ấy.
Năng lực chỉ hình thành và phát triển trong hoạt động. Đến lượt nó, kết quả hoạt
động lại tùy thuộc vào trình độ phát triển của năng lực được hình thành trong hoạt
động này. Như vậy, tùy theo hoạt động của con người có thể chia thành các loại
năng lực khác nhau; năng lực luôn được xác định gắn liền với việc thực thi những
loại công việc nhất định: Năng lực để đảm nhận vị trí công việc mang tính chuyên
môn; năng lực để đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý
Năng lực CBCC (năng lực thực thi công việc được giao) luôn gắn với các
yếu tố: Loại công việc; quy trình thực thi công việc; kết quả. Nói đến năng lực của
đội ngũ CBCC là nói đến năng lực chung, năng lực tổng quát và năng lực cụ thể
được mà cần phải đánh giá một cách tổng hợp hơn về nhiều khía cạnh, chẳng hạn
như về trình độ hiểu biết kiến thức tự nhiên, xã hội. Những loại kiến thức này vô
cùng phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khác nhau. Và những loại
kiến thức này không nhất thiết cá nhân nào cũng phải học có bằng cấp mới biết, có
người chỉ cần tham khảo, tìm hiểu qua các sách, báo, đài, các phương tiện thông tin
đại chúng và việc tự tư duy vận dụng vào thực tiễn họ cũng có đủ năng lực để phát
hiện ra thế giới khách quan một cách nhanh nhạy và chính xác, xử lý các vấn đề mà
cuộc sống đặt ra. Trên thực tế, có người học nhiều nhưng vẫn chậm nhận ra được
bản chất của hiện thực khách quan cần xử lý.
Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ theo từng lĩnh vực nghề nghiệp, từng
cương vị công tác là đòi hỏi tất yếu đối với người CBCC chuyên nghiệp. Kiến thức
và trình độ chuyên môn giúp người CBCC có năng lực tổ chức thực hiện nghị
quyết, chỉ thị các cấp ủy Đảng, hội đồng nhân dân các cấp và những quyết định,
chính sách của chính quyền cấp trên. Không có kiến thức và trình độ chuyên môn
CBCC khó có thể thực thi nhiệm vụ được giao trong hoạt động thực tiễn. Đối với
CBCC chính quyền cơ sở, tùy theo chức trách nhiệm vụ được giao, yêu cầu về kiến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
thức, chuyên môn nghiệp vụ cũng khác nhau. Kiến thức, chuyên môn của các cán
bộ (chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân) sẽ khác nhau.
Giữa cán bộ với công chức (07 chức danh chuyên môn) cũng khác nhau.
Về kỹ năng thực hiện công việc
Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những hiểu biết có được vào hoạt
động thực tế, mức độ vận dụng càng thành thạo, nhuần nhuyễn thì kỹ năng càng
cao. Có nhiều loại kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thu tập và xử lý thông
tin, kỹ năng phân tích, kỹ năng đánh giá, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứng dụng, kỹ
năng diễn đạt, truyền đạt,… Kỹ năng có được thường do quá trình làm việc thâm
niên, kinh nghiệm tạo nên, ngoài ra còn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu) và do kinh
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân chủ, công bằng, văn
minh. Thông qua việc đánh giá người CBCC có thể đề xuất các giải pháp góp phần
thu hút nguồn lực bên ngoài và phát huy nội lực bên trong, góp phần thực hiện tốt
nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như chức trách, nhiệm vụ được giao…
Về thái độ thực thi công việc
Thái độ làm việc, sự cố gắng, mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá
nhân đối với công việc mà họ đang thực hiện có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực
thực thi công việc của CBCC. Nhiều CBCC có trình độ, kiến thức tốt, kỹ năng vững
chắc nhưng không hoàn thành được nhiệm vụ do có thái độ không đúng. Đó có thể
là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thức trách nhiệm hoặc thậm chí cố ý làm
trái vì mục đích, động cơ khác.
Tuy nhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân.
Chúng ta có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằng
hành vi. Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ thực thi công việc của CBCC là
tích cực hay tiêu cực thông qua việc làm cụ thể của họ. Thái độ tích cực của CBCC
trong thực thi công việc được hình thành liên quan đến đạo đức và trách nhiệm công
vụ, nó gắn liền với các yêu tố ảnh hưởng đến cả đời sống vật chất và tinh thần của
CBCC. Do vậy, việc nâng cao thái độ tích cực trong thực thi công việc gắn liền với
việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ phù hợp với công việc, vị
trí, trách nhiệm mà họ phải thực hiện.
Thái độ thực thi công việc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có cả
yếu tố sức khỏe. Nhiều khi CBCC có thái độ thực thi công việc tốt nhưng sức khỏe
lại không bảo đảm nên dù cố gắng vẫn không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao
do sức khỏe yếu, ốm đau, bệnh tật. Sức khỏe là một yếu tố tổ chức sinh lý của đại