I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài:
Luật giáo dục do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kì họp thứ 7 (từ ngày 05 tháng 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 2005) thông
qua nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn
bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Trong đó, mục tiêu đối với bậc trung học cơ sở là
“Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.”
Để thực hiện được mục tiêu trên, luật giáo dục 2005 đưa ra yêu cầu về nội
dung và phương pháp giáo dục phổ thông: “Nội dung giáo dục phổ thông phải
bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn
với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng
mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học”. Trong đó “giáo dục trung học cơ sở phải
củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có
những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức
khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có
những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, để kiểm định việc thực hiện đúng mục
tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục, cần có những quy định chung trong
công tác đánh giá, xếp loại người học. Đảm bảo nguyên tắc khách quan, công
bằng, công khai, đúng chất lượng.
Trên cơ sở đó, ngày 05 tháng 10 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở (THCS)
và học sinh trung học phổ thông (THPT) kèm theo quyết định số
1
tập trung vào việc kiểm tra mức độ thuộc bài của học sinh dẫn đến việc đa số
học sinh học thuộc kiến thức một cách máy móc, thuộc mà chưa hiểu rõ kiến
2
thức, đồng thời việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kỳ của giáo viên vô
hình chung trở thành “nỗi sợ hãi” của học sinh, các đề kiểm tra chủ yếu đánh giá
việc ghi nhớ, tái hiện kiến thức dẫn đến tình trạng “học vẹt”, “học tủ” để đối phó
với thi cử dẫn đến việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh chưa đảm bảo tính
khách quan, đúng chất lượng. Vấn đề này cần được khắc phục để quá trình dạy
học và kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh góp phần đắc lực vào thực hiện mục
tiêu giáo dục toàn diện - giúp học sinh nhớ lại, khắc sâu kiến thức cũ một cách
chính xác, không máy móc, tạo hứng thú cho học sinh bước vào bài học mới và
tạo tiền đề cho các năm học tiếp theo.
Với trăn trở như trên, bản thân là một giáo viên THCS trực tiếp giảng dạy,
kiểm tra, đánh giá xếp loại học sinh với môn học Sinh học, tôi viết đề tài sáng
kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra đánh giá học
sinh trong môn Sinh học 6” đề cập đến các kinh nghiệm, phương pháp kiểm tra,
đánh giá, xếp loại học sinh của bản thân với mong muốn góp một phần nhỏ vào
việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh của
ngành giáo dục nước nhà.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
- Giúp giáo viên có cái nhìn đúng đắn và tư duy tiến bộ hơn về vấn đề
kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh trong công tác đổi mới giáo dục. Tránh tình
trạng kiểm tra, đánh giá qua loa, chiếu lệ trong một số bộ phận giáo viên.
- Đề ra một số giải pháp gợi ý để giáo viên thực hiện tốt việc kiểm tra,
đánh giá xếp loại học sinh theo hướng đổi mới.
- Giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. không
rập khuôn, máy móc để hình thành sự say mê, hứng thú với các môn học. Ham
muốn tìm tòi và giải thích các vấn đề, sự vật, hiện tượng trong đời sống thực tế.
năng.
- Phân loại đối tượng học sinh để có cách thức kiểm tra đánh giá phù hợp.
- Tìm tòi, nghiên cứu các câu hỏi phù hợp với nội dung cần kiểm tra, kích
thích khả năng tư duy, liên hệ thực tế cuộc sống của học sinh.
- Thực hiện nghiêm túc quy định ra đề, coi thi, chấm thi, đảm bảo đánh
giá, xếp loại học sinh khách quan, trung thực, công bằng.
4
- Tham khảo, nghiên cứu các hình thức kiểm tra gợi mở, tích cực của
đồng nghiệp và các diễn đàn học tập.
- Nghiên cứu, nắm bắt tâm lý học sinh để tạo không khí cởi mở, thoải mái
trong công tác kiểm tra, đánh giá học sinh.
- Xây dựng ý thức tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau cho học sinh.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận:
Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình, sách giáo khoa phổ thông
từ năm 2015 theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, thì “mắt xích” cần phải tập trung, nỗ
lực nhiều nhất, đầu tư nhiều thời gian, trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi
mới cách thức kiểm tra đánh giá học sinh. Trước hết chúng ta phải hiểu kiểm tra
đánh là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học bởi đối với người giáo
viên, khi tiến hành quá trình dạy học phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội
dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu
quả. Muốn biết có hiệu quả hay không, người giáo viên phải thu thập thông tin
phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ
thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học. Như vậy,
kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể
nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học.
học sinh. Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng. Về
phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản
phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện. Sự điều chỉnh, bổ sung
những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học
tập trở thành tri thức bền vững cho mỗi học sinh. Việc kiểm tra chất lượng học
tập sẽ giúp cho các nhà quản lý giáo dục, các giáo viên và bản thân học sinh có
những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh
và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình dạy học.
Qui trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập là quá trình tự sử dụng các
hình thức kiểm tra - đánh giá khác nhau trong suốt quá trình dạy học môn học
nhằm rèn luyện việc đạt các mục tiêu đã xác định trong đề cương môn học. Có 2
hình thức kiểm tra - đánh giá: 1) Kiểm tra - đánh giá thường xuyên; 2) Kiểm tra
6
- đánh giá định kỳ. Kiểm tra - đánh giá thường xuyên là hoạt động của giáo viên
sử dụng các kĩ thuật đánh giá khác nhau trong các hình thức tổ chức thực hiện
giờ dạy (lí thuyết, thảo luận, thực hành, thí nghiệm, hoạt động theo nhóm, tự
học, tự nghiên cứu, ...) như một bộ phận của phương pháp dạy học nhằm rèn
luyện và kiểm tra việc rèn luyện các kiến thức, kĩ năng đã được xác định trong
mục tiêu của môn học. Kiểm tra - đánh giá định kì là hoạt động của giáo viên
vào những thời điểm đã được qui định trong đề cương môn học, gắn các mục
tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp kiểm tra - đánh giá
tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn
tương ứng của học sinh. Kết quả kiểm tra - đánh giá định kì được xem là kết quả
học tập môn học của học sinh và là cơ sở để đánh giá chất khi kết thúc môn
học.
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như
đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi
mới quản lý…. Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá
PPDH và kiểm tra đánh giá, xếp loại học sinh
* Khó khăn:
- Kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh thấp (Kết quả điều tra ban đầu):
+ Năm học 2012 – 2013:
Học lực
Lớp, sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
6
7
7
23
19
20
10
11
10
Giỏi
Khá
- Học sinh dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, địa bàn dân cư rộng ảnh
hưởng đến việc học tập của học sinh.
- Một số học sinh có ý thức chưa cao, không hợp tác với bạn bè và giáo
viên trong quá trình kiểm tra, đánh giá.
8
- Tư tưởng “học vẹt”, “học đối phó” tồn tại trong một bộ phận không nhỏ
học sinh.
b. Thành công – hạn chế:
* Thành công: Đã nâng cao được kết quả học tập của học sinh trong môn
Sinh học 6 qua các năm giảng dạy; hình thành cách thức kiểm tra, đánh giá học
sinh chủ động, tích cực, học sinh có hứng thú, lòng say mê với môn học.
* Hạn chế: Đề tài chỉ nghiên cứu và áp dụng trên một số lớp 6 của trường
THCS Lê Lợi, bản thân theo sát được quá trình học tập của học sinh ở một số
khối lớp tiếp theo.
c. Mặt mạnh – mặt yếu:
* Mặt mạnh: Đề tài bám sát vào việc đổi mới, nâng cao hiệu quả kiểm tra,
đánh giá, xếp loại học tập của học sinh, có thể áp dụng đến mọi đối tượng học
sinh.
* Mặt yếu: Việc ứng dụng đề tài còn hẹp trong phạm vi cá nhân, học sinh
một số lớp sau khi hết năm học được phân công cho giáo viên khác giảng dạy áp
dụng cách kiểm tra, đánh giá, xếp loại chưa đổi mới khiến học sinh gặp khó
khăn khi thích ứng.
d. Các nguyên nhân – các yếu tố tác động:
* Nguyên nhân khách quan:
- Các em học sinh đa số là con nhà nông, bố mẹ làm nương rẫy nên ít có
thời gian quan tâm đến con cái, các em còn phải giúp bố mẹ công việc nương
rẫy nên không có thời gian học bài ở nhà.
học chán nản.
Ngoài ra, hiện nay giáo viên sử dụng hầu như rất hạn chế các hình thức
đánh giá mới, hiện đại, phần lớn những hình thức kiểm tra đánh giá đang sử
dụng có tính truyền thống: dựa vào bài viết, làm các bàì tập như kiểm tra 15
phút, 1 tiết… , và thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính
giáo viên cũng không rõ mình định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh.
Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các
hình thức đánh giá: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận,
vấn đáp… đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết
trình/trình bày, thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…,
10
đánh giá bằng các tình huống bài tập, các hình thức tiểu luận, … thì giáo viên
chưa nghiên cứu, học tập và áp dụng nhiều.
Khi nói đến mục tiêu kiểm tra đánh giá, trước hết người ta nhận thấy
kiểm tra đánh giá là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học thì ít
nhất nó phải vì sự tiến bộ của học sinh. Kiểm tra đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là
cung cấp những thông tin phản hồi giúp học sinh biết mình tiến bộ đến đâu,
những mảng kiến thức/kỹ năng nào có sự tiến bộ, mảng kiến thức/kỹ năng nào
còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy và học.
Thứ hai cần nhận thức rằng đánh giá là một quá trình học tập, đánh giá
diễn ra trong suốt quá trình dạy và học. Không chỉ giáo viên biết cách thức, các
kỹ thuật đánh giá học sinh mà quan trọng không kém là học sinh phải học được
cách đánh giá của giáo viên, phải biết đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá kết
quả học tập rèn luyện của chính mình.
Thứ ba, đánh giá phải chính xác, khách quan kết quả học tập, chỉ ra được
học sinh đạt được ở mức độ nào so với mục tiêu, chuẩn đã đề ra.
Những khó khăn hay bất cập trong kiểm tra đánh giá học sinh hiện nay
* Đối với kiểm tra miệng:
- Kiểm tra miệng – kiểm tra đầu tiết học là một khâu không thể thiếu được
thể hiện rõ trong giáo án lên lớp của giáo viên. Vai trò của việc kiểm tra miệng
rất quan trọng quan trọng vì nó giúp cho giáo viên có được thông tin về việc
nắm bắt kiến thức của học sinh. Giúp học sinh hình thành khả năng tự học, tính
chăm chỉ, cùng các kỹ năng sống cơ bản cần được giáo dục như mạnh dạn, tự tin
khi trình bày ý kiến trước nhóm, tổ, lớp và các kỹ năng tư duy nhanh, nghe –
hiểu – trình bày rất có ích trong việc ứng dụng các phương pháp dạy học tích
cực như: “Động não”, “hỏi chuyên gia”, “thảo luận nhóm nhỏ”, “trình bày một
phút”…
Trên thực tế trong công tác giảng dạy hiện nay rất nhiều tiết học giáo viên
chưa thực sự coi trọng công việc kiểm tra miệng vì cho rằng đó đều là các kiến
thức học sinh đã biết hoặc các kiến thức đó học sinh phải tự học nhưng lại quên
rằng ở tuổi này nhu cầu chơi của học sinh vẫn còn chiếm phần lớn thời gian. Do
đó công tác kiểm tra miệng còn thực hiện một cách qua loa, chiếu lệ. Trong
công tác thanh kiểm tra, dự giờ cụm chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm, người
đánh giá lại cũng ít quan tâm góp ý, đánh giá xây dựng khâu kiểm tra miệng.
12
Điều này khiến giáo viên đánh giá thấp tầm quan trọng của kiểm tra miệng. Với
kinh nghiệm bản thân có được, để có việc kiểm tra miệng hiệu quả trong môn
Sinh học 6 giáo viên cần thực hiện tốt các vấn đề:
- Xác định mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
kiểm tra:
+ Làm tốt khâu này sẽ giúp giáo viên xác định rõ mục tiêu học sinh cần
đạt được trong quá trình kiểm tra miệng, từ đó chủ động trong việc nêu câu hỏi
phù hợp với đối tượng học sinh. Trên thực tế, muốn làm tốt khâu này giáo viên
cần định hình ở cuối bài học trước trong phần hướng dẫn về nhà cho học sinh,
giúp học sinh chủ động khi trả lời. Đồng thời giáo viên có phương pháp kiểm tra
kiểm tra trở nên sinh động và sáng tạo, đem lại hiệu quả cao và kích thích sự tò
mò, ham hiểu biết của học sinh.
Ví dụ: Trước khi dạy tiết 37 – bài “thụ phấn (tiếp theo)”, để kiểm tra kiến
thức bài cũ : Tiết 36 – bài “thụ phấn” giáo viên có thể tiến hành như sau:
Đầu tiên giáo viên cho học sinh xem một đoạn băng hình về quá trình thụ
phấn nhờ sâu bọ (nếu có điều kiện, nếu không giáo viên có thể sử dụng tranh
ảnh minh họa về quá trình này có trong sách giáo khoa phóng to) và nêu câu hỏi:
Câu hỏi 1: Đoạn phim (tranh/ảnh) các em vừa thẽo dõi mô tả hiện tượng gì?
Loài hoa trong đoạn phim đó được thụ phấn bằng hình thức nào?Lấy thêm 3 ví
dụ về 3 loại hoa thụ phấn bằng hình thưc trên mà em biết? ( Học sinh dễ dàng
trả lời: Hiên tượng thụ phấn, hoa được thụ phấn nhờ sâu bọ, ví dụ: Hoa mướp,
hoa dưa chuột, hoa bí, hoa cà phê…)
Dựa trên câu trả lời của học sinh, giáo viên đánh giá và cho điểm
Câu hỏi 2: Quan sát đoạn phim (tranh/ảnh) về hoa thụ phấn nhờ sâu bọ, em
thấy chúng có đặc điểm gì?
Dựa trên vật mẫu là đoạn phim hay tranh/ ảnh, học sinh có thể trình bày các
đặc điểm của hoa thụ phấn nhờ sâu bọ mà không cần học thuộc máy móc.
- Sử dụng nhận xét tích cực, chú trọng động viên, khích lệ, tuyên
dương, tránh các nhận xét tiêu cực, âm tính:
+ Với hầu hết các câu hỏi kiểm tra miệng, giáo viên đều phải đưa ra nhận xét,
đánh giá câu trả lời của học sinh, Trong việc này, ngay cả khi học sinh trả lời
sai, giáo viên có nên nhận xét mang tính tích cực. Ví dụ: “Bạn A đã rất tự tin và
cố gắng nhưng câu trả lời của bạn chưa chính xác, bạn B có thể giúp bạn A
14
hoàn thành câu trả lời không?”…. Tránh việc nhận xét sơ sài, ngắn gọn như:
“Em trả lời sai”, “Không học thuộc bài”…
+ Ngoài ra, giáo viên cũng nên chú ý giữ thái độ vui tươi, tạo không khí thoải
mái, tránh tạo áp lực căng thẳng cho học sinh.
tiết học với nội dung dựa trên các vật mẫu thực hành sử dụng trong bài và liên
hệ thực tế.
Ví dụ: Sau bài “sinh sản sinh dưỡng do người” có thể kiểm tra bằng nội
dung: “ Dựa vào kiến thức vừa học và hiểu biết thực tế của bản thân, em hãy
mô tả các bước chiết cành một loại cây?”
Cần lưu ý nội dung câu hỏi nên mang tính chất gợi mở, chú trọng việc
liên hệ với thực tế cuộc sống.
* Kiểm tra viết từ 1 tiết trở lên:
Kiểm tra có thể tiến hành dưới hình thức tập trung, đồng loạt cho tất cả
học sinh của toàn trường hoặc trong phạm vi một lớp với thời gian 1 tiết (45
phút) đối với môn Sinh học 6. Kiểm tra viết có thể sử dụng đề kiểm tra tự luận
hoặc đề kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Tại trường bản thân tôi
giảng dạy, hình thức kiểm tra này được tiến hành tập trung, đồng loạt với cấu
trúc đề kiểm tra kết hợp trắc nghiệm khách quan (20% số điểm) và tự luận (80%
số điểm). Để một đề kiểm tra thể hiện đúng mục tiêu và có hiệu quả trong việc
đánh giá học sinh, giáo viên cần làm tốt các vấn đề
- Câu hỏi tự luận nên là câu hỏi mở, yêu cầu vận dụng kiến thức thực
tiễn, gắn với đặc thù sinh vật của quê hương, đất nước
+ Khi soạn câu hỏi kiểm tra đánh giá loại này lưu ý không nên chỉ kiểm
tra đơn thuần những kiến thức cần học thuộc lòng mà cần chú ý đến phát triển tư
duy cùng với phát triển các năng lực vận dụng các kiến thức vào thực tiễn đời
sống. Khi có cơ hội nên chú ý đến việc kiểm tra, đánh giá thái độ của học sinh
đối với các vấn đề đang được xã hội quan tâm như: Kiểm tra về thái độ bảo vệ
môi trường, bảo vệ sự đa dạng của thực vật …
Ví dụ:
1. Vì sao trong bể cá cảnh thường thả cây rong đuôi chó?
2. Nuôi ong trong vườn cây ăn quả có lợi gì?
3. Tại sao người ta phải thu hoạch đậu xanh, đậu đen trước khi quả chín
khô?
16
- HS vận dụng các kiến thức đã học vào trả lời các câu hỏi
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện cho HS kĩ năng tư duy
- Kĩ năng làm bài kiểm tra
3. Thái độ:
- HS yêu thích môn học
III. MA TRẬN
17
Mức độ
Nhận biết
Thông hiểu
Chủ đề
TN
Biết các bộ
phận phát
triển thành
quả và hạt
TL
TN
TL
Vận dụng
Số điểm:
0,75
Tỷ lệ: 7,5%
TS câu: 11
TS điểm: 10
Tỷ lệ: 100%
Biết các
cách phát
tán quả quả
và hạt
Số câu: 1
Số điểm
0,25
- Biết
điểm
giống
nhau và
khác
nhau giữa
hạt một
lá mầm
và hạt hai
lá mầm.
- Biết các
điều kiện
cần thiết
cho hạt
rêu, quyết
Số câu: 3
Số điểm
0,75
Số câu: 8
Số điểm: 6,5
65%
Số câu: 2
Số điểm: 0,5
5%
BÀI KIỂM TRA 1 TIẾT
MÔN SINH HỌC 6
Năm học 2013 -2014
18
Số câu: 1
Số điểm: 3
30%
Tổng
Số câu:
2
0,5 điểm
= 5%
Số câu:
6
B. Quả khô không nẻ
C. Quả hạch
D. Quả mọng
Câu 3: Quả do bộ phận nào của hoa tạo thành?
A. Đầu nhụy
B. Vòi nhụy
C. Bầu nhụy
D. Noãn
Câu 4: Quả đậu đen phát tán bằng cách nào?
A. Tự phát tán
B. Phát tán nhờ gió
C. Phát tán nhờ động vật
D. Phát tán nhờ sâu bọ
Câu 5: Tảo là thực vật bậc thấp vì:
A. Không có diệp lục
B. Chưa có rễ, thân, lá
C. Cơ thể cấu tạo từ 1 tế bào
D. Sống ở môi trường nước
Câu 6: Cấu tạo của dương xỉ khác rêu ở chỗ:
A. Có rễ, thân, lá
B. Có chất diệp lục
C. Có túi bào tử
D. Có các mạch dẫn
Câu 7: Cơ quan sinh sản của cây rêu là:
A. Túi bào tử
B. Bào tử
C. Nguyên tản
D. Hoa
Câu 8: Hạt do bộ phận nào tạo thành?
A. Nhị
4
A
5
B
6
D
7
A
8
C
II. PHẦN TỰ LUẬN:
Câu
9
10
11
Đáp án
- Giống nhau: + Đều có cấu tạo gồm 3 phần: Vỏ, phôi, chất dinh
dưỡng dự trữ
+ Phôi của hạt đều gồm lá mầm, chồi mầm, thân mầm, rễ mầm
- Khác nhau:
0,5
0,5
1
1
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
- Giáo viên tiết kiệm thời gian, công sức khi chuẩn bị câu hỏi kiểm tra
miệng và câu hỏi cho tiết kiểm tra viết.
- Đa số học sinh nắm vững kiến thức của các bài học trước.
- Tiết kiểm tra miệng và kiểm tra viết không còn là nỗi lo lắng của học
sinh.
- Các em hứng thú hơn với tiết kiểm tra vì đó không chỉ là cơ hội cho các
em tìm hiểu sâu hơn về thế giới xung quanh từ đó đạt kết quả cao trong kiểm
tra, đánh giá.
20
- Kết quả đạt được: Chất lượng học sinh trong bộ môn có những chuyển
biến tích cực:
Năm học 2012 – 2013 (đầu năm)
Học lực
Lớp, sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
21
21
3
2
2
Khá
Trung bình
Yếu
6
5
15
17
13
10
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Giỏi
6A4, 35
1
6A5, 34
2
+ Kết quả cuối học kỳ I
Học lực
Lớp, sĩ số
6A4, 35
6A5, 34
- Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh chưa thực sự quan tâm đến tiết kiểm
tra và không chú ý nghe giảng do vậy kết quả kiểm tra, đánh giá còn thấp.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Với việc áp dụng đề tài “một số biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra
đánh giá học sinh qua môn sinh học 6” vào thực tiễn giảng dạy tại nơi công tác,
bản thân tôi thấy hiệu quả của việc kiểm tra, đánh giá thông qua các hình thức
kiểm tra đã trình bày ở trên đem lại kết quả tích cực: Chất lượng học sinh được
21
cải thiện, học sinh có hứng thú, lòng say mê tìm tòi, yêu thích bộ môn. Và trên
hết, các hình thức kiểm tra đánh giá xác định rõ mục tiêu và tầm quan trọng của
việc kiểm tra, đánh giá học sinh, giải quyết được các câu hỏi: đánh giá để làm gì,
tại sao phải đánh giá, đánh giá nhằm thúc đẩy, hình thành khả năng gì ở học
sinh? Đồng thời tuân thủ đúng nguyên tắc khách quan, trung thực, công bằng,
công khái, đúng chất lượng.
làm, cách kiểm tra, đánh giá hay và hiệu quả hơn, với hiểu biết và kinh nghiệm
hạn hẹp của bản thân, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo, các bạn đồng nghiệp.
EaHiao tháng 3 năm 2014
Người thực hiện
NGUYỄN THỊ LAN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học
phổ thông ban hành kèm theo thông tư số: 58/2011/TT-BGDĐT
2. Luật giáo dục 2005 và luật giáo dục sửa đổi bổ sung 2009
3. Sách giáo khoa và sách giáo viên Sinh học 6 (NXB Giáo dục 2011).
23
4. Một số trang báo điện tử và diễn đàn học tập: http://www.daklak.edu.vn/,
http://kienthucsinhhoc.com/, http://violet.vn/main/
5. Một số tư liệu khác của đồng nghiệp.
24