TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Lâm Nhã Phương
NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ QUAN NIỆM
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
SAU NĂM 1986
Luận văn tốt nghiệp đại học
ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. Trần Văn Minh
Cần Thơ, năm 2011
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Những vấn đề lí luận về quan niệm nghệ thuật
1. 1.Về khái niệm quan niệm nghệ thuật
2. 2.Những thay đổi quan niệm nghệ thuật trong văn học Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến năm 1986
2.1.
2.1.Giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1930
1. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực
1.1.
Hiện thực chiến tranh
1.2.
Hiện thực sau chiến tranh
2. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nếu ví quá trình nhận đường của các văn nghệ sĩ vào những năm 45 là một
cuộc “lột xác” đớn đau thì có thể xem sự thay đổi nhận thức của người nghệ sĩ trong
văn học sau năm 1986 là một lần “tùng xẻo” khủng khiếp. Không phải lột bỏ hoàn
toàn lớp vỏ cũ kỉ để thay vào một lớp da tươi mới mà là tự tay cắt đi từng mảng da thịt
của mình. Những gì tốt đẹp đã làm được trong văn học trước đó là đáng trân trọng, cần
gìn giữ và nuôi dưỡng; nhưng đồng thời trong bối cảnh mới có những quan điểm,
những cách nhìn đã trở nên lạc hâu, không còn phù hợp và gây nhiều cản trở cho bước
phát triển của xã hội và của văn học cần phải được nhanh chóng loại bỏ.
Cuộc sống là phải thay đổi, phải tiến lên. Bất cứ cái mới nào rồi cũng trở nên cũ
đi trong sự vận động không ngừng của cuộc sống. Người nghệ sĩ nhận thức được điều
cuối khóa.
2. Lịch sử vấn đề
Về sự đổi mới quan niệm nghệ thuật từ sau năm 1986 trong tập tiểu luận văn
chương Lí luận trước chân trời mở, PTS. Phạm Quang Trung có ba bài viết đề cập đến
việc đổi mới văn học. Trong bài Đổi mới càng phải coi trọng tính lí tưởng của văn
chương, tác giả bàn về vấn đề văn chương cần có sự hài hòa giữa việc quan tâm đến
hiện thực và việc không nên xem nhẹ tính lí tưởng trong khi đổi mới. Bài viết Tính
tích cực của nhà văn nói về vai trò, trách nhiệm, phẩm chất của người nghệ sĩ theo
quan niệm mới. Và trong bài Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người tác giả đặt
ra vấn đề văn chương cần trở về với đặc trưng vốn có, với quy luật muôn đời của nó
khi thực tế lịch sử đã thay đổi: “Đã đến lúc cần lưu tâm đến tính toàn diện của bản
chất người, tính đa dạng của quan hệ người. Cùng với con người hiện thực, con người
hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng và con người
phi thường, nhà văn cần coi trọng thêm tới con người siêu việt, con người tâm linh,
con người tự nhiện, con người nhân loại, con người cá thể và con người đời
thường...” [20; tr.22- 23].
Trong bài Tư duy nghiên cứu văn học hiện đại trước yêu cầu đổi mới trên Tạp
chí Văn học, số 5 – 1991, Vũ Tuấn Anh viết: “Có thể nói, văn học hiện nay đang trong
một cuộc “tự thức nhận” mà ý nghĩa của nó chỉ có thể so với cuộc “nhận đường” lần
thứ nhất sau Cách mạng tháng Tám và đầu kháng chiến chống Pháp. Sự thức nhận
lần thứ nhất là một sự phủ định ráo riết quyết liệt của nền văn học mới với nhiều mặt
của nền văn học trước nó, bởi vì nó được xây dựng trên một thiết chế xã hội - chính trị
và một hệ tư tưởng hoàn toàn mới, đối lập về bản chất với cái cũ. Cuộc nhận thức
hiện nay của văn học mang một tinh thần phủ định biện chứng với chính bản thân nó.
Trên nhiều mặt phủ định những gì ngộ nhận, những quan điểm đã trở nên lỗi thời và
khẳng định những gì mà thực tiễn đã có đủ thời gian chứng minh là chân lí. Phủ định
và khẳng định đó là hai thao tác tư duy đối nghịch, mà thống nhất trong mỗi mục tiêu
không chỉ để phục vụ cho một thời một giai đoạn nhất định mà còn “có khả năng thỏa
mãn những nhu cầu thinh thần muôn thủa của con người và làm giàu tình cảm con
người”.
Trong quyển Những tín hiệu mới, Huỳnh Như Phương bàn về cái mới trong văn
học ở “cách nhìn, cách lí giải và cảm thụ thế giới” cũng như số phận của “cái mới”
thông qua bài viết Đi tìm cái mới trong văn học. Còn trong bài Văn học trên con
đường dân chủ hóa, Huỳnh Như Phương đã xem xét dấu hiệu của tinh thần dân chủ
hóa trong những sáng tác tiêu biểu của một số tác giả và chỉ ra “Dấu hiệu chủ yếu của
việc dân chủ hóa nền văn học là sự dân chủ hóa trong quan niệm về con người, trong
cách nhìn nhận con người bình thường.” [14; tr.110]. Và bàn về những đóng góp của
văn xuôi Việt Nam những năm 80 trong tiến trình dân chủ hóa nền văn học, trong bài
Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn học, Huỳnh Như Phương viết:
“Trên con đường dân chủ hóa nội dung nghệ thuật, đột phá vào những chủ đề trước
đây đã từng bị văn học lãng quên, thậm chí bị xem là cấm kị, các nhà văn Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Trần văn Tuấn,
Đoàn Lê… đã đưa ngòi bút của mình trợ lực cho cuộc đấu tranh của cái thiện đối với
cái ác…” [27; tr.292].
Nguyễn Bá Thành trong quyển Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn hóa có đề
cập đến tình hình văn học dân tộc vào thời điểm cuối những năm 80 thông qua việc
đánh giá bài kí Cái đêm hôm ấy… đêm gì của Phùng Gia Lộc. Ông đã viết: “Một bài kí
nói lên cái bi kịch của những người dân làm ăn tập thể như vậy đã được in vào năm
1987, điều đó chứng tỏ rằng, một sự đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc đã diễn ra trong
quan niệm về văn học, về báo chí và xuất bản. Có thể nói, đó là đỉnh cao nhất của tự
do ngôn luận mà sau hơn 40 năm văn học cách mạng mới có được” [18; tr. 550].
Đặc biệt Nguyễn Minh Châu – “người mở đường đầy tài hoa và tinh anh”
(Nguyên Ngọc) - là một ngòi bút tiêu biểu của thời kỳ văn học đổi mới. Ông có rất
nhiều các bài phê bình, tiểu luận… cùng những tác phẩm minh họa cho bước chuyển
biến trong quan niệm sáng tác. Với tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn
thơ ca và văn xuôi. Khi đi vào phân tích tác phẩm cụ thể để chỉ ra những đổi mới về
quan niệm nghệ thuật người viết chỉ tập trung vào tiểu thuyết và truyện ngắn - hai thể
loại phát triển mạnh mẽ và có nhiều thành tựu trong văn học giai đoạn này. Đồng thời
trong quá trình trình bày những luận điểm người viết có so sánh với những giai đoạn
văn học trước đó nhằm làm nổi bật những nét mới về quan niệm nghệ thuật giai đoạn
sau năm 1986.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành những yêu cầu của đề tài người viết đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp giải thích học
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
Đồng thời kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận… để làm sáng
tỏ các vấn đề nghiên cứu trên tinh thần khách quan, khoa học.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
1. Về khái niệm quan niệm nghệ thuật
Cho đến nay, khái niệm “quan niệm nghệ thuật” vẫn tồn tại rất nhiều ý kiến và
nhiều cách lí giải. Các tác giả nghiên cứu thuật ngữ văn học cho rằng “quan niệm nghệ
thuật” là: “Nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ
thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó [6;
tr.273]. “Quan niệm nghệ thuật” sẽ “cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới có
quan. Nếu rời xa thực tại đời sống tác phẩm sẽ nghèo nàn, khô cằn, thiếu sức sống.
Thế nhưng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm rõ ràng không phải là sự sao chép
thực tại. Đó là hiện thực được nhìn nhận qua lăng kính của người nghệ sĩ, hiện thực đã
được khúc xạ qua con mắt của người sáng tác. Như trên đã đề cập, thế giới và con
người trong tác phẩm bao giờ cũng sẽ là “thế giới và con người được quan niệm”. Để
tái hiện lại thế giới hiện thực khách quan trong trang viết thì người nghệ sĩ cần phải
hiểu về nó. Người nghệ sĩ nhìn nhận hiện thực khách quan như thế nào, hiểu về nó như
thế nào thì sẽ phản ánh vào trong tác phẩm như thế. Vì thế “Quan niệm nghệ thuật” sẽ
phản ánh trình độ tư duy của người nghệ sĩ, sẽ cho thấy khả năng, phạm vi, mức độ
chiếm lĩnh đời sống của họ. Họ nhìn cuộc sống, con người ở giác độ nào; có hời hợt,
phiến diện hay không; chỉ tiếp cận được cái bề ngoài hay là đã hiểu được bản chất. Tác
phẩm Đôi mắt của Nam Cao là một tác phẩm cho ta thấy được điều này rất rõ. Hai nhà
văn Hoàng và Độ có hai cách nhìn khác nhau về cũng một đối tượng là người nông
dân. Một người chỉ toàn thấy những cái thô lỗ, vụng về, nhố nhăng của người lao động
còn một người nhận thấy được đằng sau vẻ thô mộc, có khi tầm thường đó ẩn giấu một
bản chất tốt đẹp, một nhiệt tình đối với cách mạng và một lòng yêu nước chân thành.
Sự khác biệt đó là do cách nhìn ở mỗi người. Hoàng nhìn về người nông dân không
phải là không đúng, nhưng cách nhìn đó phiến diện và có phần khe khắt, thiếu độ
lượng. Còn Độ thì nhìn bằng đôi mắt của tình thương và sự hiểu biết thấu đáu về
người nông dân, anh bỏ qua cái lố bịch bên ngòai mà nhìn vào bản chất chân thật bên
trong của con người.
Tuy nhiên cần phân biệt “quan niệm nghệ thuật” và “quan điểm nghệ thuật”.
“Quan niệm” là những suy nghĩ, những ý niệm, còn “quan điểm” là điểm tựa, là chỗ
đứng. “Quan điểm” liên quan đến vấn đề lập trường. “Quan điểm” là điểm xuất phát
quy định phương hướng cho cách suy nghĩ, cách xem xét, cách hiểu các hiện tượng,
các sự việc. Cũng thông qua tác phẩm Đôi mắt ta sẽ thấy Độ đứng trên lập trường cách
mạng, lập trường kháng chiến để đánh giá, con Hoàng vẫn đứng trên quan điểm cá
nhân, ích kỉ của tầng lớp tiểu tư sản để nhìn vào cuộc sống, nhìn về con người.
tác phẩm đó.
2. Những thay đổi về quan niệm nghệ thuật trong văn học Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến năm 1986
2.1. Giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1930
Đầu thế kỉ XX thực dân Pháp cơ bản đã thực hiện xong công cuộc bình định
nước ta và chuyển sang giai đọan khai thác thuộc địa với chế độ cai trị và bóc lột hà
khắc. Người dân mất hết chủ quyền, giai cấp phong kiến mất hẳn vai trò của mình trở
thành bù nhìn, tay sai cho thực dân.
Trong bối cảnh chính trị phức tạp và đen tối đó, thanh niên Việt Nam cảm thấy
bi quan, tuyệt vọng vô cùng. Họ cũng hết sức chán nản lối học cũ đã lỗi thời. Họ quyết
định từ bỏ lối học từ chương, đi tìm đến những tri thức hiện đại mà họ biết được qua
sách vở và báo chí nước ngoài được bí mật đưa vào Việt Nam lúc này. Trong đó tiêu
biểu là tân thư, tân văn.
Phong trào yêu nước trong những năm đầu thế kỉ được diễn ra sôi nổi, dưới sự
lãnh đạo của các nhà chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, ngô Đức Kế, Phan Chu
Trinh, Nguyến Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng... Họ là những nhà nho yêu nước,
tiếp nhận và phát triển luồng tư tưởng cách mạng từ Châu Âu đưa đến, tách mình khỏi
giai cấp phong kiến cổ hủ, lạc hậu, đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản nhằm
mục đích cứu nước, khôi phục nền độc lập cho dân tộc. Các nhà chí sĩ chủ trương
chống tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, chủ trương làm cho con người
thoát khỏi tư tưởng sống định mệnh, trở nên can đảm, làm chủ cuộc đời mình. Họ vừa
hoạt động chính trị, vừa sáng tác văn chương, đưa những vấn đề mới của xã hội, cuộc
sống và con người vào văn học.
Quan niệm sáng tác trong văn học trung đại trước đây là quan niệm của nhà
Nho, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo. “Văn dĩ tải đạo, Thi ngôn chí” là
quan niệm chủ yếu và phổ biến trong văn học giai đoạn đó. Các nhà Nho không quan
tâm đến vấn đề mô tả hiện thực cuộc sống, họ sống hướng nội, hoài cổ, thích làm thơ
của văn học.
Nước Việt Nam là của gia tài,
Cả quyền lợi với đất đai
Của dân nào phải riêng ai một nhà
(Lời tuyên cáo của Việt Nam quang phục hội - Hoàng Trọng Mậu)
Bên cạnh nhiệm vụ với cách mạng, văn học còn có nhiệm vụ với chính bản than
nó. Văn học cần tiến lên thích ứng nhu cầu xã hội, tiến lên tự xây dựng một nền văn
học hiện đại. Một lực lượng trí thức tân học thời kì này được đào tạo từ các trường
Pháp - Việt, được tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã chú trọng nhiều đến vấn đề văn
hóa, mạnh dạn đưa văn học đến với cái mới, từ bỏ những rập khuôn sáo mòn, cũ kĩ.
Người sáng tác giai đoạn này xa dần quan niệm sáng tác để thể hiện “tâm”,
“trí”, “đạo”. Giữa cuộc sống mới đua chen, cạnh tranh, viết văn trở thành một nghề
kiếm sống, văn chương trở thành hàng hóa. Xuất hiện cái tôi, chủ nghĩa cá nhân trong
văn chương. Các tác giả của văn học lãng mạn như Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ,
Tương Phố, Tản Đà... mạnh dạn nói đến những tình cảm, những nỗi riêng tư thầm kín,
những nỗi buồn đau và những mong ước hão huyền của cả lớp người đang bi quan,
chán nản trước cuộc sống. Sự xung đột giữa lễ giáo phong kiến cũ và chủ nghĩa cá
nhân bắt đầu xuất hiện. Hiện thực xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến được
phanh phui. Những cảnh khổ của nhân dân được phơi bày qua một số sáng tác của các
cây bút hiện thực: Phạm Duy Tốn, Nguyến Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Vũ Đình Long...
Tư tưởng văn học mới để tâm vào vấn đề phản ánh hiện thực, thể hiện vai trò
nhận thức cao của văn học đối với đời sống. Văn xuôi trở nên được xem trọng vì có
nhiều khả năng phản ánh chân thực, cụ thể, đa dạng cuộc sống mới - cuộc sống tư sản
hóa đầy phức tạp, bon chen. Văn học trước kia không để ý đến miêu tả cụ thể, chân
thực cuộc sống đời thường thì giai đoạn này các tác giả của bộ phận văn học mới để
hết tâm lực vào mô tả sao cho chân tình, chân cảnh con người và cuộc sống xã hội.
Đối tượng tập trung miêu tả là cuộc sống thực, cuộc sống đời thường và những con
người thực, con người bình thường. Đó là một xã hội náo nhiệt xô bồ mà đồng tiền tư
Có thể tìm thấy những quan niệm nghệ thuật của một số cây bút tiêu biểu trong
văn học hợp pháp giai đoạn này:
Xuân Diệu - nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới - quan niệm thơ chính là
sự sống tươi trẻ, say mê, nồng ấm, là sản phẩm của cảm xúc, của trí tuệ, là tinh chất
cuộc đời. Trong thơ ông thể hiện rõ quan niệm về mối quan hệ máu thịt giữa nhà thơ
với cuộc đời hay cuộc đời với nhà thơ và thể hiện niềm khát khao không bao giờ mất
là khát khao hòa nhập, giao cảm với đời:
Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm.
(Cảm xúc)
Nhưng cuộc đời mà ông muốn “Hai tay chín móng bám vào đời” không phải là
cuộc đời đầy lao khổ, là hiện thực cuộc sống nóng bỏng, mà cuộc đời qua con mắt của
thi nhân là một thế giới đầy mộng, đầy hoa, đầy say đắm:
Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẫn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây
Hay chia sẻ bởi tâm tình âu yếm
(Là thi sĩ )
Con người trong thơ Xuân Diệu là con người cá nhân với cái tôi được đề cao
tuyệt đối:
Ta là một, là riêng, là thứ nhất
Không có chi bè bạn nỗi cùng ta
(Hi Mã Lạp Sơn)
Chế Lan Viên - chàng trai mười bảy tuổi đã làm “kinh dị” thi đàn thì thể hiện
quan niệm về thơ như sau: “Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là người.
Nó là Người Mơ. Người Say. Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu.
Nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta không hiểu
được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí.”
nghiêm túc: “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sư bất lương rồi. Nhưng sự
cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” (Đời thừa). Một tác phẩm nghệ thuật có
giá trị: “phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm
chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa
đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca ngợi lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó
làm cho người gần người hơn” (Đời thừa). Và nghệ thuật cần phải mang một sứ mệnh
cao quý: phải là thứ nghệ thuật phục vụ đời sống, hướng vào quần chúng lao khổ sống
dưới đáy xã hội: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh
tráng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm
than” (Giăng sáng).
Thạch Lam, một ngòi bút đằm thắm trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì quan
niệm văn chương như một cái gì đó vừa đẹp vừa thiết thực. Đó là một quan niệm thể
hiện ý thức trách nhiệm cao của người nghệ sĩ đối với nghề: “Đối với tôi, văn chương
không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn
chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực, mà chúng ta có, để vừa tố cáo và
thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và
phong phú hơn” [28; tr.21]. Với Thạch Lam, văn học cần gắn bó cuộc sống, lấy cuộc
sống làm cái gốc cho sự sáng tạo và làm thước đo để xem xét giá trị tác phẩm: “Nghệ
thuật và văn chương, muốn tiến hóa mãi mãi, lúc nào cũng tươi thắm và mạnh mẽ,
không sợ khô héo hay căn cỗi, bao giờ cũng phải đi theo, bao quát và cố vượt lên trên
cái sống tiềm tàng và ngấm ngầm trong tâm hồn người cũng như trong vũ trụ” [28;
tr.542]. Nhà văn theo quan niệm của ông là người mang một trách nhiệm lớn lao:
“Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng đỡ
những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn” [28; tr.21].
Có thể thấy trước cách mạng tháng Tám, trong vòng kiềm kẹp của kẻ thù, tâm lí
chung của tầng lớp trí thức tư sản, tiểu tư sản là cô đơn và lạc lõng. Trước mắt họ mọi
con đường đều bế tắc, không lối thoát. Vì thế người người nghệ sĩ phải trốn tránh trong
cái tôi của mình và chưa nhận thức được vai trò to lớn của mình cũng như của văn
2.3. Giai đoạn 1945 – 1975
Năm 1945, lịch sử dân tộc sang một trang mới, cùng với sự kiện lịch sử, nền
văn học mới cũng được ra đời. Đó là nền văn học cách mạng mang tính dân tộc, tính
Đảng, tính nhân dân sâu sắc. Các vấn đề được khám phá và thể hiện gắn liền với lòng
yêu nước, khát vọng độc lập - tự do và ý thức về cộng đồng.
Cách mạng tháng Tám thành công đã phá tan bầu không khí nặng nề chứa đựng
những cảm xúc cô đơn, lạc lõng, bế tắc, mất phương hướng của văn nghệ sĩ. Cách
mạng mở ra cho họ một con đường mới và đúng đắn. Họ không còn chao đảo, hoang
mang, lần tìm trong tối tăm của cuộc sống nô lệ mà trở thành những con người tự do
và có ý thức về cộng đồng. Dù phải trải qua một cuộc trở mình, một quá trình “lột xác”
đầy đau đớn nhưng cuối cùng điều họ lựa chọn và đi theo là mang ngòi bút phục vụ
cho nhân dân, cho đời sống, cho cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc, cho hiện
thực cách mạng đang sục sôi trước mắt.
Giờ đây, người nghệ sĩ nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của họ với công cuộc
chung của toàn dân tộc. “Họ không bàng quan đứng ngoài mà nhìn vào cuộc chiến
nhìn vào đời sống quần chúng để rồi đưa vào tác phẩm … mà họ bắt đầu xâm nhập và
thay đổi cách nhìn cách nghĩ cũng như cách viết. Không đứng trên quần chúng mà
hòa mình với quần chúng, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của quần chúng,
vui cái vui của quần chúng, lo cái lo của quần chúng, học hỏi quần chúng để sáng tác,
đặng góp phần nâng cao ý thức về lẽ sống của mỗi người, Nhà văn không chỉ sáng tác
với cảm nhận của tâm hồn nghệ sĩ, mà còn với tư cách một công dân. Người nghệ sĩ
không phải nhân danh cá nhân mình mà nhân danh dân tộc để bộc lộ cảm xúc, tình
cảm và suy nghĩ chung của cả cộng đồng” [9; tr.41]
Người nghệ sĩ giờ đây mang một sứ mạng và một vị trí cao cả: trở thành chiến
sĩ chiến đấu trên trang viết của mình, mang ngòi bút của mình góp mặt vào cuộc đấu
tranh của dân tộc để làm nên chiến thắng:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những chiến sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng
(Núi Đôi – Vũ Cao)
Hiện thực được thi vị hóa trở nên tươi sáng hơn, nên thơ hơn. Con người hạnh
phúc trong cuộc sống mới mà cách mạng đã mang đến:
Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ
Một nhành hoa cũng muốn giục môi hôn
(Tàu đến – Chế Lan Viên)
Hiện thực đời sống kháng chiến mang một vẻ đẹp kì vĩ:
Súng nổ rung trời dữ dội
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Con người trong quan niệm sáng tác giai đoạn này là con người đại diện cho
tinh hoa, khí phách, phẩm chất và ý thức của toàn thể dân tộc. Nhân vật là con người
chung, con người vô danh, con người bình dân, con người kháng chiến, con người gắn
bó máu thịt trong tình đồng chí, đồng bào. Là những người anh hùng được sử thi hóa,
không là những cá nhân riêng lẻ. Con người bao giờ cũng tượng trưng cho sức sống, tư
thế của cả dân tộc và được nâng lên tầm vóc thời đại, mang vẻ đẹp phi thường:
Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhât
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng...
...Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:
gái với: “... trái tim vĩ đại,/ còn một giọt máu tươi còn đập mãi,/ không phải cho em cho lẽ phải trên đời,/ cho quê hương em cho Tổ quốc, loài người...” (Người con gái
Việt Nam- Tố Hữu)
Là con người với lí tưởng quên mình cao đẹp:
Ôi tổ quốc, nếu cần, ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông..
(Sao chiến thắng - Chế Lan Viên)
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 1030 - 1945 đã “để lại hình
bóng của con người một thời anh liệt, sôi nổi, một thời vươn mình hồi sinh dưới ánh
sáng cách mạng của dân tộc Việt Nam sau đêm dài phong kiến và thuộc địa.” [17; tr.
237]
Nhìn chung, có thể nhận định quan niệm nghệ thuật trong văn học Việt Nam
giai đoạn này qua lời phát biểu của đồng chí Trường Chinh trong bài nói chuyện tại
Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III: “Chúng ta chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh
chứ không phải nghệ thuật vị nghệ thuật”.Và với quan niệm đúng đắn, phù hợp yêu
cầu của lịch sử dân tộc, văn học cách mạng 1945 - 1975 đã góp một phần rất lớn vào
chiến thắng vẻ vang của dân tộc cũng như ghi vào lịch sử văn học nước nhà một mốc
son chói lọi, hào hùng.
2.4. Giai đoạn 1975 – 1986
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta được thống nhất, nỗi đau chia
cắt đã không còn và cuộc sống thanh bình đang mở ra trước mắt. Nhưng những hậu
quả chiến tranh để lại cũng thật nặng nề: Đất nước bị tàn phá, nền kinh tế lạc hậu, kiệt
quệ. Những khó khăn mới không ngừng nảy sinh: bộ máy quản lí nhà nước có nhiều
bất cập; các thế lực thù địch không ngừng chống phá; tình hình thế giới trở nên vô
cùng bất lợi cho phong trào Cách mạng. Cả nước ta phải bắt tay vào việc khắc phục
những tổn thất, hàn gắn vết thương chiến tranh với mong muốn đưa đất nước đi lên, ổn
định đời sống nhân dân. Nhưng bên cạnh những thành tựu bước đầu đạt được thì
những khó khăn yếu kém, những sai lầm trong chính sách quản lí kinh tế như: nôn
nữa. Khi tất cả đã kết thúc, có những điều mà người ta không thể nào lờ đi bởi nó phơi
bày ngay trước mắt, không thể trốn tránh và nó còn tồn tại mãi mãi. Vì thế mà những
người nghệ sĩ lại tiếp tục cầm bút viết cho những gì trước đây chưa thể nói thì bây giờ
phải nói.
Thêm vào đó, đến những năm đầu thập niên 80 tình hình đất nước ngày một rối
rắm. Tư tưởng và tâm lí xã hội bắt đầu chuyển từ phấn khởi, tự tin sang ngỡ ngàng,
băn khoăn, lo lắng trước sinh hoạt ngày một khó khăn; trước sự va chạm trong cách
nghĩ, cách làm, những xung đột xảy ra trong chính nội bộ cán bộ lãnh đạo; những cái
xấu cái tiêu cực len lỏi vào mọi mặt của cuộc sống và ngày càng lan nhanh.
Thực tại cuộc sống lúc này không còn giản đơn, những quan niệm văn học
trước đây đã trở nên không còn phù hợp trong thời đại mới. Người cầm bút cần phải
có sự thay đổi trong cách nhìn, cách nghĩ, cách viết. Lối viết một chiều, khai thác một
hướng, hoặc sơ lược chung chung sẽ không thể giải quyết được những vấn đề trước
mắt và khó lòng được chấp nhận. Cần phải hết sức tỉnh táo, thẳng thắng, phải nhìn
nhận, lí giải những gì đã và đang xảy ra một cách đa phương, đa diện. Nhà văn cần
thao thức, trăn trở, nghiền ngẫm, tìm kiếm, khám phá các vấn đề để tìm lời giải đáp, để