Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
TRƯỜN G ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ H ỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN THỊ NGỌC ĐĂNG
TRƯỜNG TỪ VỰNG TÌNH YÊU
TRONG THƠ XUÂN DIỆU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn:
ThS:NGUYỄN THỊ THU THỦY
Cần Thơ, 05/2011
Luận văn tốt nghiệp
1
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A - Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2.1. Xuân Diệu – cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
2.1.1. Vài nét chính về tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu
2.1.2. Sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu
2.2. Đặc điểm nội dung thơ Xuân Diệu
Luận văn tốt nghiệp
2
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
2.2.1. Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
2.2.2. Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
2.3. Tổng quan trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
2.4. Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu trước năm 1945
2.4.1. Đối tượng của tình yêu
2.4.2. Hoạt động của tình yêu
2.4.3. Trạng thái, cảm xúc của tình yêu
2.5. Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu sau năm 1945
2.5.1. Đối tượng của tình yêu
2.5.2. Hoạt động của tình yêu
2.5.3. Trạng thái, cảm xúc của tình yêu
C – Phần kết luận
Luận văn tốt nghiệp
3
Đọc tác phẩm của Trier, người đọc không có được sự phân biệt giữa “vùng” với
“trường” thật chắc chắn và cũng chỉ hiểu một cách mơ hồ rằng “trường từ” và
“trường khái niệm” theo tác giả là khác nhau. Tuy nhiên theo đánh giá của S. Ullmann
thì Trier là người đã “mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học”
[Ullmann,tr7] ở chỗ với lí thuyết “trường” tác giả đã thử nghiệm áp dụng quan điểm
cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng - ngữ nghĩa.
Sau Trier và Weisgerber, nhiều người cũng đã đưa ra thêm những quan niệm về
“trường” dựa vào các tiêu chí khác nhau để tập hợp các đơn vị từ vựng. Trong phạm vi
tài liệu tham khảo của người viết, cụ thể có các công trình sau:
Trong giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt. Bùi Tất Tươm có viết:
“trường nghĩa là một phạm trù chưa được nghiên cứu nhiều và đang còn nhiều kiến
giải khác nhau về vấn đề xác định các trường nghĩa” và theo Bùi Tất Tươm “các từ
Luận văn tốt nghiệp
4
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
trong từ vựng có quan hệ với nhau thành các hệ thống lớn nhỏ tùy theo các tiêu chí tập
hợp chúng. Một tập hợp từ theo các tiêu chí về nghĩa gọi là một trường nghĩa” [29;
69]. Dựa vào chức năng của từ, Bùi Tất Tươm chia trường nghĩa thành hai loại: trường
liên tưởng và trường kết hợp.
Mai Ngọc Chừ cũng có bài nghiên cứu về trường từ vựng cụ thể trong quyển Nhập
môn ngôn ngữ học do ông chủ biên. Theo Mai Ngọc Chừ “các đơn vị từ vựng đồng
nhất với nhau về nghĩa tập hợp thành trường nghĩa” và “quá trình huy động từ ngữ để
tạo lập diễn ngôn chính là quá trình xác lập trường nghĩa”. Cũng như Bùi Tất Tươm,
Mai Ngọc Chừ cũng tiến hành phân loại trường nghĩa nhưng theo ông trường nghĩa có
ba loại: trường biểu vật, trường biểu niệm và trường nghĩa liên tưởng.
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
Vũ Thị Ân trong quyển Ngôn ngữ số 9 năm 2003 đã có bài nghiên cứu về trường
từ vựng với nhan đề “Trường nghĩa của từ yêu trong thơ Xuân Diệu”. Theo tác giả,
các từ ngữ cùng trường nghĩa với từ “yêu” được phân thành 3 loại: những từ ngữ chỉ
những đối tượng của tình yêu; những từ ngữ chỉ những hành động, những cảm xúc,
những trạng thái, những kết quả của tình yêu; những từ ngữ chỉ những cung bậc, những
sắc thái của tình yêu. Tác giả đã đưa ra danh sách tần số và tỉ lệ phân bố của các từ, tuy
nhiên chỉ dừng lại ở mức thống kê mà chưa đi vào phân tích cụ thể.
Trong quyển Ngôn ngữ số 9 năm 2010, tác giả Lưu Văn Din đã có bài viết với
nhan đề “Trường ngữ nghĩa các yếu tố ngôn ngữ liên quan đến nước trong ca dao,
tục ngữ người Việt”. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu vận dụng lí thuyết trường
nghĩa liên tưởng để khảo sát. Lưu Văn Din đã đưa ra các kiểu trường từ vựng ngữ
nghĩa liên quan đến nước như: Trường ngữ nghĩa chỉ không gian tồn tại của nước,
trường ngữ nghĩa chỉ dạng thức tồn tại và tính chất của nước, trường ngữ nghĩa chỉ
trạng thái vận động của nước, trường ngữ nghĩa chỉ đời sống sinh hoạt và canh tác của
người Việt trong môi trường nước.Qua bài viết của tác giả cho thấy, trường ngữ nghĩa
các yếu tố ngôn ngữ liên quan đến nước trong tiếng Việt rất phong phú, bài viết tuy
ngắn nhưng đã làm nổi bật được vấn đề.
Trần Thị Mai với bài “Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa
Thiêng của Huy Cận” được in trong quyển Ngôn ngữ và đời sống số 1 + 2 năm 2010.
Trong bài viết này, tác giả đã xét trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa
Thiêng của Huy Cận chủ yếu dựa vào lí thuyết trường nghĩa biểu vật. Trần Thị Mai đã
khảo sát các từ thuộc trường nghĩa chỉ không gian và phân thành những nhóm nhỏ
như: từ chỉ không gian chung, từ chỉ không gian trên cao, từ chỉ không gian dưới mặt
đất,…tác giả đã phân tích và đưa ra các dẫn chứng để làm rõ vấn đề. Bài viết của Trần
Thị Mai đã khái quát được trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa Thiêng
của Huy Cận, làm nổi bật ngôn từ nghệ thuật trong tập Lửa Thiêng nói riêng và trong
cũng chính trong bài viết này, thêm một lần nữa Thế Lữ đã khẳng định những đóng
góp của Xuân Diệu trong Phong trào Thơ Mới với niềm hân hoan tự hào “và từ đấy
chúng ta đã có Xuân Diệu”. Thế Lữ cũng nhấn mạnh tâm hồn thơ của Xuân Diệu là
“say đắm với tình yêu và hăng hái với xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động
với bướm chim, chất đầy trong bầu tim mây trời thanh sắc” [23; 139]. Quả thật Thế Lữ
đã rất tinh nhạy và công bằng khi nhận xét về Xuân Diệu ngay từ khi ông mới bước lên
thi đàn.
Năm 1941, Hoài Thanh – Hoài Chân đã đưa Xuân Dịêu vào thi nhân Việt Nam,
một lần nữa khẳng định vị trí của nhà thơ Xuân Diệu trong làng Thơ Mới. Theo tác giả
Thi nhân Việt Nam thì: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng
thấy ở chốn non nước lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời,
sống vội vàng, sống cuốn quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình” [22;
129]. Trong bài viết này Hoài Thanh – Hoài Chân đã phần nào xác định phong cách
thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng việc nghiên cứu chỉ
dừng lại ở những phán xét chung nhất cho thơ Xuân Diệu mà không đi sâu vào nghiên
cứu nội dung hay nghệ thuật của thơ Xuân Diệu.
Vũ Ngọc Phan trong bài Một thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu in trong công trình
nghiên cứu Nhà văn hiện đại đã nhận xét về tập Thơ thơ của nhà thơ Xuân Diệu
“người ta thấy thơ Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhất trong tất cả các nhà thơ mới.
Cả ý lẫn lời đều tha thiết, làm cho nhiều thanh niên ngây ngất” [24; 55] và “với những
nguồn hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù là vui hay buồn, Xuân Diệu cũng ru
thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thiết”. Vũ Ngọc Phan đã kết luận về tập Thơ Thơ
của Xuân Diệu đó là “cả một bầu xuân, thơ ông là một bầu chứa muôn hương tuổi
trẻ” [24;56].
Luận văn tốt nghiệp
7
Trần Thị Ngọc Đăng
Hoàng Trung Thông cũng đưa ra rất nhiều hình ảnh thơ Xuân Diệu trước và sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945 để thấy sự chuyển biến về tình cảm trong thơ tình Xuân
Diệu. Theo đó thì ta thấy bài viết của Hoàng Trung Thông nghiên về những đánh giá
thơ tình Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám hơn.
Với Những đường thơ Xuân Diệu thì Hà Minh Đức đã nhận thấy trong tình yêu
Xuân Diệu là một người “thích miêu tả sự sống ở trạng thái dâng trào, ở thời điểm
náo nức của đôi lứa trong tình yêu, của tạo vật đang độ dâng hương sắc. Và đó cũng
là lúc sự sống có biểu hiện thắm tươi và hấp dẫn nhất. Vẫn chưa đủ, Xuân Diệu muốn
Luận văn tốt nghiệp
8
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
tất cả đối tượng ở trong cuộc phải bộc lộ đầy đủ sự đam mê qua lời nói, ánh mắt,
miệng cười, tay riết,… Tình yêu không trầm sâu mà phải nổi sóng, cơn sóng yêu đương
sẽ tràn bờ và dâng lên những chốn vô biên về miền tuyệt đích” [9; 173]. Đó là những
lời nhận xét rất hay và khá đầy đủ về biểu hiện của tình yêu trong thơ Xuân Diệu.
Cùng quan điểm với Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh trong quyển Nhà văn
Việt Nam hiện đại chân dung và phong cách đã viết lời nhận xét về quan niệm tình
yêu trong thơ Xuân Diệu: “ với Xuân Diệu, quan niệm tình yêu vừa trần tục, vừa lí
tưởng, tình yêu thật là tình yêu mới cất lên tiếng nói thành thật và đầy ý thức của nó
trong văn học ta” [16; 48].
Tác giả Đoàn Thị Đặng Hương trong bài viết Xuân Diệu – hoàng tử của thi ca
Việt Nam hiện đại đã đưa ra một nhận định là khi “nói đến thơ Xuân Diệu mà không
nói đến thơ tình yêu của ông thì có lẻ là một cái gì chưa đủ, một mất mát lớn trên bộ
mặt thi ca ông” [14; 253]. Và khi nhận xét về thơ tình của Xuân Diệu thì: “ Tôi vẫn
nghĩ tình yêu trong thơ Xuân Diệu có vẻ gì lạ lắm, nó có vẻ là một nỗi khát khao, một
nàn và da diết… trong thơ Xuân Diệu.
Nhìn trên tổng thể, việc nghiên cứu tình yêu trong thơ Xuân Diệu ở nhiều góc cạnh
khác nhau đã được đề cập đây đó trong các chuyên luận, công trình, bài viết… Tình
yêu trong thơ Xuân Diệu đã được xét đến ở một số góc độ như: mãnh liệt, rạo rực, thiết
tha,… Tuy nhiên vấn đề về “trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu” vẫn chưa
được nghiên cứu riêng một cách trọn vẹn. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu ý kiến, kết quả
đạt được của những tác giả trước, người viết sẽ cố gắng hoàn thành đề tài nghiên cứu
của mình về Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình”. Thông qua việc nghiên
cứu trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu ta có thể hiểu thêm về mảng thơ tình
của ông, những nhân tố góp phần tạo nên phong cách thơ Xuân Diệu. Đây là một
hướng tiếp cận mới, lí thú và đầy sức thuyết phục đối với những phong cách thơ đã ổn
định từ góc độ ngôn ngữ học.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Dựa vào những công trình nghiên cứu trước đây. Với đề tài này, người viết sẽ đi
sâu tìm hiểu những từ thuộc trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu. Yêu cầu đặt
ra là phải có tiêu chí tập hợp các từ cùng trường nghĩa và phân loại chúng. Qua đó,
bước đầu phân tích và chỉ ra hiệu quả sử dụng các từ ngữ thuộc trường từ vựng tình
yêu, một nhân tố góp phần đưa thơ tình Xuân Diệu lên đỉnh cao.
Song song với việc phân tích, lí giải trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu,
người viết có mở rộng vấn đề, so sánh với một số nhà thơ khác, từ đó khẳng định đặc
trưng riêng của thơ tình Xuân Diệu.
Với đề tài này, phạm vi tư liệu mà người viết sử dụng bao gồm các tập thơ tiêu biểu
của Xuân Diệu ở cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám năm
1945.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Thơ thơ
của nhà thơ Xuân Diệu.
Phương pháp qui chiếu
Dùng phương pháp qui chiếu, giúp người viết rút ra được những cái khác biệt cũng
như những nét độc đáo của trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu so với các
nhà thơ khác
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng một số biện pháp, thủ
pháp như: tập hợp tư liệu, phân loại tư liệu, lập biểu mẫu…để làm cơ sở cho các
luận điểm được trình bày trong luận văn.
Các phương pháp trên đây không phải thực hiện một cách riêng lẻ, biệt lập mà nó
được vận dụng, phối hợp với nhau trong quá trình khảo sát, phân tích thơ Xuân Diệu
cùng với việc đánh giá các vấn đề nội dung trong luận văn.
Luận văn tốt nghiệp
11
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
B – PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRƯỜNG TỪ VỰNG
1.1. Khái niệm từ vựng
Vựng trong tiếng Hán có nghĩa là cái kho, nơi chứa. Từ vựng là kho từ, vốn từ của
một ngôn ngữ gồm các từ và các đơn vị tương đương với từ, tức thành ngữ. Trong đó,
từ là đơn vị từ vựng cơ bản nhất. Từ vựng là một hệ thống hữu hạn, là một bộ phận
quan trọng của hệ thống ngôn ngữ, phát triển liên tục cùng với sự phát triển của xã hội.
Mỗi từ trong hệ thống bao giờ cũng đối lập với các từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan
đến đời sống và là cơ sở để tạo từ mới cho tiếng Việt.
1.1.2.2. Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa
trên quan hệ ý nghĩa.
Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm hai loại
chính:
■ Từ ghép đẳng lập
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.
- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:
+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa, trong đó:
* Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bụng dạ,
bạn hữu, máu huyết,…
* Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: thổ địa, tư duy, cốt nhục,…
* Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ,….
* Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương. Ví
dụ: chợ búa, bát đọi, chân cẳng,…
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau.
Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần,…
+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau.
Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ,…
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi
sự vật mang ý nghĩa cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động
chung, mang tính chất khái quát).
■ Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo
nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này
thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những
đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính
chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo này có khuynh hướng nêu lên các
sự vật mang ý nghĩa cụ thể.
- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng
hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hoá loại sự vật, hoạt động
hoặc đặc trưng đó.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính
phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân
chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng
cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của các yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng
phân loại. Thí dụ:
● Máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…
● Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…
● Vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có
tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành
tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này
khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ, so sánh xanh lè với xanh và
xanh biếc,…
1.1.2.3. Từ láy: là những từ gồm nhiều tiếng, các tiếng được ghép lại dựa trên quan
hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.
Luận văn tốt nghiệp
14
- Trong từ láy có ít nhất một yếu tố không độc lập, nghĩa không còn đủ rõ. Như vậy
từ láy trong tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp:
* Từ láy có một yếu tố độc lập và một yếu tố không độc lập. Ví dụ: vắng vẻ,
sạch sẽ,…
* Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập. Ví dụ: bâng khuâng, lác đác,…
Phân loại từ láy: kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong
từ, có thể phân từ láy thành các loại sau:
- Từ láy đôi: là từ láy gồm có hai tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi như sau:
+ Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu.
Ví dụ: sạch sẽ, dễ dàng, chói lọi, khéo léo,…
+ Từ láy hoàn toàn: ngoại trừ những từ láy bộ phận còn lại là từ láy hoàn toàn.
Ví dụ: đùng đùng, lù đù, đu đủ, cỏn con,…
- Từ láy ba và láy tư:
+ Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn.
Ví dụ: dững dừng dưng, cỏn còn con, xốp xồm xộp, khít khìn khịt,…
+Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là
từ ghép.
Ví dụ: hì hục--- hì hà hì hục
ấm ớ--- ấm a ấm ớ
bồi hồi--- bổi hổi bồi hồi
hăm hở---- hăm hăm hở hở
Luận văn tốt nghiệp
15
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
Vậy: nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái
quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những
quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ. Chính vì nghĩa
biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là
cấu trúc biểu niệm. [27; 30].
1.1.3.3. Nghĩa biểu thái
Thuộc phạm vi nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá như “to
nhỏ”, “mạnh yếu”,… Nhân tố cảm xúc như: “dễ chịu”, “khó chịu”, “sợ hãi”,…Nhân tố
Luận văn tốt nghiệp
16
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
thái độ như: “trọng”, “khinh”, “yêu”, “ghét”,…mà từ gợi ra cho người nói và người
nghe.
Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật hiện tượng đã
được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người. Do đó, cùng với tên gọi, con người
thường gửi kèm theo những cách đánh giá của mình. Chính vì vậy mà trong ý nghĩa
của từ còn có ý nghĩa biểu thái.
1.2. Trường từ vựng
1.2.1. Các quan niệm về “trường”
Cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí dù rất tương đối về các đối tượng và tiêu chí
xác định đối tượng ứng với thuật ngữ “trường”. Ngay cả tên gọi, có khi là “trường từ”,
“trường từ vựng”, “trường nghĩa”…
Trường nghĩa là một khái niệm mới, xuất hiện vào những năm 20 – 30 của thế kỷ
Luận văn tốt nghiệp
17
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
tiếng Anh; trường từ vựng - cú pháp các từ có khả năng kết hợp ở phía trước với rất,
hơi, khá, khí và ở phía sau với lắm, quá trong tiếng Việt…
* Hướng dựa vào các nét nghĩa phạm trù, các nét nghĩa loại: Theo hướng này,
người ta dựa vào các nét nghĩa phạm trù, nét nghĩa loại để lập các trường từ vựng –
ngữ nghĩa. Đây là tập hợp các từ có quan hệ về mặt ngữ nghĩa. Thí dụ việc lập các
trường từ vựng – ngữ nghĩa dựa vào nét nghĩa như màu sắc, hoặc thời gian, hoặc
phương hướng, hoặc thức ăn, hoặc phương tiện đi lại trên bộ, trên nước,…
* Hướng dựa vào các từ mà người nghe liên tưởng tới khi nghe được một từ nào
đó. Theo hướng này, người ta lập các trường từ vựng ngữ nghĩa liên tưởng. Thí dụ,
nghe từ lài, trường liên tưởng ngữ nghĩa của người Việt có thể gồm các từ sau đây:
hoa, trắng trong, thơm mát, người trồng hoa, người mà bạn đã có lần gặp khi có mùi
lài, những cái chỉ đẹp khi đêm xuống, kỹ nữ, gái ăn sương,…
1.2.2. Khái niệm trường từ vựng
Từ vựng là tập hợp các từ và đơn vị tương đương của từ với một ngôn ngữ. Song, từ
vựng không phải là một tập hợp ngẫu nhiên các đơn vị này. Từ vựng là một hệ thống.
Do đó, giữa các đơn vị của hệ thống từ vựng tồn tại những mối quan hệ nhất định. Một
trong những mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị từ vựng là quan hệ về nghĩa. Các đơn
vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa được tập hợp thành trường từ vựng.
Một trong những phạm vi phổ biến của ngôn ngữ trong hoạt động hành chức là làm
phương tiện giao tiếp. Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình cơ bản là quá trình tạo lập
(sản sinh) và quá trình tiếp nhận (lĩnh hội) diễn ngôn. Để tạo lập diễn ngôn, người giao
ngang, chiều tuyến tính. Như thế, ngoài các trường nghĩa trực tuyến lại có thể tập hợp
các từ có chung khả năng kết hợp với một từ nào đó.
Thí dụ các trường nghĩa ngang của từ BÀN
Làm, đóng, chế tạo, sửa, chữa, dọn, lau,…..+ BÀN
BÀN + to, nhỏ, tốt, xấu / gỗ, sắt, đá, nhựa, mi ca / ăn, học, nước,…
1.2.3.3. Trường nghĩa liên tưởng
Theo Charles Bally, mỗi từ phát ra là một kích thích có thể làm trung tâm của một
trường liên tưởng ngữ nghĩa. Từ bò trong tiếng Pháp có thể làm ta liên tưởng tới nhiều
ý nghĩa ngoài ý nghĩa về một con bò cụ thể hay khái niệm bò với các thuộc tính động
vật có vú, loài nhai lại, có sừng, cho sữa, thịt, sức kéo,… Như vậy, khi một từ được
phát ra, người nghe một mặt lĩnh hội được ý nghĩa của riêng từ ấy, mặt khác có thể liên
tưởng tới nhiều sự kiện xã hội và cá nhân phong phú, sinh động. Toàn bộ các từ được
gợi lên do sự liên tưởng ấy họp lại thành trường liên tưởng ngữ nghĩa của từ. Lí thuyết
về trường liên tưởng ngữ nghĩa có tác dụng tốt trong việc lí giải cái gọi là thơ trừu
tượng của một số tác giả văn chương.
Thí dụ: Với hình ảnh cây Tùng, ta có thể liên tưởng tới nhiều ý nghĩa khác như:
đấng nam nhi, người anh hùng, sự hùng vĩ, hiên ngang,…
1.3. Trường từ vựng tình yêu
1.3.1. Tình yêu là gì ?
Tình yêu là một khái niệm đa nghĩa trong cách diễn đạt và cách hiểu của người
Việt. Trong suốt lịch sử của nhân loại, cho đến nay vẫn chưa có ai có thể đưa ra một
định nghĩa tuyệt đối về tình yêu. Khi nói đến đề tài này thì có vô số ý kiến cũng như
những quan niệm khác nhau về tình yêu, người viết xin đưa ra một số quan niệm tiêu
biểu như sau:
* “Tình yêu là sự an nghĩ tốt nhất trong cuộc sống” – Pablo Picaso [ 30]
* “Tình yêu không bao giờ đòi hỏi, bao giờ nó cũng tặng hiến. Tình yêu luôn
luôn dày vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và trả thù” – U. Ganđi [30]
* “Tình yêu là liều thuốc kháng sinh tốt nhất chống lại mọi bệnh tật” – Plato
những tình yêu như: tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đồng loại, tình yêu thiên
nhiên,…những điều này luôn tiềm ẩn trong mỗi người chúng ta và luôn sát cánh cùng
tình yêu đôi lứa.
Tóm lại, có thể hiểu tình yêu theo nghĩa chung nhất đó là “tình cảm nồng nhiệt,
làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật. Như tình yêu quê
hương, tình cảm yêu đương giữa nam và nữ, tình yêu son sắt thủy chung…” [28; 963].
1.3.2. Khái niệm trường từ vựng tình yêu
Trường từ vựng tình yêu là một tập hợp các đơn vị từ vựng, có nét đồng nhất về
ngữ nghĩa trong việc thể hiện trạng thái tình cảm của con người.
Trong bài nghiên cứu của mình, người viết sẽ xét trường từ vựng tình yêu trong thơ
Xuân Diệu theo trường nghĩa liên tưởng. Từ đó, phân các từ ngữ cùng trường theo ba
phương diện:
+ Một là, những từ ngữ chỉ những đối tượng mà cảm xúc yêu thương của chủ
thể hướng tới và bày tỏ như: anh, em, cô, tôi, chàng, nàng, cha, mẹ, quê hương…Hoặc
là những từ ngữ chỉ những sự vật, những đối tượng có liên quan chẳng hạn như: trầu
cau, mây, gió, mắt, tóc, ngực, má,…
+ Hai là, những từ ngữ biểu thị những hoạt động của tình yêu như: ôm, hôn, cắn
ghì, vuốt ve,….
Luận văn tốt nghiệp
20
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
+ Ba là, những từ ngữ biểu thị những trạng thái, những cảm xúc của tình yêu
như: say, thắm thiết, khăng khít, mặn nồng, lưu luyến, nhạt, phai,…
Để phân biệt giữa những từ ngữ chỉ những hoạt động của tình yêu với những từ ngữ
học vào làm thầy dạy ở Bình Định, kết duyên với bà Nguyễn Thị Hiệp.
Thuở nhỏ Xuân Diệu đã học chữ Nho, chữ Quốc Ngữ và cả tiếng Pháp với cha.
Năm 1927, xuống học ở Quy Nhơn, đỗ bằng thành chung năm 1934. Thời kỳ này Xuân
Diệu đã tập làm những bài thơ theo thể thơ truyền thống và rất mến phục Tản Đà. Năm
1935-1936, Xuân Diệu ra học tú tài ở một trường trung học Bảo hộ tại Hà Nội. Năm
1936-1937, Xuân Diệu học tú tài ở hai trường trung học Khải Định - Huế. Tại đây
Xuân Diệu đã gặp người bạn tri kỉ của mình là Huy Cận, họ đã có một tình bạn đẹp và
bền bỉ gần 50 năm.
Năm 1940-1943, Xuân Diệu đỗ tham tá thương chính và làm việc tại sở Đoan – Mĩ
Tho. Xuân Diệu tham gia Cách mạng năm 1944. Năm 1945 tham gia cướp chính
quyền tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là Uỷ viên ban chấp hành
Hội văn hoá cứu quốc, thư ký tạp chí Tiên Phong. Năm 1946, Xuân Diệu là đại biểu
Quốc hội khoá I và làm Uỷ viên ban chấp hành Hội văn nghệ Việt nam. Năm 1947,
công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam. Xuân Diệu được kết nạp Đảng vào năm 1949.
Năm 1983, ông được công nhận là viện sĩ Thông tấn viện Hàn lâm nghệ thuật nước
Cộng hoà Dân chủ Đức. Năm 1985, Xuân Diệu được tặng thưởng huân chương độc lập
hạng nhất và cũng trong năm này Xuân Diệu đã qua đời sau một cơn bạo bệnh vào
ngày 18-12-1985. Năm 1996, Xuân Diệu đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học đợt I.
2.1.2. Sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu
Con đường đi của nhà thơ Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ
cách mạng, là con đường tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ thuộc phong trào Thơ
Mới 1932-1945.
Bài thơ Với bàn tay ấy đăng trên báo Phong Hoá năm 1935-1936 là bài thơ đầu tiên
của Xuân Diệu. Năm 1938, Xuân Diệu bắt đầu sự nghiệp thơ văn của mình bằng việc
cho xuất bản tập thơ đầu tiên là Thơ thơ. Tập thơ đã đưa Xuân Diệu lên vị trí hàng đầu
những nhà thơ tiền chiến.
Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp nghiên cứu văn học đồ sộ với nhiều thể loại.
Khi nghiên cứu về tác gia Xuân Diệu thì các nhà nghiên cứu đã chia sự nghiệp thơ văn
của tôi vào năm 1958. Năm 1959, xuất bản tập thơ Riêng chung và tập tiểu luận Phê
bình giới thiệu thơ. Năm 1961, ra mắt độc giả tập tiểu luận kinh nghiệm sáng tác Trò
chuyện với các bạn làm thơ trẻ và tập khảo luận Hồ Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm.
Năm 1962, in tập thơ Mũi Cà Mau - Cầm tay và tập tiểu luận Dao có mài mới sắc.
Năm 1964, xuất bản tập thơ Một khối hồng. Năm 1966, in tập thơ khảo luận Thi hào
dân tộc Nguyễn Du. Năm 1967, ấn hành tập thơ Hai đợt sóng. Năm 1968, xuất bản tập
tiểu luận Thơ Trần Tế Xương. Năm 1971, xuất bản hai tập tiểu luận Đọc thơ Nguyễn
Khuyến và Cây đời mãi mãi xanh tươi. Năm 1974, ấn hành tập bút ký Việt Nam hồn
tôi. Năm 1976, in tập tiểu luận Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy. Năm 1981,
xuất bản tập I – Các nhà thơ cổ điển Việt Nam và tập thảo luận Tìm hiểu Tản Đà.
Ngoài ra Xuân Diệu còn dịch và xuất bản một số thơ của nước ngoài như tập thơ
dịch Thi hào Nazim Hikmet năm 1962. Tập thơ dịch trường ca Vlađimia Ilich Lênin
của Maiacôpxki. Xuân Diệu còn dịch tập thơ Vây giữa tình yêu của Blaga Dimitrôva,
thơ Puskin, thơ Êxênhin, Ximônôp, Antôcônxki,… Ông giới thiệu và dịch thơ ba nhà
thơ lớn của Bungary là : S. Petofi, A. Giôdep, A. Adi. Viết bài giới thiệu và dịch tập
Luận văn tốt nghiệp
23
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
thơ Những nhà thơ Bungary. Ngoài ra ông còn dịch Những người thợ dệt Xilêdi,
Lơrowlay và chùm thơ Intécnâydô trữ tình của Henrích Hainơ. Tập thơ Nicôlai Ghiden
cũng do Xuân Diệu dịch.
Cả hai chặng đường trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Xuân Diệu đều
đạt những thành tựu, ông tham gia hầu hết các lĩnh vực: sáng tác, phê bình, tiểu luận,
nghiên cứu, dịch thuật cho đến nói chuyện về thơ. Và ở lĩnh vực nào, Xuân Diệu cũng
để lại nhiều đóng góp quan trọng.
vọng “Mở lòng ra ôm đón lấy sao vàng” và “Đi theo tiếng gọi nước non thiêng”.
Luận văn tốt nghiệp
24
Trần Thị Ngọc Đăng
Trường từ vựng tình yêu trong thơ Xuân Diệu
Thơ ông ở thời điểm này thể hiện cảm xúc mạnh mẽ trước hiện thực cuộc sống cách
mạng với ý thức, trách nhiện của một công dân đối với Tổ quốc. Lần đầu tiên viết về
cách mạng, Xuân Diệu đã có được những vần thơ trong sáng, yêu đời. Điều đó được
biểu hiện rõ ở Ngọn quốc kì (1945) và Hội nghị non sông (1946). Có thể nói, so với
nhiều nhà thơ khác, thơ Xuân Diệu ra đời kịp thời, mang tính thời sự nhưng cũng giàu
chất lãng mạn. Âm hưởng hùng tráng, đằm thắm thiết tha toát lên từ tác phẩm của ông
đã góp phần tạo nên sức cuốn hút, cổ vũ mạnh mẽ bạn đọc nhanh chóng vững lòng tin
đến với cách mạng.
Xuân Diệu hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, gắn bó với cuộc sống
nhân dân. Càng ngày ông càng hiểu hơn về những con người giản dị mà vĩ đại. Đó
chính là điều kiện thuận lợi giúp ông có được vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tạo để
viết nên các tập thơ: Dưới sao vàng (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954). Cảm hứng
chủ đạo ở các tập thơ trên là niềm tin yêu, niềm lạc quan trước hiện thực cuộc sống
cách mạng.
Dù còn hạn chế song các tập thơ trên đã thể hiện được bao nỗi niềm, tình cảm của
Xuân Diệu trước hiện thực đời sống cách mạng và đánh dấu một bước chuyển biến lớn
về tư tưởng, tình cảm, giọng điệu,…trên con đường thơ của ông.
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc bước vào cuộc sống xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hiện thực sôi động đó, với sự nhạy cảm, lòng tin yêu
cuộc đời mới, thơ Xuân Diệu có sự vươn lên mạnh mẽ, đề cập đến nhiều vấn đề trong
cuộc đời mới, biểu hiện rõ ở ba tập thơ: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay