LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện chủ trương của Phòng Giáo dục và Đào tạo và Công đoàn Giáo dục thị
xã Hương Thủy về việc tổ chức xét, duyệt các sáng kiến kinh nghiệm của cán bộ, giáo
viên, nhân viên trong năm học 2012 – 2013 và 2013 - 2014, Phòng Giáo dục và Đào
tạo và Công đoàn ngành Giáo dục thị xã Hương Thủy tổ chức Hội nghị phổ biến Sáng
kiến kinh nghiệm năm 2015 nhằm đánh giá những kết quả phong trào viết sáng kiến
kinh nghiệm của các đơn vị. Đồng thời, Hội nghị cũng cung cấp các tư liệu làm cơ sở
khoa học cho việc triển khai tốt hơn nữa nhiệm vụ đổi mới quản lí, đổi mới phương
pháp dạy học trong những năm tới. Thông qua hội nghị này, các nhà quản lí giáo dục,
các nhà sư phạm, các trường mầm non, trường phổ thông sẽ có dịp để trao đổi về
những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các sáng kiến kinh nghiệm cũng như nâng
cao hiệu quả công tác quản lí, chất lượng dạy và học…
Trong hai năm học vừa qua, Phòng Giáo dục & Đào tạo đã nhận được 993 sáng
kiến kinh nghiệm từ các các trường trung học cơ sở, tiểu học, mầm non và Phòng
GD&ĐT. Nội dung các sáng kiến kinh nghiệm khá đa dạng, phong phú, phản ánh những
kết quả mới nhất cả về lí luận, thực tiễn của hoạt động dạy học và quản lí giáo dục ở
mọi cấp độ.
Với tinh thần tôn trọng sự đóng góp của các tác giả và nhằm cung cấp thông tin
đa dạng cho độc giả, ban biên tập đã lựa chọn những sáng kiến có chất lượng tốt để
đăng trong Kỷ yếu của hội nghị. Tuy nhiên, do điều kiện và khuôn khổ của Kỷ yếu nên
phải rút gọn nội dung của một số bài viết và một số sáng kiến kinh nghiệm của những
năm gần đây không đưa vào Kỷ yếu lần này.
Do thời gian có hạn nên chắc chắn Kỷ yếu khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất
mong có sự cảm thông và cùng trao đổi tại diễn đàn của Hội nghị để làm phong phú thêm
các nội dung khoa học chưa kịp phản ánh trong Kỷ yếu này.
Với tinh thần trên, chúng tôi trân trọng giới thiệu tập Kỷ yếu hội nghị phổ biến
Sáng kiến kinh nghiệm năm 2015 với các độc giả tâm huyết trong việc nghiên cứu
khoa học, những cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn có ý thức tìm tòi trong giảng dạy và
quản lí.
BAN TỔ CHỨC HỘI NGHỊ
ứng những yêu cầu đổi mới của giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
II. NỘI DUNG
1. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi ở Trường THCS Phú Bài
1.1. Thuận lợi
- Nhà trường đã đã chú trọng đổi mới công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh
giỏi ở các khối lớp, kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi được xây dựng ngay từ khi
chuẩn bị kết thúc năm học cũ.
- Trường có cơ sở vật chất khá khang trang, có đầy đủ các phòng bộ môn, trang
thiết bị phục vụ công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Các tổ chuyên môn chọn từ 01 - 02 giáo viên/môn có năng lực, trình độ chuyên
môn giỏi, giàu tâm huyết để dạy bồi dưỡng cho học sinh.
2
- Sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Phòng GD&ĐT, UBND Thị xã Hương Thủy
với chủ trương xây dựng Trường THCS Phú Bài trở thành trường chất lượng cao của
thị xã, làm nòng cốt cho phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi.
- UBND thị xã Hương Thủy đã xây dựng và ban hành Kế hoạch Đào tạo và bồi
dưỡng học sinh giỏi thị xã Hương Thủy năm học 2013 – 2014, là cơ sở để nhà trường
xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường.
- Công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi được quán triệt sâu rộng
trong học sinh, phụ huynh và đội ngũ cán bộ - giáo viên trong nhà trường.
1.2. Khó khăn
- Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải
hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó việc đầu tư cho
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cũng có phần bị hạn chế.
- Học sinh học chương trình chính khóa đang phải chịu một áp lực học tập khá
nặng nề, cộng thêm chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi nên rất hạn chế về thời gian
2.2. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm bồi dưỡng học sinh giỏi
Quán triệt việc nhận thức tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
là biện pháp đầu tiên vô cùng quan trọng. Nó quyết định việc tổ chức bồi dưỡng học
sinh giỏi đúng hướng và đạt hiệu quả.
- Nhà trường đã quán triệt đầy đủ sâu sắc các hệ thống văn bản, chính sách liên
quan đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đồng thời tham mưu với cấp trên hỗ trợ
nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn.
- Thường xuyên sinh hoạt chính trị để làm cho cán bộ giáo viên hiểu và nhận
thấy được chất lượng giảng dạy và năng lực của giáo viên dùng thước đo chính xác
nhất là chất lượng học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi.
- Vận động tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, học sinh để họ thấy được vai
trò của chất lượng học sinh mũi nhọn môn học nào cũng rất quan trọng. Phải làm cho
học sinh thấy được vinh dự lớn lao khi đạt thành tích trong các kì thi học sinh giỏi.
- Theo dõi thành tích của giáo viên, học sinh. Được công nhận giáo viên giỏi khi
phải có học sinh giỏi. Cùng với Hội khuyến học, Ban đại diện Cha mẹ học sinh và
chính quyền địa phương tuyên dương thành tích của giáo viên giỏi và học sinh giỏi.
2.3. Đổi mới tổ chức và phương pháp dạy học các lớp bồi dưỡng học sinh
giỏi
- Trên cơ sở học sinh học các lớp chất lượng cao đã được định hướng môn học
bồi dưỡng, nâng cao từ năm lớp 6, từ thời điểm kết thúc năm lớp 7, giáo viên giảng
dạy các bộ môn lập danh sách để thành lập đội tuyển học sinh giỏi theo bộ môn, tiến
hành bồi dưỡng ngay từ đầu tháng 7 với 3 tiết/tuần các đội tuyển học sinh giỏi khối 8
và khối 9.
- Các tổ chuyên môn cùng với lãnh đạo nhà trường chọn những giáo viên có năng
lực sư phạm, có kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm để bồi dưỡng học sinh. Đặc biệt
trong năm học qua, nhà trường đã có hợp đồng với giáo viên giỏi cấp tỉnh ở ngoài nhà
trường, nhiều năm đạt thành tích cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi để bồi
dưỡng học sinh giỏi của nhà trường. Đây là một giải pháp mới mang lại hiệu quả cao
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Giáo viên dạy bồi dưỡng phải kết hợp việc rèn luyện kĩ năng, luyện trí nhớ với
2.4. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác
bồi dưỡng
- Trong 2 năm học qua, bên cạnh các thiết bị, phương tiện dạy học đã có, nhà
trường đã lắp đặt thêm 2 phòng Lab phục vụ dạy và học môn Tiếng Anh, mua thêm 02
máy Projector và trang bị tất cả các phòng học của học sinh 01 tivi màn hình lớn và 01
bộ máy vi tính được kết nối mạng Internet đảm bảo sử dụng có hiệu quả cho công tác
cho giảng dạy chính khóa cũng như công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Tăng cường thiết bị, đồ dùng thực hành, thí nghiệm ở các phòng bộ môn Vật lí,
Hóa học, Sinh học phục vụ tốt cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Tăng cường đầu tư tài liệu tham khảo ở thư viện, đặc biệt trong năm học 2013 –
2014, thư viện nhà trường đã được Công ti Samsung tài trợ xây dựng thư viện thông
minh với tivi, đầu đĩa, 06 máy Laptop, lắp đặt hệ thống Internet, băng đĩa và trên
20.000 bản sách, tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác dạy và học của giáo viên và
học sinh. Nhà trường thường xuyên tổ chức Ngày hội đọc sách, tiết học thân thiện ở
thư viện thu hút đông đảo học sinh tham gia, 100% học sinh đều có thẻ bạn đọc và trên
90% học sinh là bạn đọc thường xuyên của thư viện.
- Trong các lớp chất lượng cao, nhà trường đều xây dựng một thư viện mini với
sách giáo khoa, sách nâng cao, tài liệu tham khảo... do lớp trực tiếp quản lí, tạo điều
kiện thuận lợi cho học sinh các lớp chất lượng cao mượn và tham khảo tài liệu.
2.5. Tăng cường công tác quản lí, tổ chức đánh giá và khen thưởng công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi
- Nhà trường đã đưa công tác bồi dưỡng học sinh giỏi vào nhiệm vụ trọng tâm
trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2013 – 2014. Trên cơ sở khung chương
trình bồi dưỡng học sinh giỏi do phòng GD&ĐT cung cấp, chỉ đạo các tổ chuyên môn
xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp với thực tiễn nhà trường.
5
- Vận động cha mẹ học sinh và các tổ chức, cá nhân hỗ trợ kinh phí cho công tác
137
77
Đạt giải cấp Tỉnh
11
20
27
24
01
01
Đạt giải
Đạt giải cấp quốc gia
Trong năm học 2013 – 20114, với sự đổi mới trong công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi là mỗi em học sinh chỉ được chọn 01 môn học bồi dưỡng nên số lượng học sinh
đạt giải cấp thị xã của nhà trường đã có sự giảm sút về số lượng nhưng vẫn dẫn đầu thị
xã với 77 giải, trong đó có 5 giải nhất, 22 giải nhì, đặc biệt có 01 học sinh đạt Huy
chương Bạc kì thi toán Tuổi thơ tổ chức ở tỉnh Đắclak.
V. Dự đoán kết quả và những ảnh hưởng của sáng kiến cải tiến kĩ thuật
Với mục đích và các giải pháp đề ra, tôi tin tưởng rằng, sáng kiến cải tiến kĩ thuật
VỚI HS TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Ths. Nguyễn Văn Cần, GV THCS Thủy Phương, Hương Thủy
Ths. Nguyễn Thị Ánh Hà, GV THPT Nguyễn Trường Tộ
Lê Thị Ánh Tuyết, GV THCS Thủy Phương, Hương Thủy
Trương Thị Thanh Trang, GV THCS Thủy Thanh, Hương Thủy
1. Mở đầu
Di sản văn hóa là tài sản vô giá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm của toàn xã hội. Học sinh Thừa Thiên Huế
vinh dự và tự hào vì đang sinh sống trên một mảnh đất với một “núi” di sản văn hóa và
di tích đồ sộ. Các di tích chỉ thực sự phát huy tác dụng khi có nhiều người biết, hiểu
đến nó (tên của di tích, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa, thời gian hình thành, loại hình
di tích, vị trí địa lí của di tích,...).
Cho đến nay, các thông tin về các di tích lịch sử, cách mạng, văn hóa của tỉnh
Thừa Thiên Huế đã được công nhận (cấp tỉnh, cấp quốc gia) chỉ được giới thiệu bởi rất
ít tài liệu. Số HS biết đến các di tích địa phương rất hạn chế, các em chỉ biết tên và một
số ít thông tin về các di tích thực sự nổi tiếng, ít biết các di tích của huyện, thị xã khác.
Các hoạt động tuyên truyền về di tích địa phương chưa thực sự để lại ấn tượng sâu sắc,
ít HS được tham gia.
Làm thế nào để tạo ra một sân chơi tìm hiểu di tích thực sự hiệu quả, ấn tượng,
thu hút nhiều đối tượng tham gia? Chúng tôi đã chọn giải pháp ứng dụng công nghệ
thông tin và hoạt động trải nghiệm để thu hút đông đảo HS tham gia.
2. Phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng tỉnh Thừa Thiên
Huế bằng hệ thống câu hỏi và hình thức tuyên truyền sinh động
HS luôn có nhu cầu và rất hào hứng tham gia các hoạt động đố vui. Một chương
trình đố vui được xem là hiệu quả khi nó thực sự thu hút được đông khán giả đến xem,
cổ vũ và tham gia từ khai mạc đến giờ phút tổng kết phát thưởng. Muốn giữ được khán
giả tham gia sân chơi giây phút cuối cùng, hội thi cần đạt được các yêu cầu: sự cuốn
hút, hấp dẫn; luôn có thông tin mới; hình thức sinh động; bí mật, bất ngờ, công bằng;
chuẩn bị chu đáo,...
Trong khuôn khổ đề tài
quan, công bố trên website để làm tài liệu tham khảo, tuyên truyền đối với HS. Tất cả
515 câu hỏi đều được biên tập và đăng tải trên website của Phòng GD&ĐT Hương
Thủy.
Hình thức và nội dung câu hỏi khá đa dạng. Có loại câu hỏi về tên di tích, loại
hình, ý nghĩa lịch sử, sự kiện lịch sử, vị trí địa lí, cơ quan quản lí di tích,... Có câu hỏi
sử dụng hình ảnh, đoạn phim, tình huống, đoạn thơ, có câu hỏi kiểu loại trừ,... tất cả
đều hướng đến mục tiêu tuyên truyền và phát huy giá trị của các di tích (Có thể đăng
tải hệ thống 515 câu hỏi và nội dung đề tài nghiên cứu khoa học (109 trang) tại
http://sdrv.ms/YIQdye hoặc website huongthuy.thuathienhue.edu.vn).
Để trả lời các câu hỏi này, HS phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn hoặc bằng
kinh nghiệm, vốn hiểu biết, đặc biệt là thông tin từ các nhân chứng, tài liệu trên mạng
internet. Qua việc tìm hiểu này, các em đã có những hiểu biết cơ bản về các di tích, từ
đó, tình yêu đối với di tích, tình yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc được
phát huy.
3. Kết luận
Qua việc thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã thu được các kết quả:
+ Thiết kế được 515 câu hỏi đề cương tuyên truyền cho HS về di tích lịch sử, văn
hóa, cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế. Thiết kế phần mềm đố vui để học dưới hình thức
Rung chuông vàng, tái hiện kì thi hương thời phong kiến (đa dạng về hình thức, phong
phú về nội dung, ý nghĩa về mặt giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống). Hơn 2000 độc giả
đã tham khảo đề cương do chúng tôi thiết kế (thống kê ở website).
+ Góp phần tuyên truyền, giữ gìn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn
hóa, cách mạng địa phương.
+ Hội thi tìm hiểu di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng do Phòng GD&ĐT tổ chức
tháng 02 năm 2013 đã được 6 báo điện tử đưa tin, bình luận; được Đài Phát thanh
truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT1), Trung tâm Truyền hình Việt Nam (HVTV) và
Đài truyền Hình Việt Nam (VTV1, VTV4) đưa tin, phóng sự trong chuyên mục Điểm
hẹn Văn hóa (kéo dài 3 phút).
9
gắn liền với văn hóa của nước Pháp bởi người dân ở xứ hình lục lăng này rất yêu quý
bánh mì, cũng giống như người Việt Nam yêu quý hạt gạo. Câu thành ngữ rất triết học
của người Pháp “Mettre la main à la pâte”, hàm ý rằng, muốn ăn bánh mì thì phải đặt
tay vào bột. Nó cũng giống như người Việt Nam có câu thành ngữ “Muốn ăn thì lăn
vào bếp”. Đối với các môn học khoa học tự nhiên, để chiếm lĩnh tri thức, người học
phải học qua hành động. Dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các
vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên
cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.
Bàn tay nặn bột - Dạy cho HS cách học
Đặc trưng của phương pháp BTNB được thể hiện ở 10 nguyên tắc đã được các
nhà khoa học đúc kết. Quá trình học tập của HS theo phương pháp này được thực hiện
qua 5 bước (tình huống xuất phát; bộc lộ quan niệm ban đầu của HS; đề xuất các câu
hỏi (giả thuyết) và thiết kế phương án thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm, tìm tòi nghiên
cứu; kết luận và hợp thức hóa kiến thức). Đây chính là quy trình nghiên cứu khoa học
của các nhà khoa học. Khi làm việc theo phương pháp này, HS được chủ động đề xuất
vấn đề nghiên cứu, được bộc lộ quan niệm riêng (quan niệm ban đầu), được trực tiếp
làm thí nghiệm hoặc nghiên cứu tài liệu, tham gia vào quá trình thảo luận, HS được
hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết vấn đề. Là người tham gia trực
tiếp vào việc thiết kế và thi công 16 tiết dạy, dự giờ 32 tiết theo phương pháp BTNB,
tôi nhận thấy HS suy nghĩ nhiều hơn, nhìn nhiều hơn, nói nhiều hơn, thảo luận nhiều
hơn và làm việc nhiều hơn. Kiến thức của HS được xây dựng một cách hệ thống và
vững chắc, năng lực sáng tạo của HS từng bước được phát triển.
11
HS được thảo luận nhiều hơn, thực hành nhiều hơn
Theo tiến trình dạy học này, GV hóa thân thành người bảo trợ khoa học, hướng
dẫn HS thảo luận, đề xuất, nghiên cứu, thực hành để chiếm lĩnh tri thức. GV trang bị
và làm quen dần cho người học phương pháp nghiên cứu khoa học. Đây là xu hướng
Thực tế khi áp dụng thí điểm phương pháp này ở thị xã Hương Thủy (Thừa
Thiên Huế), HS tỏ ra hứng thú, thích tìm tòi, khám phá. Mặc dù tiết học kéo dài từ 60
đến 100 phút nhưng HS không có dấu hiệu mệt mỏi, căng thẳng. Bởi quá trình học tập
cứ luôn hấp dẫn, các em làm việc liên tục, luôn có những điều mới mà càng nghiên
cứu, càng tìm hiểu, HS càng thấy thích thú. Quá trình học tập theo phương pháp này là
quá trình tìm tòi khám phá, thám hiểu, “phiêu lưu” có sự định hướng của GV để tiệm
cận với chân lí của khoa học. Với phương pháp BTNB, động cơ người học được hình
thành thông qua hoạt động trên lớp học, HS được rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng quan
sát, kĩ năng thực hành, kĩ năng trình bày, thuyết trình,... Điều quan trọng nữa là HS có
niềm tin vào chính bản thân mình thông qua phương pháp này.
Tiến trình dạy học theo phương pháp BTNB
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do GV chủ
động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn
gọn, gần gũi dễ hiểu đối với HS. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu
vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề
càng dễ. Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát
mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ
thể).
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay modun kiến thức mà HS sẽ
được học). Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu
thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn
bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. GV phải dùng câu hỏi mở,
tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu
vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học
của GV càng dễ thực hiện thành công.
Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của HS
Làm bộc lộ quan niệm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của HS là pha
quan trọng, đặc trưng của phương pháp BTNB. Trong bước này, GV khuyến khích HS
nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức mới.
đánh giá ý kiến của nhau hơn là của GV nhận xét.
Sau khi HS đề xuất được phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, GV nêu
nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án với các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn.
Trường hợp HS không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu thích
hợp, GV có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà HS vẫn không nghĩ
ra.
Lưu ý rằng các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây là các phương
án để tìm ra câu trả lời. Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành thí nghiệm,
nghiên cứu tài liệu…
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm
tòi - nghiên cứu
Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi
- nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo
nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm
hay các thiết bị dạy học thích hợp để HS
tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm thí
nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực
tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không
thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể
150 GV dự giờ tiết dạy theo phương pháp
BTNB tại THCS Nguyễn Tri Phương
14
làm trên mô hình, hoặc cho HS quan sát tranh vẽ. Đối với phương pháp quan sát, ưu
tiên quan sát vật thật trước, sau đó là tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to.
Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu
cầu HS cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành. Sau đó GV mới phát các
thức phức tạp và dài.
Kết luận
Với mục tiêu khám phá thế giới của BTNB, khi dạy các môn khoa học và công
nghệ, trẻ em thật sự sung sướng, thật sự say mê, có niềm tin và khát khao tự mình
15
chiếm lĩnh tri thức. Việc phát triển những niềm đam mê có chủ định sẽ giúp HS thoát
khỏi tính vị kỉ, góp phần tích cực việc rèn luyện kĩ năng sống, phát triển và hình thành
nhân cách HS. GV cần truyền cảm hứng, nuôi dưỡng lòng say mê có ý thức cho HS và
xem đó là điều vô cùng quan trọng trong việc dạy cách tư duy, dạy cách học cho HS.
Ngạn ngữ Ấn Độ có câu rằng “Tôi nghe – Tôi quên, Tôi nhìn – Tôi nhớ, Tôi làm – Tôi
hiểu”, với đặc trưng là học qua hành động, BTNB sẽ giúp người học chiếm lĩnh tri
thức một cách vững chắc, tránh được sự nhồi nhét hay áp đặt kiến thức khi học các
môn khoa học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] George Charpak (2005), La main à la pâte, l’enfant et la science, Ed. Odile Jacob.
[2] Đỗ Hương Trà (2013), Lamap, một phương pháp dạy học hiện đại, cơ sở lí luận và
việc vận dụng trong dạy học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
[3] Nguyễn Văn Nghiệp (chủ biên), Nguyễn Xuân Thành, Đào Văn Toàn (2011),
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Vật lí cấp trung học cơ sở, Tài liệu tập
huấn của Bộ GD&ĐT.
[4] Nguyễn Văn Cần (2013), Muốn ăn thì lăn vào bếp – Mettre la main à la pâte,
http://bantaynanbot.edu.vn/btnb/index.php?topic=212.0
16
NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC XÂY DỰNG “VƯỜN RAU SẠCH
kết trái, đâm chồi nảy lộc, tạo cho khu vườn có một màu xanh mướt. Chính vì lẽ đó,
bản thân tôi đã suy nghĩ và tranh thủ cùng với một số chị em cấp dưỡng trong nhà
trường thực hiện một số công việc vào các giờ rãnh rỗi, thứ bảy hàng tuần…với những
việc làm sau:
- Vỏ quả chuối các cháu ăn quà chiều hàng ngày, tôi đem ủ lại khoảng một
tuần. Sau khi thu hoạch thực phẩm xong, xới đất lên, rạch một đưòng theo luống đất,
đem vỏ chuối được ủ rãi xuống luống đất thay cho phân bón, đất trồng sẽ rất tốt.
- Liên hệ vói phụ huynh có máy xay gạo để xin vỏ thóc hay còn gọi là trấu,
đem về rãi đều trên đất trồng và đốt thành tro, góp phần cải tạo đất trồng đưọc tốt; Đối
với phụ huynh có làm nấm rơm, cứ mỗi lần sau khi họ thu hoạch nấm xong, tôi lại liên
17
hệ xin rơm thải, tiếp tục liên hệ với phụ huynh có nuôi Lợn, đem rơm đó ủ vào hố phân,
khoảng một tuần sau đem lên ủ lại tạo thành phân chuồng, đem bón cho đất tốt lại không
có hóa chất độc hại; Một lợi thế nữa là ở vùng nông thôn tại vùng tổ 20 (Xuân Sơn +
Xuân Chánh) phụ huynh chăn nuôi nhiều Trâu, Bò, nên việc xin phân chuồng gặp nhiều
thuận lợi, bản thân tôi cũng đã liên hệ với các gia đình có nuôi Trâu, Bò hỗ trợ phân
chuồng, được phụ huynh đồng tình hưởng ứng cao, góp phần vào việc làm tốt đất trồng
mà không mất tiền mua.
- Một việc làm nữa, để cải tạo đất trồng được tốt, tôi đã cải tạo bằng cách không
trồng một loại thục phẩm cố định vào một ô đất, mà phải thay đổi giống nhằm cải tạo
đất trồng, đặc biệt là trồng các loại đậu đỗ, (đậu xanh, đậu đen, đậu phộng) nó sẽ làm
cho đất tơi xốp, dễ trồng các loại thục phẩm khác tiếp theo đạt năng suất cao.
Khu vườn của bé tại trường mầm non Thủy Dương
Giải pháp 2: Tích lũy nguồn giống
- Việc tích lũy nguồn giống cũng góp phần vào việc giảm bớt nguồn kinh phí
mua giống, thuận tiện khi gieo trồng rau – quả cho đợt tiếp theo.
tăng cường tưới nước vào mùa hè.
+ Một trong những loại cây vừa tạo bóng mát cho sân trường vừa đem lại kinh tế
và giàu vitamin A, đó là cây gấc, loại cây này cũng trồng quanh năm (cơ sở 2).
+ Đối với loại đất không được tốt, trồng các loại rau quả khó sống, để tránh tình
trạng cỏ mọc tràn lan, tôi đã nghiên cứu trồng cây sả, mặc dù loại cây này không dùng
cho các cháu thường xuyên. Tuy nhiên loại cây này rất dễ trồng, vừa làm sạch môi
trường, vừa đem lại kinh tế cao, bán lấy tiền đổi các loại thực phẩm khác.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH RAU – QUẢ TẠI TRƯỜNG
Bí Ngô
19
Giàn bầu
Giải pháp 4: Tạo cơ hội cho trẻ thực hành, trãi nghiệm
Việc trồng rau – quả không chỉ mang lại hiệu quả về kinh tế, đáp ứng nguồn thực
phẩm an toàn cho các cháu, mà còn tạo nên một môi trường xanh, sạch, đẹp…Ngoài ra
còn có tác dụng tổ chức cho trẻ khám phá, trài nghiệm về thế giới xung quanh qua các
hoạt động.
Giáo viên thường xuyên tổ chức những buổi tham quan, hoạt động ngoài trời cho
trẻ. Trong vườn có nhiều chủng loại thực phẩm, trẻ được quan sát, làm quen, tìm tòi,
khám phá những hiểu biết ban đầu, giá trị dinh dưỡng của từng loại th ực phẩm khi
được trực tiếp với đối tượng, được tham gia các hoạt động chăm sóc cây, rau, hoa quả,
bắt sâu, tưới nước, được trực tiếp thu hoạch các loại rau – quả cùng cô, góp phần hình
thành ở trẻ tính tập thể, tình yêu lao động…dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, gợi mở, của
giáo viên, góp phần mở rộng kiến thức cho trẻ, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, có
hành vi ứng xử tích cực với môi trường xung quanh. Qua đó, giúp cho trẻ cảm nhận
được thực tiễn cuộc sống, từ đó biết yêu thương và quý trọng giá trị sức lao động.
non, tôi đã thực hiện một số công việc sau:
1. Trước hết phải quy hoạch từng khu đất sao cho hợp lí.
2. Nghiên cứu chất đất nên trồng loại thực phẩm nào là phù hợp.
21
3. Nghiên cứu thời gian trồng cho từng loại thực phẩm sao cho thích hợp theo
từng mùa, từng thời điểm mới đem lại năng suất cao.
4. Làm tốt công tác phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, các bậc phụ huynh
để tranh thủ nguồn giống, phân bón…góp phần giảm bớt kinh phí mua giống, phân
bón, đảm bảo được nguồn rau – quả an toàn, tươi sạch tại chỗ cho trẻ.
5. Mời phụ huynh tham quan vườn rau – quả của trẻ, để phụ huynh thấy được tác
dụng và lợi ích của việc xây dựng vườn rau của bé tại trường mầm non.
6. Cần sắp xếp thời gian sao cho hợp lí để cùng với nhà trường chăm sóc tốt vườn
rau của bé đạt hiệu quả cao.
LTC
22
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÍ TRẺ BÁN TRÚ
Ở TRƯỜNG MẦM NON
Lê Thị Chanh
Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Thủy Dương
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, công tác bán trú trường học đã và đang được xã hội quan tâm. Đây là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu
đông đảo của phụ huynh học sinh, tạo điều kiện cho các bậc phụ huynh yên tâm công
tác khi gởi con vào trường, góp phần thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục và nâng
23
II. NHỮNG GIẢI PHÁP CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
Giải pháp 1: Đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cần có trong nhà
bếp để tổ chức bán trú trong trường mầm non
* Về điều kiện cơ sở vật chất:
- Bếp ăn phải có diện tích phù hợp quy mô học sinh bán trú (0,3 – 0,35m2/trẻ).
Bếp được bố trí theo quy trình chế biến một chiều, có cửa ra vào phù hợp quy trình chế
biến và thuận lợi cho việc thoát hiểm khi có sự cố cháy nổ;
- Có kho thực phẩm, đủ dụng cụ phù hợp với việc bảo quản các loại thực phẩm
tươi, khô, rắn, lỏng;
- Có hệ thống nước sạch phù hợp với quy trình chế biến và sử dụng;
- Có phòng thay quần áo, nghỉ ngơi của nhân viên;
- Có khu vực rộng thoáng để phơi dụng cụ khi cần;
- Có khu vực để gas an toàn, thuận lợi cho quá trình vận hành, sử dụng.
* Về điều kiện trang thiết bị:
- Bồn dùng để rửa sạch các loại thực phẩm trước khi chế biến;
- Có đủ các loại dụng cụ dùng để chế biến và chia ăn, đựng nước uống cho trẻ,
với chất liệu đảm bảo an toàn, hợp vệ sinh, phù hợp với chức năng sử dụng và được vệ
sinh hàng ngày;
- Có cân để kiểm tra việc nhập, xuất thực phẩm và chia thức ăn cho trẻ;
- Có tủ lạnh để bảo quản thực phẩm và lưu mẫu thức ăn hàng ngày, tận dụng để
chế biến bửa phụ cho trẻ như làm sữa chua, kem flan…
- Phân chia từng khu vực chế biến sống, chin, chia thức ăn riêng biệt, tuyệt đối
không được để lẫn lộn thức ăn sống, chín với nhau, không để các loại thực phẩm và
dụng cụ dùng để chia thức ăn trên nền đất trong quá trình chế biến hoặc lau rửa;
- Bố trí không gian phù hợp để phần ăn của các nhóm (lớp) sau khi chia, phải có
cửa lưới thông thoáng hoặc có nắp đậy để tránh các loại côn trùng (ruồi, nhăn, gián,
Trước khi phân chia thức ăn về các lớp, nhân viên bếp phải lấy mẫu thức ăn và
lưu mẫu theo quy định của Bộ y tế, mẫu lưu trong tủ lạnh, thời gian lưu 24 giờ, số
lượng lưu thức ăn đặc 150g, thức ăn lỏng 200g, dụng cụ lưu mẫu bằng inox hoặc thủy
tinh, mẫu được niêm phong, ghi ngày tháng lưu rõ ràng trên từng lọ lưu và có chữ kí
của người lưu mẫu, ghi chép mẫu lưu và số lượng lưu hàng ngày vào sổ để theo dõi,
ngăn tủ lưu mẫu tuyệt đối không để thực phẩm khác.
Thau chậu trước khi dùng phải được tráng lại sạch sẽ, chén bát dùng xong rửa
sạch và phơi nắng, rửa lại nước nóng trước khi dùng, thức ăn chia xong phải che đậy
cẩn thận. Nhân viên cấp dưỡng và giáo viên phụ trách lớp khi chia thức ăn tuyệt đối
không được nói chuyện.
Giải pháp 3: Lập bảng phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng thành viên cấp
dưỡng để tổ chức thực hiện
Để việc thực hiện công tác bán trú có hiệu quả, phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng thành viên trong nhà bếp là việc làm cần thiết, nhằm theo dõi, nắm bắt những
việc làm tốt của từng người, để có hướng giúp đỡ, bổ sung kịp thời những thiếu sót khi
thực hiện công việc. Tôi đã lập bảng phân công như sau:
BẢNG PHÂN CÔNG
CÔNG VIỆC CÁC THÀNH VIÊN NHÀ BẾP
Lê Thị Nga – Tổ trưởng
Phụ trách chung
STT
HỌ VÀ TÊN
01
Ngô Thị Hướng
02