TÊN CƠ SỞ ĐƯỢC YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN:
Trường THPT Bình Minh
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:
Trần Quốc Việt
- Tổ chuyên môn: Văn – Sử - Địa – GDCD
- Chuyên môn giảng dạy: Ngữ văn
- Điện thoại: 0916588136
- Email:
- Địa chỉ: Khối 6, thị trấn Bình Minh, huyện Kim Sơn,
tỉnh Ninh Bình.
TÊN SÁNG KIẾN, LĨNH VỰC ÁP DỤNG.
- Tên sáng kiến:
Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra,
đánh giá học sinh THPT theo định hướng phát triển năng lực
- Lĩnh vực áp dụng:
Thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy và học Ngữ văn tại trường
trung học phổ thông. Chú trọng ứng dụng, rèn luyện các kĩ năng cần
thiết để học sinh thực hiện kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực.
1
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
I. Giải pháp cũ thường làm
Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc kiểm tra, đánh giá ở
trường trung học phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Cụ thể
ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra
đánh giá và ý thức thực hiện đổi mới của một bộ phận cán bộ quản lý, giáo
viên chưa cao. Năng lực của đội ngũ giáo viên về vận dụng các phương pháp
dạy học tích cực, sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin –
truyền thông trong dạy học còn hạn chế.
- Lý luận về phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chưa được
nghiên cứu và vận dụng một cách có hệ thống; còn tình trạng vận dụng lý
luận một cách chắp vá nên chưa tạo ra sự đồng bộ, hiệu quả; các hình thức tổ
chức hoạt động dạy học, giáo dục còn nghèo nàn.
- Chỉ chú trọng đến đánh giá cuối kỳ mà chưa chú trọng việc đánh giá
thường xuyên trong quá trình dạy học, giáo dục.
Ở các trường trung học của Việt Nam cho đến nay vẫn chưa chú trọng
vấn đề đọc hiểu. Hoạt động đọc thường chỉ chú ý đọc thành tiếng, đọc diễn
cảm, đọc chiếu lệ trước khi giảng một bài. Kế thừa truyền thống giáo dục thời
thuộc địa chúng ta có môn Giảng văn, tiếp thu giáo dục xô viết ta có hình thức
phân tích tác phẩm văn học. Giảng văn hay phân tích là việc làm của thầy có
tính thị phạm trên lớp nhằm giúp học sinh hiểu văn, chứ không nhằm đào tạo
năng lực tự đọc – hiểu văn bản cho học sinh. Khái niệm đọc chỉ hạn chế trong
việc đào tạo, đọc chính âm, đọc diễn cảm. Khái niệm đoc – hiểu chưa có.
Chưa có môn đọc – hiểu văn bản. Các câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa
hay giáo viên cho về nhà đều gắn với phân tích và giảng văn. Dù là giảng văn
hay phân tích văn học đều có cơ sở đọc- hiểu văn ở trong đó, sông đây là các
định hướng khác nhau. Giảng văn phân tích là việc của giáo viên, giáo viên là
chính, học sinh là phụ. Đọc – hiểu thì khác: đọc – hiểu là việc của học sinh,
3
giáo viên hướng dẫn. Từ sự khác nhau đó mà việc soạn bài, soạn câu hỏi,
soạn giáo án cũng khác hẳn nhau. Xây dựng bộ môn đọc – hiểu văn bản văn
Đọc đoạn trích (A) và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
(A) Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong
xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có một vẻ gì
phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên
lấp lánh. Người đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bước. Thị cắp cái thúng con,
đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt.
Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem. Sợ
chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra
hiệu không bằng lòng.
(Vợ nhặt, Kim Lân, SGK Ngữ văn, tập 2)
Câu 1: Nêu hoàn cảnh liên quan đến nhân vật Tràng được thể hiện trong đoạn
trích trên.
Câu 2: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng trong vế in đậm của câu sau:
Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm
bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Em hiểu gì về cuộc sống qua
cách miêu tả đó?
Câu 3: Hành động, tâm lí của hình tượng người đàn bà nói lên điều gì bản
chất con người này?
Câu 4: Việc sử dụng từ ngữ trong diễn đạt của đoạn văn dưới đây có chỗ
chưa phù hợp, hãy sửa lại thành đoạn văn khác chuẩn xác hơn và súc tích hơn
mà vẫn giữ được ý chính:
Cuộc sống “vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”,
vậy mà Tràng vẫn đèo bòng thêm một cô vợ trong khi anh không biết cuộc
đời phía trước mình ra sao. Tràng đã thật liều lĩnh. Và ngay cô vợ Tràng
cũng thế. Điều ấy thật éo le và xót thương vô cùng. Và dường như lúc ấy
trong con người của Tràng kia đã bật lên niềm sống, một khát vọng yêu
thương chân thành.
5
6
MÃ ĐỀ 1
MÃ ĐỀ 2
- Thực hiện trong kiểm tra - Thực hiện trong KTĐG
đánh giá KTĐG) thường thường xuyên hoặc định kì.
ĐIỂM GIỐNG
NHAU
xuyên hoặc định kì.
- Sử dụng kiến thức đã học
- Sử dụng kiến thức đã trong
chương
trình
phổ
học trong chương trình thông.
phổ thông.
- Yêu cầu học sinh ghi - Yêu cầu học sinh đọc và
nhớ, thuộc kiến thức để giải quyết vấn đề bằng khả
trả lời theo đúng chuẩn năng nhận thức, tư duy
kiến thức của chương dựa trên vốn kiến thức đã
đánh giá được.
mức độ tiến bộ của học sinh một
cách liên tục
Nội dung
Việc lựa chọn nội dung Lựa chọn nội dung nhằm đạt
7
dựa vào các khoa học được kết quả đầu ra đã quy
chuyên môn, không gắn định, gắn với các tình huống
giáo dục
với các tình huống thực thực tiễn. Chương trình chỉ quy
tiễn. Nội dung được quy định những nội dung chính,
định chi tiết trong chương không quy định chi tiết
trình
Giáo viên là người truyền - Giáo viên chủ yếu là người tổ
thụ tri thức, là trung tâm thức, hỗ trợ học sinh tự lực và
của quá trình dạy học. tích cực lĩnh hội tri thức. Chú
Phương
pháp
dạy học
Học sinh tiếp thu thụ động trọng sự phát triển khả năng giải
những tri thức được quy quyết vấn đề, khả năng giao
định sẵn
dụng trong các tình huống thực tiễn.
MÃ ĐỀ 1- Xây dựng theo chương trình giáo dục định hướng nội
dung học:
8
Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục
“định hướng nội dung” dạy học hay “định hướng đầu vào” (điều khiển đầu
vào). Đặc điểm cơ bản của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú
trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được
quy định trong chương trình dạy học. Những nội dung của các môn học này
dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng. Người ta chú trọng việc trang
bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Tuy nhiên, càng lên khối lớp cao hơn việc tiếp nhận trở nên bất cập. Do
áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng giáo viên “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ”
học sinh diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ đọc hiểu văn học, học sinh
thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của giáo viên hơn là tự mình
cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản. Hơn nữa, văn bản được đọc hiểu chủ
yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản nhật dụng được đưa vào chương
trình, SGK. Việc đánh giá kỹ năng đọc của học sinh hiện nay thường diễn ra
dưới hai hình thức: Kiểm tra miệng (yêu cầu học sinh nhắc lại một nội dung
nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiếm tra viết (viết về một vấn đề
nào đó của văn bản đã học). Hình thức này chưa đánh giá được năng lực đọc
hiểu các loại văn bản khác nhau của người học.
Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung là việc truyền
thụ cho người học một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống. Tuy nhiên,
phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học
chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả
học tập của học sinh.
Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội
dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá
trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn
nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo
thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.
10
Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học
tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực
(Competency). Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể
quan sát, đánh giá được. Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy
định trong chương trình. Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm
bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra.
Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện
quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận
dụng của học sinh. Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý
đầu đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và
tính hệ thống của tri thức. Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở
kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc vào quá trình thực hiện.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm
năng lực được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy
học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết
với nhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn….
chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kỹ năng đó. Dù hình thành
nhanh hay chậm thì kỹ năng cũng đều trải qua những bước sau đây:
- Hình thành mục đích. Lúc này thường thì chủ thể tự mình trả lời câu
hỏi “Tại sao tôi phải sở hữu kỹ năng đó?”; “Sở hữu kỹ năng đó tôi có lợi
gì?”…
- Lên kế hoạch để có kỹ năng đó. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu về
mức độ hoàn thành chương trình của học sinh. Cũng có những kế hoạch chi
tiết và cũng có những kế hoạch đơn giản như là “ngày mai tôi bắt đầu luyện
kỹ năng đó”.
12
- Cập nhật kiến thức / lý thuyết liên quan đến kỹ năng đó. Thông qua
tài liệu, báo chí hoặc buổi thuyết trình nào đó. Phần lớn thì những kiến thức
này chúng ta được học từ trường và từ thày của mình.
- Luyện tập kỹ năng: có thể luyện tập ngay trong công việc, luyện tập
với thầy cô hoặc tự mình luyện tập.
- Ứng dụng và điều chỉnh. Để sở hữu thực sự một kỹ năng chúng ta phải
ứng dụng nó trong cuộc sống và công việc. Công việc và cuộc sống thì biến
động không ngừng nên việc hiệu chỉnh là quá trình diễn ra thường xuyên
nhằm hướng tới việc hoàn thiện kỹ năng của chúng ta. Một khi bạn hoàn thiện
kỹ năng thì cũng có nghĩa là bạn đang hoàn thiện bản thân mình.
Trong quá trình dạy học, các kĩ năng cùng với kiến thức và thái độ hình
thành nên năng lực của cá nhân. Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc
có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thông qua
việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần chuyển hoá những kiến thức, kỹ
năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra trong
môi trường mới.
Nếu nhìn nhận kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, thì kĩ năng
theo cách thức không thay
thông tin
Tái tạo lại
đổi.
- Tái tạo lại cái đã học theo
cách thức không thay đổi
2.
Xử lí
thông tin
Hiểu và vận dụng
- Phản ánh theo ý nghĩa cái
Nắm bắt ý nghĩa
đã học
Vận dụng
- Vận dụng các cấu trúc đã
học trong tình huống tương
tự
3.
2.2. Ngữ liệu minh chứng
MÃ ĐỀ 2:
ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích (A) và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
(A) Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong
xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có một vẻ gì
phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên
lấp lánh. Người đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bước. Thị cắp cái thúng con,
đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt.
Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem. Sợ
chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra
hiệu không bằng lòng.
(Vợ nhặt, Kim Lân, SGK Ngữ văn, tập 2)
Câu 1: Nêu hoàn cảnh liên quan đến nhân vật Tràng được thể hiện trong đoạn
trích trên.
Câu 2: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng trong vế in đậm của câu sau:
Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm
bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Em hiểu gì về cuộc sống qua
cách miêu tả đó?
Câu 3: Hành động, tâm lí của hình tượng người đàn bà nói lên điều gì bản
chất con người này?
Câu 4: Việc sử dụng từ ngữ trong diễn đạt của đoạn văn dưới đây có chỗ
chưa phù hợp, hãy sửa lại thành đoạn văn khác chuẩn xác hơn và súc tích hơn
mà vẫn giữ được ý chính:
15
Cuộc sống “vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”,
Câu 7. Đoạn trích trên thể hiện những hành vi ứng xử nào của cổ động
viên và cầu thủ Nhật Bản? Những hành vi ứng xử đó phản ánh điều gì về con
người và đất nước Nhật Bản?
Câu 8. Viết một đoạn văn ngắn bày tỏ nhận thức bài học cuộc sống cho
bản thân từ các thông tin được đề cập trong đoạn trích trên.
MÃ ĐỀ 3 (Dẫn theo tài liệu tập huấn, Bộ GD &ĐT, 2014):
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 9 đến Câu 16:
TRÁI TIM HOÀN HẢO
Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái
tim đẹp nhất vì chẳng hề có một tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý
đó là trái tim hoàn hảo nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và
nói: “Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”. Chàng trai cùng đám
đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết
sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp
vào nhưng không vừa khít nên tạo một bề ngoài sần sùi, lởm chởm ; có cả
những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế.
Chàng trai cười nói:
- Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là
những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt.
Cụ già trầm tĩnh đáp:
- Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu,
không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè...Tôi xé một
mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ
để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn
giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tim tôi trao cho họ,
ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo
ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà
17
..........................................................................................................................
Câu 16. Viết đoạn văn (khoảng 10-15 dòng) nêu cảm nhận của anh/chị về
câu văn: “Trái tim của anh không thật sự hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao
giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong trái tim anh.”?
..........................................................................................................................
3. Bồi dưỡng kĩ năng đọc hiểu cho học sinh trong quá trình kiểm tra,
đánh giá.
Để thực hiện đọc – hiểu và phát huy tính chủ động, sáng tạo của học
sinh, giáo viên cần có thái độ cởi mở, chấp nhận những cách hiểu khác nhau
miễn là có lí. Trong trường hợp có cách hiểu khác nhau thì giáo viên phát huy
đối thoại, thảo luận, phân tích giá trị của từng cách hiểu dựa trên nền tảng
kiến thức cơ bản, để lựa chọn cách hiểu có ý nghĩa nhất, hay nhất, có sức
thuyết phục cao.
3.1. Kĩ năng nắm bắt, hồi tưởng và khái quát thông tin.
Kĩ năng này giúp học sinh thực hiện các câu hỏi dạng tái hiện lại, nhận
biết thông tin.
Câu hỏi dạng tái hiện lại, nhận biết thông tin.
MÃ ĐỀ 2
Câu 1: Nêu hoàn cảnh liên quan đến nhân vật Tràng
được thể hiện trong đoạn trích trên.
Câu 2: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng trong
vế in đậm của câu sau: Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói
khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy
Tràng về với một người đàn bà nữa.?
Câu 5. Trận đấu giữa Nhật Bản với Bờ Biển Ngà diễn
ra vào ngày 15/6/2014, hãy cho biết đoạn trích trên
Kể lại, thuật lại
Miêu tả
Thể hiện cụ thể về đặc trưng, chi tiết, vẻ đẹp, điểm
nổi bật của đối tượng để người đọc hình dung cụ thể
và trọn vẹn.
Biểu cảm
Biểu hiện cảm xúc, tình cảm, thái độ.
Thuyết minh
Làm rõ đối tượng bằng cách đưa ra thông tin thực tế.
Nghị luận
Bàn bạc, đánh giá, suy ngẫm.
Ví dụ:
20
Chỉ ra phương thức biểu đạt được sử dụng trong câu: Mặt hắn có một vẻ
gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng
lên lấp lánh.(Vợ nhặt, Kim lân)
Đáp án: Miêu tả
3.1.2. Đối với những văn bản ngoài chương trình phổ thông.
ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo
ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà
tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề nhận
lại được gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự
đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hi
vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng
trống mà tôi luôn chờ đợi.
Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới xé
một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một
mẩu từ trái tim đầy vết tích của mình trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng
không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng
trai. Trái tim của anh không thật sự hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết
vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong trái tim anh.
(Theo Trí Quyển - Quà tặng cuộc sống – NXB Trẻ TP HCM, 2006)
CÂU HỎI: Nội dung chính của văn bản trên là gì?
ĐÁP ÁN: Ý nghĩa, giá trị của tình yêu thương, sự hi sinh, chia sẻ của con
người trong cuộc sống. Trái tim- tâm hồn của con người chỉ hoàn hảo khi biết
sẻ chia, hi sinh cho người khác
- Sử dụng nội dung ý nghĩa thông tin từ ngữ liệu để chuẩn bị thực
hiện các yêu cầu: Lựa chọn đơn vị kiến thức trong bộ môn và liên môn phù
hợp với yêu cầu. Muốn lựa chọn đúng và trúng yêu cầu, học cần nắm được
đặc trưng bản chất cốt lõi của đơn vị kiến thức cần nêu ra.
Ví dụ:
Trong trận “Hải chiến Trường Sa” ngày 14-3-1988 trên đảo Gạc Ma
và Cô Lin, chúng ta có 64 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và các anh hầu hết tuổi đời
22
còn rất trẻ. Cụ Lê Thị Muộn, mẹ Liệt sĩ Phan Văn Sự, nước mắt vắn dài
Kĩ năng này giúp học sinh sử dụng vốn kiến thức thực hiện các câu hỏi
dạng lí giải, suy ngẫm về các thông tin liên quan đến nội dung và hình thức
của ngữ liệu.
Câu hỏi dạng xử lí thông tin, đánh giá
khả năng lí giải và suy luận của học sinh
MÃ ĐỀ 2
Câu 2: ... Em hiểu gì về cuộc sống qua cách miêu tả đó?
Câu 3: Hành động, tâm lí của hình tượng người đàn bà
nói lên điều gì bản chất con người này?
23
Câu 7. ... Những hành vi ứng xử đó phản ánh điều gì
về con người và đất nước Nhật Bản?
MÃ ĐỀ 3
Câu 10. Em hiểu thế nào về nhan đề Trái tim hoàn
hảo?
Câu 13. Hãy cho biết ý nghĩa biểu tượng của những chi
tiết sau:
- vết sẹo:
- đường rãnh khuyết:
- đường lởm chởm:
Câu 14. Hãy giải thích về “giọt nước lăn trên má” của chàng
trai.
Tính hiệu quả trong việc học sinh thực hiện yêu cầu xử lí thông tin của
đề bài là rèn luyện cho các em có được câu trả lời ở mức đầy đủ nhất. Học
Kiến thức làm cơ sở
Kết quả cắt nghĩa,
lí giải
Câu 3: Hành động, -Tràng và thị thành vợ - Người phụ nữ cố
tâm
lí
của
hình thành chồng trong bối gắng che giấu cảm
tượng người đàn bà cảnh của nạn đói.
2
xúc, vẻ mặt đáng
nói lên điều gì bản -Thị theo không Tràng thương của mình.
chất con người này? về nhà tại xóm ngụ cư => Kín đáo, tế nhị,
trước sự chứng kiến của biết
quý
trọng
nhiều người, cảm thấy e phẩm giá, tự trọng
thẹn, xấu hổ.
3