BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH
--------------------------
HOÀNG VĂN CHUNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Quản trị kinh doanh
Mã số
: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ THỊ VIỆT NGA
NAM ĐỊNH - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Ngô Thị Việt Nga – Giảng viên Trường đại
học kinh tế quốc dân.
Các số liệu những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn đều
được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIỆT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH
: Ban chấp hành
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
CBCC
: Cán bộ công chức
CBCT
: Cán bộ chuyên trách
CNH – HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐTCB
: Đào tạo cán bộ
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
NAM ĐỊNH - 2015............................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong đời sống
chính trị xã hội của nhân dân hiện nay: Là người trực tiếp giải quyết những yêu
cầu, thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân, trực tiếp tập hợp khối đại đoàn
kết toàn dân, phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Trong những năm qua, phát huy vị trí và vai trò của mình, cán bộ, công chức
cấp xã đã có những đóng góp lớn vào giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc
phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây
dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ.
Hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị, xét đến cùng được quyết định bởi
phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC. Vì vậy, việc nâng
cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo
đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi
chức năng, nhiệm hiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân... là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị.
Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “ Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu và
thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Hội nghị Trung ương 3 - khoá VIII, Đảng đã
sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Tuy nhiên việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã thật sự
có chất lượng còn nhiều bất cập, nhiều vấn đề cần xem xét nghiên cứu
làm sáng tỏ thì mới đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong giai
đoạn cách mạng mới.
Huyện Sóc Sơn là một trong 30 quận huyện của Thành Phố Hà
Nội . Mặc dù điều kiện khó khăn, đời sống của nhân dân trong huyện chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp, lại cách xa trung tâm Thành phố nhưng toàn
thể cán bộ và nhân dân trong huyện cùng nhau đồng lòng, đồng sức quyết
2
tâm xây dựng huyện vững mạnh về mọi mặt. Cho đến nay đời sống của
nhân dân trong huyện đã nâng lên rõ rệt, tạo thêm lòng tin của nhân dân
vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Có được thành tựu trên, một
phần là do Đảng bộ, Chính quyền huyện đã coi trọng công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ công chức ở cơ sở nói riêng.
Tuy nhiên chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã còn rất nhiều
hạn chế,bất cập, nhiều vấn đề cần xem xét nghiên cứu làm sáng tỏ, nhằm
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã thực sự đáp ứng với yêu
cầu, nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới.
Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, thực trạng năng lực của cán bộ, công chức cấp xã là chưa ngang
tầm với đòi hỏi khách quan, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nâng cao năng lực
quản lý nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trong tình hình mới.
Do vậy việc xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực
trạng cán bộ công chức cấp xã và đưa ra một hệ thống giải pháp có tính
khả thi nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Sóc
cập đến vấn đề cán bộ công chức cấp xã ở nhiều cấp độ phạm vi khác nhau.
Tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nói trên,
luận văn đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề: “Chất lượng cán bộ công chức
cấp xã ở huyện Sóc Sơn Thành phố Hà Nội”, góp phần vào công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, huyện Sóc Sơn hiện nay đáp ứng với yêu cầu
nhiệm vụ trong tình hình mới.
3. Mục đích nghiên cứu
- Xác định những căn cứ khoa học và hệ thống giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã ở huyện Sóc Sơn TP Hà
Nội thật sự đáp ứng yêu cầu và vụ chính trị trong sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô và đất nước.
- Phân tích thực trạng để đánh giá đúng chất lượng cán bộ công
chức cấp xã ở huyện Sóc Sơn, xác định rõ nguyên nhân tồn tại của cán
bộ công chức cấp xã hiện nay. Làm rõ cơ sở khách quan và yêu cầu cấp
bách phải nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã ở huyện Sóc
Sơn, trong giai đoạn hiện nay.
4
- Đề xuất một số giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng cán bộ công
chức cấp xã ở huyện Sóc Sơn từ nay đến 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu: Chất lượng cán bộ công
chức cấp xã ở huyện .
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là cán bộ, công chức cấp xã của huyện Sóc Sơn gồm 26
xã, thị trấn; bao gồm các chức danh cán bộ chuyên trách (Bí thư, Phó bí thư cấp uỷ,
Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận tổ
quốc, Chủ tịch Hội cựu chiến binh, Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
* Ý nghĩa thực tiễn: luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc định
ra chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở Huyện Sóc Sơn.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy đối với
cán bộ cấp xã .
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 3 chương:
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1.1. Khái niệm về cán bộ, công chức
Trên thế giới có những quan niệm khác nhau về cán bộ, công chức. Ở Việt
Nam, cán bộ, công chức là khái niệm thường được dùng để gọi chung những người
làm việc cho nhà nước, hoặc các tổ chức trong hệ thống chính trị.
* Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị
nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và
các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự
phát triển của tổ chức".
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2006)
cán bộ được định nghĩa là: "Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ
quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể có chức vụ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho
Đảng, Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” (Hồ Chí Minh toàn tập,
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
c) Văn phòng - thống kê;
d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
đ) Tài chính - kế toán;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội.
Công chức cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3 Nghị
định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức
xã, phường, thị trấn và các tiêu chuẩn cụ thể sau:
9
- Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;
- Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;
- Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của
ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được
đảm nhiệm;
- Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên;
Như vậy, Luật Cán bộ, công chức là một sự kế thừa và phát triển những quy
định trước đây về cán bộ, công chức. Khái niệm cán bộ, khái niệm công chức đã
được luật hoá. Luật Cán bộ, công chức là cơ sở pháp lý cơ bản để phân định rõ
giữa cán bộ và công chức. Việc phân định rõ cán bộ, công chức sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng các chính sách đối với cán
hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu không được chuyển thành công chức mà
chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự
nguyện theo quy định của pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được điều
động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp
hoặc giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật. Cán bộ, công chức theo pháp
luật Việt Nam phải đảm bảo tối thiểu các điều kiện như phải là công dân Việt Nam,
trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách hoặc các nguồn thu từ hoạt động sự
nghiệp, đối với công chức ở các đơn vị sự nghiệp còn gọi là viên chức.
- Cán bộ, công chức cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ, công chức
nhà nước cấp trên. Cán bộ, công chức cấp xã có tính chuyên môn hoá thấp, kiêm,
nghiệm nhiều.
- Cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân
lao động ở cơ sở. Vì vậy cán bộ, công chức luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý
kiến nguyện vọng của nhân dân từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù
hợp và đảmbảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân, là người trực tiếp giải quyết tất
cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước
với nhân dân.
- Cán bộ, công chức cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở (chủ yếu là
người của địa phương), họ vừa trực triếp tham gia lao động lao động sản xuất, vừa
là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng, lãnh đạo, quản lý nhà
nước, giải quyết các công việc của nhà nước. Do đó xét ở khía cạnh nào đó cán bộ,
11
công chức cấp xã bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán
làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ.
- Cán bộ, công chức cấp xã phần lớn do dân bầu ra (có nơi chiếm 60%)
chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ dân lại bầu
những đại diện mới.
chuẩn chức danh hiện đang đảm nhiệm và theo quy hoạch cán bộ, công chức.
- Được cấp tài liệu học tập.
- Được hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung.
- Được hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập.
1.1.3. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Cán bộ, công chức có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi
pháp luật để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh ngăn chặn,
phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của các
tầng lớp nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước.
Xuất phát từ đặc điểm của mình, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngoài
những vị trí, vai trò chung của cán bộ, công chức còn có những vị trí, vai trò sau:
- Một là, cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến nhân
dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính
sách đó: Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang tiến hành xây dựng nhà nước
pháp quyền, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan hệ gắn bó
giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; vì vậy, vai trò này của đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho nhân dân biết và nắm được
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cán bộ, công chức cấp xã phải tiến hành nhiều hình thức, biện pháp khác
nhau như thông qua các buổi tuyên truyền, nói chuyện tại cuộc họp thôn, xóm, khu
dân cư, tổ đoàn kết, trung tâm học tập cộng đồng hoặc thông qua các buổi đối thoại
trực tiếp với nhân dân để giải quyết các vấn đề mới phát sinh như liên quan đến việc
bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, quy hoạch… Đồng thời, nó còn đòi hỏi
cán bộ, công chức cấp xã phải có những hiểu biết nhất định về lý luận và am hiểu
tình hình thực tế của địa phương, cũng như nắm bắt được đặc điểm, tâm lý của từng
lớp dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình.
nhân dân; qua đó sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động của mỗi con người, làm
cho mọi tiềm năng sáng tạo được phát triển, mọi người dân đều được tham gia vào
14
các quá trình chính trị, xã hội, các vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, các khó
khăn sớm được tháo gỡ, tạo sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.
Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của
Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một
phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với
quần chúng, tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng, cán bộ, công chức cấp
xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nhân tố quyết định đến sự thành
bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Ở cơ sở xã, thị
trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng cán bộ công
chức cấp xã .
Tóm lại, bất cứ ở đâu và lúc nào, cán bộ, công chức cũng có vị trí, vai trò hết
sức to lớn; với tư cách là một bộ phận quan trọng, chiếm số lượng tương đối lớn thì
cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với chế độ, sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2. CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CÁC YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1. Khái niệm về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Theo Từ điển Tiếng Việt thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là "Cái tạo
nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc". Đối với một con người
sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chất lượng của cá nhân đó được
hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên
môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với
tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
quan hệ giữa chất lượng với số lượng cán bộ, công chức. Chỉ khi nào hai mặt này
quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của
cả đội ngũ. Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh
hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến
CBCC nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả. Khuynh hướng thứ
hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng. Khuynh hướng
này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của cán bộ, công
chức ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ. Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là
16
phải coi trọng chất lượng của cán bộ, công chức trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp
lý. Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích
ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công vụ
được giao. Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng
cán bộ công chức cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp, là hệ thống những phẩm chất giá trị
được kết cấu như một chỉnh thể, toàn diện, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo
đức lối sống, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm
vụ được giao của họ.
1.2.2. Những tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Đánh giá cán bộ, công chức là việc hệ trọng, là khâu có ý nghĩa quyết định
trong công tác cán bộ, là cơ sở để thực hiện các khâu khác trong công tác cán bộ.
Đánh giá đúng cán bộ, công chức sẽ phát huy tiềm năng của từng cán bộ, công chức
và cả đội ngũ cán bộ, công chức. Đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến việc lựa chọn
cán bộ, công chức không đủ phẩm chất và năng lực bố trí vào những cương vị có
trọng trách, dẫn đến hỏng người, hỏng việc, gây tổn thất cho địa phương và ảnh
hưởng trong phạm vi cả nước.
Đánh giá cán bộ, công chức là công việc hết sức khó khăn và nhạy cảm, sau
đánh giá có thể xảy ra hai khuynh hướng khác nhau; một mặt nó làm cho cán bộ,
kiện tiên quyết đối với mỗi người cán bộ, công chức.
Người cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng những lời
tuyên bố, hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ
thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc,
biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Người cán bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực trình độ lẫn đạo đức
cách mạng. Phẩm chất chính trị của người cán bộ, công chức cấp xã còn biểu hiện
thông qua thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần
trách nhiệm đối với đời sống của đồng bào nhân dân tại địa phương. Người
cán bộ có phẩm chất chính trị tốt phải là người luôn trăn trở trước những khó khăn
ở địa phương; phải có quyết tâm đưa địa phương cơ sở nơi mình công tác ngày càng
phát triển về mọi mặt, thực hiện công bằng, dân chủ, văn minh.
12.2.2. Về phẩm chất đạo đức: Đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức
mạnh của người cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cũng như
18
sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc
không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có
đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân " sức có mạnh mới
gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới
hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng”. Người cho rằng, đạo đức chính là cái gốc
quan trọng hàng đầu của người cách mạng "Người cách mạng phải có đức, không
có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân".
Tiêu chí đạo đức người cán bộ cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ ra hết sức
cụ thể, đó là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; mỗi người cán bộ phải hội đủ các phẩm
chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Bên cạnh việc chỉ ra những tiêu chí đạo đức người cán bộ cách mạng, Hồ