Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Ở nước ta, những năm gần đây, nền giáo dục đã được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm, đầu tư phát triển. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên
thế giới, sự nghiệp giáo dục của nước ta vẫn nằm trong tình trạng trì trệ và lạc hậu.
Để đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiến
đến một nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa với một sự cạnh tranh quyết liệt , vươn
lên sánh vai với các cường quốc năm châu, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành
nhiều chính sách đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xây dựng trong Nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (01/ 1993); Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12/1996); được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (12/1998); được cụ thể hóa trong
các chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (01/1993) đã nêu: “Đổi mới phương pháp
dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp học với hành, học tập và sản xuất,
thực nghiệm và nghiên cứu khoa học gắn với nhà trường, với xã hội, áp dụng
phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng
tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Chỉ thị số 14 (4/1994) của Bộ Giáo dục và đào tạo; Luật Giáo dục (12/1998),
điều 24.2 cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất, khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ
một chiều, truyền thụ các kiến thức có sẵn…”
1
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
chất lượng dạy và học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận” nói riêng và các bài
phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình và tài liệu nghiên cứu đề cập đến vấn để phát huy tính
tích cực, chủ động của người học
Có thể nói, vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong dạy
học đã được đề cập đến từ rất lâu trong lịch sử. Hiện nay, vấn đề này được rất nhiều
người ở trong nước và trên thế giới quan tâm, nghiên cứu.
Ở nước ta, từ những năm 60 của thế kỉ XX, vấn đề phát huy tính tích cực,
chủ động của người học trong dạy học đã được đặt ra trong ngành giáo dục. Hiện
nay, vấn đề này ngày càng được nhiều người quan tâm và nó đã trở thành một trong
những yếu tố quan trọng góp phần vào sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà.
Dưới đây, chúng tôi xin được giới thiệu sơ lược một số công trình, tài liệu nghiên
cứu tiêu biểu có đề cập đến vấn đề nói trên.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm”,
tác giả Nguyễn Kì đã đưa ra những vấn đề lí luận chung nhất về phương pháp dạy
học theo hướng tích cực. Trong đó tác giả đã nêu ra bốn đặc trưng cơ bản về
phương pháp dạy học theo hướng tích cực; giới thiệu những thành tựu của thế giới
về hoạt động học của HS, hoạt động dạy của GV, mối quan hệ giữa hoạt động dạy
và học; đưa ra phương hướng, điều kiện để lựa chọn những phương pháp dạy học
thích hợp. Cũng trong cuốn sách này, tác giả giới thiệu cho người đọc biết về một
số mô hình dạy học tích cực và một số mẫu giáo án của nhiều môn học khác nhau.
Trong cuốn “Bàn về dạy học lấy người học làm trung tâm”, tác giả Trần Bá
Hoành đã đưa ra một số vấn đề như: bản chất của dạy học theo hướng tích cực;
3
4
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
Trên tạp chí Giáo dục số 237 (tháng 5 năm 2010), tác giả Nguyễn Gia Cầu
có bài viết “Bồi dưỡng cho HS tính tích cực, chủ động trong quá trình tự học Văn”.
Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra một số tiền đề lí luận về tính tích cực trong quá
trình tự học của HS; những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chán học Văn của HS
và nêu ra những biện pháp để bồi dưỡng tính tích cực, chủ động cho HS trong quá
trình tự học Văn.
Ngoài ra còn có một số công trình, tài liệu nghiên cứu khác nữa có để cập đến
vấn đề dạy học theo hướng tích cực. Nhưng nhìn chung đó chỉ là nhưng vấn đề lí
thuyết chung chung, chứ chưa thật sự đi sâu vào những phương pháp dạy học ứng
với từng bài học cụ thể để phát huy tính tích cực, chủ động của người học.
2.2 Sách giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, SGK và SGV Ngữ văn
11 (tập 2)
Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt” ở phần “Các
nguyên tắc và phương pháp dạy tiếng Việt”, tác giả Lê A đã đưa ra các nguyên tắc
dạy tiếng Việt và những phương pháp, thủ pháp được sử dụng trong dạy học tiếng
Việt . Đây sẽ là cơ sở để chúng tôi lựa chọn những phương pháp, thủ pháp dạy học
phát huy tính tích cực, chủ động của HS.
Trong SGK Ngữ văn 11 (tập 2), bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận” được
dạy trong hai tiết. Mỗi một tiết đều được soạn thành hai phần lí thuyết và thực hành
đan xen nhau. Việc biên soạn như vậy một mặt để tăng cường tính tự giác, sáng tạo
của học sinh; mặt khác nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp
ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Trong SGV Ngữ văn 11 (tập 2), phần phương pháp dạy học bài “Phong cách
phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, cần phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
6
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
+ Hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài cần nghiên cứu. Trên cơ
sở đó, kế thừa những thành tựu của các tài liệu để vận dụng và giải quyết đề tài một
cách hợp lí.
+ Cần xác định được cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
+ Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực vào dạy học bài
“Phong cách ngôn ngữ chính luận ”.
+ Tiến hành thực nghiệm bằng việc thiết kế giáo án và rút ra kết luận chung.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ nội dung của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề
lí luận về phương pháp dạy học theo hướng tích cực của học sinh trong dạy học bài
“Phong cách ngôn ngữ chính luận”. Trên cơ sở đó, vận dụng những phương pháp
ấy vào thực tế giảng dạy bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận” trong chương
trình Ngữ văn lớp 11.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi cho phép của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu việc dạy học bài
“Phong cách ngôn ngữ chính luận” trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 theo
hướng tích cực.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi lựa chọn sử dụng những phương pháp sau:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học theo quan điểm tích
cực.
8
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
+ Chương 2: Dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận” theo hướng
tích cực.
+ Chương 3: Thực nghiệm
- Phần kết luận
9
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Sự đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, đổi mới để tồn tại và phát triển là một tất
yếu khách quan. Giáo dục cũng không nằm ngoài quy luật đó, thậm chí là một yêu
cầu hết sức cấp bách trong chính sách đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước ta.
Đổi mới giáo dục là cả một quá trình, bao gồm nhiều nội dung, giải pháp,
pháp dạy học là một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình lần này. Đổi
mới phương pháp dạy học trong môn Ngữ văn không hạ thấp vai trò của người GV
mà ngược lại GV chính là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học. Phương pháp
dạy học mới hạn chế tối đa lối dạy lí thuyết, một chiều, chuyển quá trình thuyết
giảng của GV thành những cuộc trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, giữa HS và
HS giúp các em tự tìm hiểu và đánh giá được mức độ tìm hiểu bài học của mình.
Đổi mới phương pháp dạy học thực chất là một quá trình nâng cao hiệu quả
của việc dạy và học; phát triển tư duy độc lập, chủ động, sáng tạo; tạo niềm vui và
hứng thú học tập cho HS; góp phần làm cho việc dạy học gắn bó, phục vụ tốt hơn,
ngày càng nâng cao hơn cho việc hình thành và phát triển nhân cách và phẩm chất
của người Việt Nam trong hiện tại cũng như trong tương lai.
1.1.2 Quan điểm tích cực trong dạy học
1.1.2.1 Một số vấn đề về tính tích cực học tập
Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người. Con người không chỉ là
khách thể mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu
có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách
riêng của mình. Để tồn tại và phát triển, con người luôn phải chủ động, tích cực cải
biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích
cực xã hội là một trong những nhiệm vụ của giáo dục.
11
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
Tính tích cực học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức. Tính tích cực
trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo
ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo
nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh lớp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là
dạy và phương pháp học. Muốn hoạt động dạy và hoạt động học đạt hiệu quả, cần
gắn việc lựa chọn phương pháp với sự hợp tác của cả thầy và trò.
1.1.2.2.2 Dạy tích cực – học tích cực
Dạy tích cực: GV với vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy
cần phải hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá
những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm. Thường xuyên điều
chỉnh các hoạt động học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em
tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh
văn bản. Song song đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn HS sử dụng các thiết bị
đồ dùng và ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác và vận dụng kiến thức có
hiệu quả. Bằng mọi cách, GV phải tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kĩ năng học
tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải
quyết các vấn đề thực tiễn. Trong giảng dạy, cần chú ý khai thác vốn kiến thức,
kinh nghiệm, kĩ năng nghe – nói – đọc – viết mà HS đã có.
Học tích cực: HS chuẩn bị bài kĩ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn,
tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm của mình. Hơn thế, các em phải luôn tích cực suy
nghĩ, chủ động thời gian các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến
thức, rèn luyện thái độ và tình cảm đúng đắn. Biết đánh giá và tự đánh giá các quan
điểm của bản thân, của nhóm. Tích cực, sáng tạo trong vận dụng kiến thức, kĩ năng
để giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Bên cạnh đó, HS phải
biết chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập phù hợp với năng lực
và điều kiện học tập của cá nhân. Biết sưu tầm và tìm hiểu các tài liệu có liên quan
đến bài học bằng các hình thức khác nhau. Có ý thức sử dụng đồ dùng học tập và
các ứng dụng công nghệ thông tin để học tập có hiệu quả.
1.1.2.2.3 Những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh
13
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
- Phương pháp thảo luận nhóm:
Đây là phương pháp GV tổ chức cho HS trao đổi, bàn bạc với nhau, bộc lộ
quan điểm về một chủ đề hay vấn đề nào đó để làm rõ và làm giàu sự hiểu biết của
cá nhân theo yêu cầu của mục tiêu và nhiệm vụ dạy học. Sử dụng phương pháp này
sẽ giúp cho các thành viên trong nhóm chia nhỏ những băn khoăn, thắc mắc, kinh
nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới qua cách nói ra những
điều đang nghĩ. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là
sự tiếp nhận thụ động từ phía GV.
- Phương pháp dạy học trực quan:
Đây là phương pháp GV sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu…vào bài học.
Việc sử dụng tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ...sẽ gây hứng thú cho HS, tránh sự nhàm
chán trong học tập. Thông qua đó, HS nhanh chóng ghi nhớ và hiểu bài tốt hơn.
- Phương pháp dạy học theo dự án:
Đây là phương pháp GV giao cho HS thực hiện một nhiệm vụ học tập thích
hợp gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, tự thực
hiện kế hoạch và tự đánh giá kết quả đạt được.
Trên đây là một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động
của HS. Tùy từng môn học, từng bài học cụ thể mà GV có cách lựa chọn các
phương pháp dạy học phù hợp.
1.1.3 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT với phương pháp dạy học theo
hướng tích cực
Lứa tuổi học sinh THPT thường mang lại nhiều bận tâm cho các thầy cô và
cha mẹ. Bởi lúc này, các em đang ở độ tuổi mới lớn, tâm lí rất phức tạp. Vì vậy,
muốn cho hoạt động dạy và học đạt hiệu quả, GV cần đi sâu vào thế giới nội tâm
của các em để tìm ra những phương thức đúng đắn.
nào cần nhớ từng câu, từng chữ, cái gì cần hiểu mà không cần nhớ…
- Khối lượng chú ý tăng lên, tính bền vững của chú ý và sự tập trung của chú
ý tăng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng phân phối chú ý, nghĩa là có khả năng chú ý
nhiều đối tượng, nhiều hành động diễn ra cùng một lúc.
16
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
- Tư duy trừu tượng, tư duy lí luận của các em bắt đầu chiếm ưu thế. Tính
độc lập, tính nhất quán, tính phê phán của tư duy tăng lên.
Nhìn chung, ở lứa tuổi này, các em đã ý thức được và sử dụng các thao tác trí
tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập của mình.Vì vậy, GV cần tổ chức giờ học sao
cho nội dung thích hợp, phù hợp với nhận thức của HS. Đặc biệt, GV nên sử dụng
các phương pháp phát huy được tính độc lập, tính tích cực trí tuệ của HS như:
phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm…
1.1.3.3. Đặc điểm về giao tiếp
Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Vì vậy, ở lứa
tuổi này quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với người lớn tuổi hơn hoặc
ít tuổi hơn.
- Trong quan hệ bạn bè, các em mong muốn được sinh hoạt với các bạn cùng
lứa tuổi, mong muốn mình là người có uy tín và có vị trí nhất định trong nhóm. Tuy
nhiên, ở lứa tuổi này, nhóm tự phát ngoài nhà trường có ảnh hưởng rất lớn. Vì vậy,
trong công tác giáo dục HS, GV phải chú ý tới các hội tự phát ngoài nhà trường.
GV có thể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách tổ chức hoạt động
của các tập thể thật phong phú, sinh động...khiến cho các hoạt động ấy phát huy
được tính tích cực của HS.
- Trong quan hệ với người lớn tuổi, các em luôn mong muốn người lớn thừa
sang đầu trò.
Dạy học tiếng Việt theo phương pháp truyền thống có ưu điểm và nhược
điểm sau:
Về ưu điểm: tốn ít thời gian, kiến thức đến với HS một cách chính xác, lôgic
và có hệ thống.
Về nhược điểm: HS không phát huy được vai trò chủ thể, nên tiếp nhận kiến
thức một cách thụ động; tri thức đến với HS thường bị khúc xạ qua GV (GV hiểu
đúng thì HS hiểu đúng và ngược lại); giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên
về lí luận, ít chú ý đến kĩ năng thực hành của người học; do đó kĩ năng hành dụng
vào thực tế bị hạn chế.
18
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
Như vậy, dạy học tiếng Việt theo phương pháp truyền thống chỉ thích hợp
với quá khứ. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ,
cách dạy này sẽ không còn phù hợp nữa. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại, thúc đẩy
xã hội phát triển, cần phải thay phương pháp dạy học truyền thống bằng phương
pháp dạy học hiện đại.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Dự giờ giáo viên
Trong dạy học, người GV có vai trò vô cùng quan trọng. GV chính là người
tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng cho
HS. Để tìm hiểu việc tổ chức dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận” phát
huy tính tích cực của HS trong nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã quyết
định dự giờ dạy của một số GV. Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy rằng:
- Hầu hết GV bám sát theo trình tự trong SGK: đưa ra ví dụ để HS phân tích,
Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát về thái độ, không khí học tập của HS
trong quá trình dự giờ của GV dạy bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận”. Qua dự
giờ, chúng tôi nhận thấy:
- HS phần lớn đã tích cực làm việc dưới sự hướng dẫn của GV. Nhưng bên
cạnh đó vẫn còn một số em tỏ ra thiếu thiện chí trong giờ học.
- Hầu hết HS vào giờ không hào hứng, không sôi nổi, có thái độ chây lười, ỷ
lại các bạn trong lớp, tranh thủ thời gian nói chuyện, nhất là khi thảo luận theo
nhóm.
- Hầu hết HS còn học theo hình thức chống đối, và dường như còn trong tình
trạng bắt buộc với tinh thần không thoải mái. Đặc biệt, các em chưa nghiêm túc
trong giờ học, chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống.
20
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
2.1 Phong cách ngôn ngữ chính luận dưới góc độ nghiên cứu của ngôn ngữ học
2.1.1 Các phong cách chức năng ngôn ngữ
2.1.1.1 Khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ
Trong Phong cách học, phong cách chức năng ngôn ngữ là vấn đề luôn được
các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Vì nó chính là cơ sở quy định cho
việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ đúng, hay, đạt hiệu quả giao tiếp.
Thực tế cho thấy, khái niệm về phong cách chức năng ngôn ngữ mà các nhà
nghiên cứu đưa ra vô cùng phong phú và phức tạp. Bởi mỗi nhà nghiên cứu lại có
quan niệm riêng và cách nhìn nhận khác nhau về phong cách chức năng ngôn ngữ.
chính, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ báo – công vụ, phong
cách ngôn ngữ chính luận và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Trong cuốn “ Tu từ học tiếng Việt hiện đại”, tác giả Cù Đình Tú đã phân loại
phong cách chức năng như sau: ngôn ngữ toàn dân được chia thành phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ trình bày. Ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện chức
năng biểu hiện, còn phong cách ngôn ngữ trình bày thực hiện chức năng trình bày.
Trong phong cách ngôn ngữ trình bày lại được chia tiếp ra thành phong cách khẩu
ngữ tự do và phong cách ngôn ngữ gọt rũa. Cách phân chia này cho thấy tác giả có
khi dựa vào chức năng, có khi dựa vào phạm vi giao tiếp để phân loại.
Trên đây là một số cách phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ. Ngoài ra
còn nhiều quan điểm phân chia khác nữa. Nhưng nhìn chung cách phân chia nào
cũng đã chỉ rõ được các chức năng và phạm vi sử dụng ngôn ngữ. Hiện nay, SGK
Ngữ văn THPT đã dựa vào những cách phân loại trên và phân chia phong cách
chức năng ngôn ngữ thành sáu loại phong cách: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt,
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn
ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ hành chính và phong cách ngôn ngữ khoa
học.
2.1.2 Phong cách ngôn ngữ chính luận
22
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn
2.1.2.1 Khái niệm phong cách ngôn ngữ chính luận
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn có nhu cầu phát biểu ý kiến, bày
tỏ lập trường, quan điểm của mình về các vấn đề chính trị, văn hóa, giáo dục... Từ
đó phong cách ngôn ngữ chính luận được hình thành và trở thành một trong những
phong cách chức năng ngôn ngữ cơ bản.
Tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa ra khái niệm về phong cách chính luận như
bình giá công khai của người viết. Ở văn bản này, Bác đã trích dẫn lời văn bản
Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của Cách mạng Pháp để nói lên rằng có ba bản tuyên ngôn với ba nền độc lập, với
ba dân tộc ngang hàng nhau.
Trong bản Tuyên ngôn của nước Mĩ “ Tất cả các dân tộc trên thế giới…
quyền tự do”, Bác đã khẳng định quyền tự do, bình đẳng của nhân dân từ khi sinh
ra và không ai có quyền hành gì đối với nhân dân. Còn trong bản Tuyên ngôn Nhân
quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp “ Người ta sinh ra…quyền lợi”, Bác
khẳng định bất cứ một ai kể từ khi sinh ra đều được tự do, được công bằng và được
hưởng tất cả quyền lợi của một con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra ba bản
Tuyên ngôn ấy làm dẫn chứng và khẳng định “Đó là những lẽ phải không ai chối
cãi được”. Từ ngữ và lối diễn đạt của Bác trong đoạn văn trên rất giản dị, dễ hiểu,
gần với lối nói của quần chúng nhân dân.
Tính bình giá công khai là nét khu biệt của phong cách ngôn ngữ chính luận
so với lời nói nghệ thuật. Văn bản nghệ thuật cũng bao hàm thái độ bình giá nhưng
là bình giá ngầm, gián tiếp, thông qua hệ thống hình tượng.
2.1.2.3.2 Tính lập luận chặt chẽ
Đây là đặc trưng nổi bật của phong cách ngôn ngữ chính luận. Tính lập luận
chặt chẽ được thể hiện ở chỗ người nói (viết) phải đưa ra được những lí lẽ, dẫn
chứng hay những căn cứ vững chắc để thuyết phục người đọc (nghe). Nghĩa là phải
dựa trên cơ sở của những luận điểm, luận cứ khoa học. Đặc điểm này của phong
cách ngôn ngữ chính luận rất gần với phong cách ngôn ngữ khoa học.
Ví dụ: “Dao có mài mới sắc, nước có lọc mới sạch, người có tự phê bình mới
tiến bộ được”. (Tự phê bình – Hồ Chí Minh)
24
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Thanh Thêu – K33C Văn