TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƢỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
ĐÀO QUỐC BÌNH
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi trƣờng
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SINH HOẠT
TẠI KHU VỰC THỚI THUẬN, PHƢỜNG THỚI AN ĐÔNG, QUẬN
BÌNH THUỶ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cán bộ hƣớng dẫn
Bùi Thị Nga
Nguyễn Thị Nhƣ Ngọc
Cần Thơ - 2010
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƢỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
ĐÀO QUỐC BÌNH
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi trƣờng
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SINH HOẠT
TẠI KHU VỰC THỚI THUẬN, PHƢỜNG THỚI AN ĐÔNG, QUẬN
BÌNH THUỶ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
việc trong phòng thí nghiệm.
- Cô Trƣơng Thị Nga và cô Cô Thị Kính, ngƣời đã đóng góp những ý kiến xác
thực góp phần hoàn chỉnh luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn
- Các cấp lãnh đạo của phƣờng Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố
Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành luận văn này.
- Các thầy cô, các anh chị cán bộ thuộc bộ môn Khoa học môi trƣờng, khoa
Môi trƣờng & Tài nguyên thiên nhiên đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ em
trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này.
- Các thành viên của lớp Khoa học môi trƣờng Khóa 32 đã động viên, giúp đỡ
trong suốt trong suốt quảng thời gian đại học.
Kính dâng
Cha mẹ đã hết lòng nuôi con khôn lớn nên ngƣời.
iii
TÓM LƢỢC
Cũng giống nhƣ các vùng miền trong cả nƣớc, quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa đã khiến nguồn nƣớc ở vùng ven thành phố Cần Thơ ngày càng xuống
cấp. Nƣớc sông dần bị thay thế bởi nƣớc cấp trong sinh hoạt và ăn uống của ngƣời
dân. Đề tài “Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại khu vực Thới Thuận, phƣờng
Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ” nhằm đánh giá lại chất lƣợng
nƣớc sinh hoạt sau gần 10 năm triển khai chƣơng trình Nƣớc sạch và Vệ sinh môi
trƣờng nông thôn.
Kết quả nghiên cứu từ tháng 1 năm 1010 đến tháng 5 năm 2010 cho thấy
chất lƣợng nƣớc tại khu vực khảo sát ổn định giữa mẫu tại trạm cấp và vòi nƣớc dẫn
vào nhà dân. Có sự biến động khá lớn giữa mẫu nƣớc tại trạm và mẫu nƣớc ở nhà
dân. Chất lƣợng nƣớc phụ vào cách thức bảo quản, vệ sinh vật lƣu trữ của ngƣời
dân. Qua 2 đợt phân tích, giá trị của các chỉ tiêu đƣợc ghi nhận nhƣ sau: Chỉ tiêu pH
Trang chấp nhận của hội đồng
Lời cảm tạ
Tóm lƣợc
Mục lục
Danh sách từ viết tắt
Danh sách hình
Danh sách bảng
I
ĐẶT VẤN ĐỀ
II
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tầm quan trọng của nƣớc sạch đối với đời sống con ngƣời
2.2 Tình hình cung cấp nƣớc sạch và ô nhiễm nƣớc sinh hoạt ở
Việt Nam
2.3 Các chỉ tiêu phân tích
2.3.1 pH
2.3.2 Độ đục
2.3.3 Độ cứng
2.3.4 Sắt tổng
2.3.5 Các hợp chất của nitơ
2.3.6 Coliform và E.coli
2.4 Tổng quan về vùng nghiên cứu
2.4.1 Vị trí địa lý
2.4.2 Quản lý hành chính
2.4.3 Kinh tế xã hội
2.4.4 Văn hóa giáo dục
9
11
11
11
11
11
14
vii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
BTY:
Bộ Y Tế
Ctv:
Cộng tác viên
KPH
Không phát hiện
MT:
Môi Trƣờng
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
4.10
4.11
4.12
4.13
4.14
4.15
4.16
4.17
4.18
4.19
4.20
Tên hình
Bản đồ hành chính phƣờng Thới An Đông, quận Bình Thủy,
thành phố Cần Thơ
Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu qua 2 đợt
Sơ đồ của trạm cấp nƣớc khu vực Thới Thuận, phƣờng Thới
An Đông, quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ
Nhu cầu sử dụng nƣớc của ngƣời dân
Cách bảo quản nguồn nƣớc trong vật chứa của ngƣời dân
Mực nƣớc còn lại trong vật chứa khi súc rửa
Thời gian lƣu trữ nƣớc trong vật chứa của ngƣời dân
Biến động giá trị pH tại các điểm thu mẫu qua đợt 1
Biến động giá trị pH tại các điểm thu mẫu qua đợt 2
29
30
31
34
35
35
36
37
38
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
3.1
3.2
3.3
4.1
4.2
4.3
Tên bảng
Phƣơng pháp bảo quản mẫu theo TCVN 5943 - 1995
Phƣơng pháp phân tích mẫu
Hóa chất cần thiết cho việc phân tích mẫu
Biến động giá trị độ đục tại các điểm thu mẫu qua 2 đợt
Biến động giá trị nitrit qua 2 đợt
Biến động vi sinh qua 2 đợt thu mẫu
x
xây dựng và cung cấp nƣớc sạch chƣa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của ngƣời dân.
Trong khi đó, nguồn nƣớc sinh hoạt hiện nay đang bị ô nhiễm do chất thải trong sản
sản xuất công nghiệp, nuôi trồng thủy sản… ngày càng nhiều”.
Phƣờng Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ là địa phƣơng
tuy nằm không xa trung tâm thành phố nhƣng công tác nƣớc sạch và vệ sinh môi
trƣờng nông thôn vẫn còn nhiều bất cập. Hiện nay, chỉ mới có khoảng 85% cƣ dân
trong khu vực sử dụng nƣớc sạch (UBND phƣờng Thới An Đông, 2009). Cho đến
nay, chƣa có số liệu thống kê hay thông tin về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại các hộ
dân. Do vậy đề tài “Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại khu vực Thới Thuận,
phƣờng Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ” đƣợc thực hiện với
mục tiêu tổng quát là đánh giá hiện trạng lƣu trữ và sử dụng nƣớc sinh hoạt từ nƣớc
cấp của ngƣời dân khu vực Thới Thuận, phƣờng Thới An Đông, quận Bình Thủy,
thành phố Cần Thơ. Các mục tiêu cụ thể của đề tài:
1. Điều tra, khảo sát cách thức sử dụng nƣớc sinh hoạt phƣờng khu vực Thới
Thuận, phƣờng Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ dựa
theo tiêu chuẩn Bộ Y tế hiện hành.
2. Tìm ra các nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nguồn nƣớc dùng trong ăn uống,
sinh hoạt hàng ngày tại các hộ gia đình và đề xuất biện pháp cải thiện chất
1
lƣợng nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân trên địa bàn phƣờng Thới An Đông,
quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
2
CHƢƠNG II
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
dụng nƣớc sạch trong ăn uống và sinh hoạt. Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có
25,7% dân số đƣợc sử dụng nƣớc sạch (Lê Thế Thự, 1994). Theo Tôn Thất Bách và
ctv (1996), ở Đồng bằng sông Hồng tỷ lệ sử dụng giếng khơi là 42%, nƣớc mặt là
3
39,4%. Vùng ven biển sử dụng nƣớc mƣa khoảng 83,4%. Toàn quốc chỉ có khoảng
20 – 30% dân số đƣợc sử dụng nƣớc sạch.
Nhìn chung, trung bình toàn quốc có 12% hộ gia đình sử dụng nguồn nƣớc
bề mặt không đƣợc đảm bảo vệ sinh làm nƣớc ăn uống và sinh hoạt. Tỷ lệ này có sự
chênh lệch rất lớn giữa các vùng: Đồng bằng sông Cửu Long có từ 42 – 47% dân số
nông thôn sử dụng nguồn nƣớc mặt không đảm bảo vệ sinh làm nƣớc ăn uống hàng
ngày; cao nhất là Đồng Tháp, Vĩnh Long và An Giang với tỷ lệ tƣơng ứng là 88%,
81% và 70%.
Kết quả điều tra trên diện rộng về y tế quốc gia đƣợc Bộ Y tế phối hợp với
Tổng cục thống kê thực hiện trên 36.000 hộ gia đình trong phạm vi 1.200 phƣờng
xã trên toàn quốc đã đƣợc công bố ngày 25 tháng 9 năm 2003 cho thấy tỷ lệ hộ sử
dụng nƣớc máy là 15,7%, tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh là 21%. Nhƣ vậy còn một
phần lớn các hộ gia đình vẫn đang phải sử dụng các loại nhà tiêu khác không hợp vệ
sinh nhƣ nhà tiêu cầu, nhà tiêu đào, nhà tiêu ao cá… Đó là những nguy cơ cao gây ô
nhiễm các nguồn nƣớc bề mặt trong đó có các nguồn nƣớc sinh hoạt ở cộng đồng,
hiện đang là vấn đề môi trƣờng và sức khỏe ở nhiều vùng nông thôn hiện nay.
Nƣớc không sạch là nguyên nhân gây nên các bệnh đƣờng tiêu hóa. Năm
2006 TP Cần Thơ có 16.304 ngƣời bệnh tiêu chảy, năm 2007 tăng lên 19.681 ngƣời
bệnh (Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ, 2007).
2.3 Các chỉ tiêu phân tích:
2.3.1 pH
Tính acid cũng nhƣ tính kiềm của nƣớc thƣờng đƣợc biểu thị bằng đại lƣợng
Việt Nam: giá trị độ đục cho phép là 2 NTU.
2.3.3 Độ cứng
Độ cứng của nƣớc là đại lƣợng biểu thị hàm lƣợng các ion canxi, magie có
trong nƣớc. Trong xử lý nƣớc thƣờng phân biệt ba loại độ cứng: độ cứng toàn phần,
độ cứng tạm thời và độ cứng vĩnh cữu. Dùng nƣớc có độ cứng cao có tác hại là các
ion canxi, magie kết tủa gây trở ngại cho cho quá trình sản xuất. Khi tính theo hàm
lƣợng CaCO3 trong nƣớc, ngƣời ta có thể chia ra làm 3 loại:
Nƣớc mềm có chứa ít hơn 50 mg CaCO3/l.
Nƣớc thƣờng có chứa đến 150 mg CaCO3/l.
Nƣớc cứng có chứa trên 300 mg CaCO3/l.(Nguyễn Thị Thu Thủy,
2000).
Theo quyết định 06/2009/QĐ-BYT về tiêu chuẩn nƣớc sạch giá trị độ cứng
cho phép tối đa là 300mg/L.
2.3.4 Sắt tổng
Trong nƣớc ngầm, sắt thƣờng tồn tại ở dạng hóa trị II của các muối
bicacbonat, sunfat, clorua hòa tan, đôi khi sắt tồn tại trong keo của acid humic hoặc
keo silic. Khi tiếp xúc với oxy hoặc các chất oxy hóa, sắt (II) bị oxy hóa thành sắt
(III) và kết tủa thành bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ. Nƣớc bề mặt thƣờng chứa
sắt (III) tồn tại ở dạng keo hữu cơ, cặn hoặc huyền phù. Nƣớc thiên nhiên thƣờng có
sắt với hàm lƣợng tới 30 mg/l, đôi khi cao hơn. Với hàm lƣợng sắt lớn hơn 0,5 mg/l,
nƣớc có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt … Các cặn sắt kết tủa làm tắc
5
hoặc làm giảm khả năng vận chuyển của hệ thống dẫn nƣớc (Nguyễn Thị Thu Thủy,
2000).
Sắt ít gây hại cho sức khỏe, tuy nhiên nó cũng ảnh hƣởng đến ngƣời sử dụng
và trong sản xuất: sắt làm cho nƣớc có mùi tanh kim loại, để lại những vết gỉ vàng
một thời gian NH3 và NO2- bị oxy hóa thành NO3-. Nhƣ vậy:
Nếu nƣớc chứa NH3 và nitơ hữu cơ thì coi nhƣ nƣớc mới bị nhiễm bẩn và
nguy hiểm.
Nếu nƣớc chủ yếu có NO2- thì nƣớc đã bị ô nhiễm thời gian dài hơn, ít
nguy hiểm hơn.
Nếu nƣớc chủ yếu là NO3- thì quá trình oxy hóa đã kết thúc.
Ở điều kiện yếm khí, NO3- sẽ bị khử thành N2 bay lên. Amoniac là chất gây
nhiễm độc trầm trọng cho nƣớc, gây độc cho các loài cá.
Việc sử dụng rộng rãi các nguồn phân bón hóa học cũng làm cho hàm lƣợng
amoniac trong nƣớc tự nhiên tăng lên. Trong nƣớc ngầm và trong nƣớc đầm lầy hay
gặp nitrat (NO3-) và amoniac với hàm lƣợng cao. Ngƣời ta đã phát hiện nếu trong
6
nƣớc uống có chứa hàm lƣợng cao NO3- thƣờng gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ và có
thể dẫn đến tử vong (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2000).
Khi hàm lƣợng NO3- trong nƣớc quá cao > 10 mg/L thì rất nguy hiểm đối với
trẻ sơ sinh, vì độ pH trong dịch dạ dày trẻ sơ sinh gần nhƣ trung tính nên thuận lợi
cho sự phát triển của vi khuẩn khử NO2 trở về dạng NO2- kết hợp với haemoglobin
(Hb) gây nên bệnh Methaemoglobin (MetHb) ngăn cản oxy tiếp xúc với hồng cầu
vào máu để tới các cơ quan, (giống nhƣ ngộ độc vỏ khoai mì), đồng thời trong cơ
thể trẻ sơ sinh không có loại men chuyển MetHb trở về Hb nhƣ ngƣời trƣởng thành
nên bệnh ngày càng trầm trọng hơn (Đào Ngọc Phong, 2001).
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hƣởng đến sức khỏe do sự hiện
diện của nitrat trong nƣớc khi nitrat chuyển hóa thành nitrit. Nitrit có thể oxy hóa
hemoglobin thành methemoglobin, là loại huyết sắc tố không có khả năng vận
chuyển oxy trong máu và có khả năng gây tử vong ở trẻ em (Bộ Khoa học công
nghệ và Môi trƣờng, 2001). Ngoài ra nitrit có thể tác dụng với các acid amin để tạo
thành nitrosamin là chất có khả năng gây độc và ung thƣ (Đặng Kim Chi, 2001).
Với ngƣời liều dùng 1 gam uống nhiều lần hoặc 4 gam uống làm nhiều lần
bệnh khác, do đó sau khi xử lý nếu trong nƣớc không còn phát hiện thấy vi khuẩn
E.coli chứng tỏ các loại vi trùng gây bệnh khác đã bị tiêu diệt hết. Mặt khác, việc
xác định vi khuẩn E.coli thƣờng đơn giản và nhanh chóng cho nên loại vi khuẩn này
đƣợc chọn làm vi khuẩn đặc trƣng trong việc xác định mức nhiễm bẩn do vi trùng
gây bệnh trong nƣớc.
Ngƣời ta phân biệt trị số E.coli và chỉ số E.coli. Trị số E.coli là đơn vị thể
tích nƣớc có chứa 1 vi khuẩn E.coli, còn chỉ số E.coli là số lƣợng E.coli có trong 1
lít nƣớc (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2000).
Theo Quyết định 06/2009QĐ-BYT, không đƣợc phép có mặt Coliform tổng
số, E.coli hay E.coli chịu nhiệt trong nƣớc dùng để ăn uống.
2.4 Tổng quan về vùng nghiên cứu
2.4.1 Vị trí địa lý
Phƣờng Thới An Đông nằm trên tỉnh lộ 917 nối liền quốc lộ 91B và quốc lộ
91(đƣờng Lê Hồng Phong). Khu vực cũng có nhánh sông thuộc hệ thống sông Trà
Nóc chảy qua. Đƣờng giao thông liên phƣờng và các khu vực đã đƣợc đã đƣợc
bêtông hóa. Các cầu Bôn Điều, Sáu Khế, Sáu Sao, … trên tỉnh lộ 917 đang hoàn tất
giai đoạn thi công. Tuy nhiên trong phƣờng vẫn còn nhiều cầu cũ kỹ, đặc biệt là tại
Bến đò Ngã Ba vẫn còn dùng phà loại nhỏ để lƣu thông, mặc dù đây là khu vực khá
nhạy cảm của Thới An Đông, bao gồm Trạm Y tế, Ủy Ban nhân dân, Trƣờng Trung
học cơ sở, …..
Phía Bắc: giáp phƣờng Phƣớc Thới, quận Ô Môn.
Phía Tây: giáp phƣờng Trƣờng Lạc, quận Ô Môn.
Phía Nam: giáp xã Giai Xuân, huyện Phong Điền.
Phía Đông: giáp phƣờng Trà Nóc, phƣờng Trà An, phƣờng Long Hòa
quận Bình Thủy (UBND phƣờng Thới An Đông, 2009).
8
Thuận, Thới Bình, Thới Hƣng, Thới Hòa cung cấp nƣớc sạch cho khoảng 85% dân
cƣ trong khu vực.
Các bệnh phổ biến thƣờng gặp là bệnh về đƣờng hô hấp, tiêu hóa, nóng sốt,
… đối tƣợng chủ yếu là trẻ em. Thực hiện tốt công tác tiêm ngừa phòng bệnh truyền
nhiễm cho trẻ em.Vì vậy, tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm
xảy ra trên địa bàn (UBND phƣờng Thới An Đông, 2009).
10
CHƢƠNG III
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Phỏng vấn 30 hộ ở khu vực Thới Thuận trên địa bàn xã Thới An Đông về
tình hình sử dụng nƣớc, các cách xử lý nƣớc và ý kiến của họ về chất lƣợng
nƣớc đang sử dụng, các loại bệnh đƣờng ruột thƣờng gặp, cũng nhƣ sự quan
tâm của chính quyền địa phƣơng về vấn đề nƣớc sạch.
Thu mẫu nƣớc tại trạm cấp.
Thu mẫu nƣớc tại vòi nƣớc ở nhà dân.
Thu mẫu nƣớc trong các vật chứa đƣợc ngƣời dân sử dụng trong sinh hoạt.
Phân tích các chỉ tiêu chất lƣợng nƣớc sinh hoạt: pH, độ cứng (theo CaCO3),
NO3-, NO22-, NH4+, sắt tổng, E.Coli, tổng Coliform.
Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại khu vực khảo sát dựa vào quy chuẩn
chất lƣợng nƣớc dùng cho ăn uống và quy chuẩn chất lƣợng nƣớc dùng cho
sinh hoạt năm 2009 của Bộ Y tế.
Nhận định các nguyên nhân ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại
vùng nghiên cứu.
3.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm và thời nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 4 năm 2010 tại khu vực
2
Cầu Trà Nóc 2
Đƣờng Nguyễn Chí Thanh
5
4
3
Sông Trà Nóc
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu qua 2 đợt.
CHÚ THÍCH:
UBND phƣờng Thới An Đông
Trƣờng Trung học cơ sở Thới An Đông
T
1
3
Vị trí thu mẫu tại trạm cấp nông thôn
2
4
5
Vị trí thu mẫu tại các hộ dân (nhà 1, nhà 2,
nhà 3, nhà 4, nhà 5)
12
bảo quản
Thời gian
bảo quản
1
Độ đục
PE
--
24 h
2
pH
PE
--
--
3
Độ cứng
CaCO3)
6
Hàm lƣợng nitrit
PE
Lạnh 40C
24 h
7
NH4+
PE
Lạnh 40C
24 h
8
E.Coli
Chai vi sinh
Lạnh 40C
9