Lời văn nghệ thuật ký vũ bằng (LV00742) - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ CHÂM

LỜI VĂN NGHỆ THUẬT KÝ VŨ BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

----------—&–----------

NGUYỄN THỊ CHÂM

LỜI VĂN NGHỆ THUẬT KÝ VŨ BẰNG

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Công Tài

HÀ NỘI, 2012


1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 3
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 6
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 7
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
5.1 Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học ................................................ 8
5.2 Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học ............................................ 8
5.3 Phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh. ............................................... 8
6. Đóng góp của luận văn.................................................................................. 8
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 8
NỘI DUNG....................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1. LỜI VĂN NGHỆ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ
LOẠI KÝ.......................................................................................................... 9
1.1. Lời văn nghệ thuật .................................................................................. 9
1.1.1. Khái niệm lời văn nghệ thuật ........................................................... 9
1.1.2. Vai trò của lời văn nghệ thuật ........................................................ 12
1.1.3. Các thành phần và các phương tiện của lời văn nghệ thuật........... 14
1.1.3.1. Các thành phần cơ bản của lời văn nghệ thuật ........................ 14
1.1.3.2. Các phương tiện đặc trưng của lời văn nghệ thuật .................. 24
1.2. Đặc trưng thể loại ký ............................................................................ 26
1.2.1. Đặc trưng thể loại ký ...................................................................... 26
1.2.2. Nét riêng biệt trong ký của Vũ Bằng ............................................. 31
CHƯƠNG 2. KIỂU LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG KÝ CỦA
VŨ BẰNG....................................................................................................... 35
2.1 Lời trần thuật.......................................................................................... 35

3.1.4.2. Ẩn dụ........................................................................................ 85
3.1.4.3. Điệp ngữ................................................................................... 86
3.2. Giọng điệu trần thuật ............................................................................ 88
3.2.1. Giọng trữ tình đằm sâu, tha thiết.................................................... 89
3.2.2. Giọng dằn vặt, sám hối, ngậm ngùi................................................ 91
3.2.3. Giọng buồn, nghẹn ngào, tiếc nuối ................................................ 92
3.2.4. Giọng tranh luận, triết lý, tự đắc .................................................... 94
3.2.5. Giọng mỉa mai, châm biếm, giễu nhại ........................................... 95
3.2.6. Giọng âu yếm, dịu dàng ................................................................. 96
3.2.7. Giọng hóm hỉnh, tự trào ................................................................. 97
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 102


3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 - Lời văn nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng của lí
luận văn học. Là yếu tố đầu tiên của tác phẩm văn học, lời văn chẳng những
biểu hiện đặc điểm cá tính, bản chất xã hội của nhân vật mà còn trực tiếp tạo
nên những khái quát nghệ thuật, góp phần hình thành sắc diện, tình diệu tác
phẩm, làm nên giá trị đích thực của nghệ thuật. Hơn nữa, lời văn nghệ thuật
mang dấu ấn của thời đại và tác giả. Đặc biệt với Vũ Bằng, lời văn trong tác
phẩm của ông có sức quyến rũ đặc biệt, không chỉ thể hiện tinh chất của ngôn
ngữ dân tộc mà làm nên phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo của một nhà
văn sống và sáng tác trong những hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc và cả
một hoàn cảnh thật đặc biệt của cá nhân ông.
1.2 - Vũ Bằng (1913 - 1984) là một cây bút hoạt động trên nhiều lĩnh
vực: báo chí, nghiên cứu, sáng tác, phê bình... và ở lĩnh vực nào ông cũng đạt

hơi đá hoạt kê một chút, còn về cảnh ông chỉ tả sơ sơ, ông chú trọng vào cả
hành vi của nhân vật, vì những hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết và
gây nên những cảnh riêng biệt cho các nhân vật” [35,91]. Vũ Bằng được Vũ
Ngọc Phan xếp vào các tiểu thuyết gia tại chương “Tiểu thuyết tả chân”. Nhìn
chung nhận xét của ông về Vũ Bằng còn rất khiêm tốn.
Gần 30 năm sau, mới có thêm bài viết về Vũ Bằng của Thượng Sỹ
trong lời giới thiệu cuốn Bốn mươi năm nói láo khi cuốn sách được xuất bản
lần đầu tiên. Theo Thượng Sỹ, Bốn mươi năm nói láo là “lịch sử một kiếp
sống lê thê của người viết báo chuyên nghiệp xứ này”. Đó là: “Lịch sử là một
kiếp sống gắn theo với nhiều kiếp sống, và đó cũng chính là tâm tư của một
người, của nhiều người, cùng theo đuổi một nghề và thường cùng nuôi chọn
một hoài bão như nhau” [5, 9]
Từ năm 1969 đến năm 2000 chưa có một công trình nào nghiên cứu
về con người và tác phẩm của Vũ Bằng một cách toàn diện, hệ thống. Năm
1970 Tạ Tỵ cho ra mắt cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ ở đó Vũ Bằng được
giới thiệu là một trong mười khuôn mặt văn nghệ nổi bật lúc bấy giờ với bài
viết “Vũ Bằng người trở về từ cõi đam mê”. Từ năm 1990 đến năm 1999,
nhiều bài trên các báo Văn nghệ, Sài Gòn, Phụ nữ thứ bảy Thành phố Hồ Chí
Minh, Người Hà Nội của một số tác giả như Nguyễn Vỹ (Vũ Bằng phải có


5

một địa vị xứng đáng), Đặng Anh Đào (Tháng ba, đi tìm thời gian đã mất),
Vương Trí Nhàn (Buồn vui đời viết), Nguyễn Thị Thanh Xuân (Khúc ca cảm
hoài của người tình nhân), Phạm Ngọc Luật (Nếu trở lại làm người, con cứ
lại xin làm báo),…Song tất cả đều mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một
khía cạnh trong tác phẩm của ông hoặc kể những ấn tượng, những kỷ niệm về
Vũ Bằng để minh oan cho ông.
Năm 2000, nhà văn Triệu Xuân là người có công sưu tầm, tuyển chọn

“Nhân vật trữ tình và chủ thể hành động không được đặt ở một ngôi duy nhất
như thường thấy trong thể hồi ký ” [7].
Đến chuyên luận của Văn Giá, tác giả đã đánh giá rất cao về ký Vũ
Bằng: “Ngòi bút của ông ấy lấp lánh tài hoa”. Văn Giá đã dành khá nhiều
trang để ca ngợi vẻ đẹp của Thương nhớ mười hai như: Vũ Bằng đã “trải gấm
hoa” lên những trang văn, và “ngay cả người đọc khó tính nhất cũng phải thừa
nhận Thương nhớ mười hai là một tác phẩm đặc sắc trong nền văn học Việt
Nam hiện đại” [10, 59]
Từ tình hình nghiên cứu về ký Vũ Bằng nói trên, chúng tôi nhận thấy
việc tìm hiểu những đặc sắc về lời văn nghệ thuật ký Vũ Bằng là một việc cần
thiết cho sự đánh giá khách quan về những đóng góp của ông cho tiến trình
văn học dân tộc. Từ đó góp một tiếng nói khẳng định vị trí văn học của Vũ
Bằng trong nền văn học nước nhà.
2. Mục đích nghiên cứu
Triển khai đề tài lời văn nghệ thuật trong ký của Vũ Bằng chúng tôi
nhằm mục đích làm rõ thêm một phương diện nghệ thuật quan trọng làm nên
sức hấp dẫn đặc biệt cho sáng tác của Vũ Bằng. Từ đó khẳng định những
đóng góp quý giá của ông đối với văn xuôi hiện đại Việt Nam, đồng thời góp
một tiếng nói khẳng định vị trí văn học của Vũ Bằng trong nền văn học nước
nhà.


7

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lời văn nghệ thuật trong ký của Vũ Bằng chúng tôi trước
hết đi tìm hiểu những vấn đề chung về thể ký và lời văn nghệ thuật, sự chi
phối của đặc trưng thể loại ký đối với lời văn nghệ thuật ký Vũ Bằng, khái
niệm lời văn nghệ thuật, vai trò của lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn
học, các phương tiện và các thành phần của lời văn nghệ thuật… Đó là cơ sở

nhiều yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, khi triển khai các vấn đề
cụ thể, chúng tôi đều phân tích, tổng hợp trong mối quan hệ hệ thống của
chỉnh thể tác phẩm.
5.3 Phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh.
Để việc phân tích, đánh giá có căn cứ xác thực, khi cần thiết chúng tôi
tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại và so sánh để tìm ra những đặc sắc của
lời văn nghệ thuật trong ký của Vũ Bằng. Việc so sánh có thể còn được mở
rộng tới sáng tác của một vài cây bút cùng thời để làm rõ hơn đối tượng
nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn.
Đây là luận văn đầu tiên, tập trung nghiên cứu lời văn nghệ thuật trong
ký của Vũ Bằng, một cách toàn diện và hệ thống. Với định hướng nghiên cứu
này, luận văn hy vọng góp thêm một phần nhỏ vào những thành tựu nghiên
cứu về Vũ Bằng, tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt của nhà văn trong tiến
trình lịch sử văn học Việt Nam. Đồng thời ở một mức độ nào đó, luận văn sẽ
làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học trong trường
THPT và Đại học cũng như người yêu thích văn học Việt Nam.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1. Lời văn nghệ thuật và đặc trưng thể loại ký
Chương 2. Kiểu lời văn nghệ thuật trong ký của Vũ Bằng
Chương 3. Giọng điệu lời văn nghệ thuật trong ký của Vũ Bằng


9

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LỜI VĂN NGHỆ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI KÝ
1.1. Lời văn nghệ thuật

lời văn nghệ thuật lại tương đối độc lập với hệ thống giao tiếp tự nhiên. Nó có
thể bị tách rời với ngữ cảnh tức thời và tham gia vào nhiều ngữ cảnh khác.
Lời nói thông thường không trọn vẹn đầy đủ. Lời văn, trái lại luôn luôn là
hiện tượng trọn vẹn đầy đủ để tự nó có thể thuyết minh ý nghĩa của nó trong
môi trường giao tiếp văn học. Sự tổ chức lời nói thành lời văn nghệ thuật là để
nâng lời nói lên mức nghệ thuật, nâng ý thức hàng ngày lên mức văn học. Nó
giúp cho người ta cảm thụ đời sống và lời nói một cách mới mẻ.
Cần phải phân biệt thuật ngữ lời văn nghệ thuật với các thuật ngữ:
Ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học, lời văn. Đây là những
thuật ngữ có những nét nghĩa tương đồng nhưng không hoàn toàn đồng nhất
với nhau.
Ngôn ngữ là “ hệ thống ngữ âm, những từ và quy tắc kết hợp chúng mà
những người trong cùng cộng đồng người dùng làm công cụ giao tiếp với
nhau”. Ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn học chứ chưa phải là lời văn
nghệ thuật. Từ ngôn ngữ đến lời văn nghệ thuật là cả một quá trình lao động
gian khổ công phu của nhà văn [32].
Ngôn ngữ nghệ thuật “ là một hệ thống các phương thức, phương tiện
tạo hình biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ của
một ngành, một sáng tác nghệ thuật. Người ta có thể nói đến ngôn ngữ ba lê,
ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh, cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật
của sáng tác văn học trên cấp độ đó” [32,185].


11

Ngôn ngữ văn học là thuật ngữ dùng để “chỉ một cách bao quát các hiện
tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản nhà nước,
trên báo chí, đài phát thanh, trong văn hóa, văn học và khoa học” [32, 215].
Như vậy, các thuật ngữ ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học có nội
hàm rộng hơn thuật ngữ lời văn nghệ thuật. Song do ba thuật ngữ này vẫn có

phần hình thành sắc diện, tình điệu tác phẩm, tích cực thực hiện nhiệm vụ tối
cao của tác phẩm” [25,28].
1.1.2. Vai trò của lời văn nghệ thuật
1.1.2.1. Hình tượng văn học bao giờ cũng gắn liền với một chất liệu cụ
thể. Mối quan hệ giữa hình tượng và chất liệu không phải là sự kết hợp bề
ngoài mà là sự thâm nhập, thẩm thấu vào nhau. Chất liệu là phương thức tồn
tại của hình tượng. Nhà văn ngay từ khi có ý tưởng, tư duy đã dựa trên những
khả năng của chất liệu. Chẳng hạn, nghệ thuật điêu khắc tư duy bằng hình
khối, mảng, đường nét; âm nhạc lại tư duy bằng nhạc điệu và âm sắc của dụng
cụ; điện ảnh sân khấu là loại hình nghệ thuật tư duy tổng hợp kết hợp nhiều
chất liệu khác nhau. Cũng như vậy, nhà văn với tư cách là nghệ sỹ ngôn từ đã
tư duy nghệ thuật dựa trên khả năng biểu đạt của chất liệu ngôn từ. Vì thế, với
bản chất là hình thức của ngôn từ, trong mỗi tác phẩm văn học, lời văn nghệ
thuật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó chính là yếu tố đầu tiên trong sự tiếp
xúc của người đọc với tác phẩm, trực tiếp tạo lên những hình tượng, biểu hiện
nghệ thuật, “ góp phần hình thành sắc diện, tình điệu tác phẩm, thực hiện mục
tiêu tối cao của tác phẩm” [25,28]. Lời văn nghệ thuật cũng là “hình thức vật
chất duy nhất cho sự tồn tại của nội dung tác phẩm” [1,308]. Qua lời văn nghệ
thuật mà toàn bộ thế giới nghệ thuật được định hình. Cũng từ đó người đọc có
cơ sở tìm hiểu, khám phá thế giới hình tượng và các lớp nội dung ý nghĩa của
văn bản nghệ thuật. So với các yếu tố hình thức văn học khác, lời văn nghệ
thuật được đánh giá là yếu tố quan trọng bậc nhất của hình thức tác phẩm. Tất


13

cả hình tượng nhân vật, thiên nhiên, phong cảnh, cốt truyện, kết cấu, chủ đề
cảm hứng, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người…và mọi yếu tố cấu
thành tác phẩm văn học khác chỉ được nắm bắt qua các loại hình lời văn nghệ
thuật.

của lời văn nghệ thuật bộc lộ rất rõ trong văn xuôi: tiểu thuyết, truyện ngắn.
Như vậy có thể thấy, lời văn nghệ thuật là vấn đề rất ý nghĩa. Các nhà
văn qua nhiều thời đại không ngừng sáng tạo làm cho nó ngày một trau chuốt,
sinh động, gợi cảm và phong phú để xây dựng lên ngôn ngữ chuẩn hóa, trong
sáng, giàu đẹp của dân tộc.
1.1.3. Các thành phần và các phương tiện của lời văn nghệ thuật
1.1.3.1. Các thành phần cơ bản của lời văn nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên),“ thành phần cơ
bản của lời văn nghệ thuật là lời gián tiếp (của người trần thuật, người kể
chuyện), là lời trực tiếp(của nhân vật), được tổ chức theo cách thức hoạt động
giao tiếp (lời đối thoại, lời độc thoại), và theo loại hình nghệ thuật (tự sự, trữ
tình, kịch), cách tư duy nghệ thuật (lãng mạn hiện thực, tượng trưng…), loại
hình văn hóa nghệ thuật (dân gian, thành văn…), ý thức nghệ thuật (một
giọng, hai giọng, nhiều giọng, mức độ đa nghĩa…), phong cách nhà
văn…”[13,188].
Theo các tác giả giáo trình Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên), thì
“ Trong văn học tự sự, lời gián tiếp đóng vai trò chủ đạo. Lời trực tiếp được
tác giả lựa chọn, đưa vào cấu trúc trần thuật những chỗ cần thiết” [25, 330].
Tuy nhiên, sự phân biệt lời trực tiếp và lời gián tiếp không phải là tuyệt đối.
Trong nhiều trường hợp, chúng hòa trộn vào nhau: Trong lời trực tiếp có yếu
tố gián tiếp, trong lời gián tiếp có yếu tố trực tiếp.


15

Lời gián tiếp:
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, lời gián tiếp là “lời văn đảm đương
chức năng trần thuật, giới thiệu, miêu tả, bình luận con người và sự kiện, phân
biệt với lời trực tiếp được đặt trong ngoặc kép hoặc sau gạch đầu dòng. Lời
gián tiếp là lời của người trần thuật, người kể chuyện. Đây là cách gọi ước lệ

vật. Người đọc như đứng ở chỗ giao nhau của người trần thuật và ý thức nhân
vật mà ý thức nhân vật là đối tượng miêu tả. Nói một cách cụ thể đó là lời trần
thuật nói thay ý nghĩ của nhân vật, nhằm bộc lộ nội tâm nhân vật. Ở lời văn
gián tiếp ý thức, ngữ điệu là của nhân vật. Hình thức lời kể này giúp nhà văn
vừa miêu tả nhân vật, vừa thể hiện ý thức nhân vật đối với bản thân trực tiếp
miêu tả thế giới bên trong của nhân vật với sự phân tích khách quan của tác
giả. Đọc những đoạn văn viết theo lời kể gián tiếp, người đọc thấy được tiếng
lòng thổn thức của nhân vật, nhân vật tự cảm mà không nói, người trần thuật
nói ra lời thầm kín ẩn sâu của nó. Chẳng hạn đoạn văn trong truyện Chút
thoáng Xuân Hương của Nguyễn Huy Thiệp: “ Tổng cóc uống chén rượu nữa.
Ông lấy cái tráp sơn đen đựng tiền dùng những ngón thô ráp lần từng đồng.
Ông chán ghê gớm. Trong cuộc đời mình ông vất vả nhiều, ông đã buôn một
bán mười, đã thu tô cấy rẽ đã toan tính từng nước cờ đời nhưng trong mình
vẫn cứ tê tái, cảm giác thua cuộc thế nào. Ông thấy trong đời toàn những
thằng ác, thằng hèn, nhưng lại khôn ranh như cáo. Ông sợ nhất bọn nho giả,
sợ đám chiêu ấm và bọn tập tọng văn chương. Ở trong cuộc đời chúng lấy lý
đạo dồn ông vào bẫy thiện tâm tín nghĩa, làm cho ông lơi cái sắc, cái lạnh vốn
có của ông. Đúng lúc mà ông do dự thì chúng phỗng sạch, đôi khi đã dăm ba
lần ông suýt trở nên trắng tay. Sợ thật, ông thấy gai người…”.
Lời văn nhại: là hình thức lời văn mà lời nói bằng giọng người khác có
đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn với khuynh hướng của lời


17

người đó. Ví dụ, trong Đôi mắt của Nam Cao có đoạn sử dụng lời văn nhại: “
Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ thứ. Toàn là những người ngu
độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả. Cha con anh em ruột cũng chẳng
tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng nhố
nhăng. Viết chữ Quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả

hình tự sự, việc phân biệt hai loại lời này đôi khi chỉ mang tính tương đối và
không thể quá rõ ràng.
Lời đối thoại: Tính đối thoại xuất hiện trong sự giao tiếp song phương
qua lại mà lời nói này là sự phản ứng lại lời nói khác theo trật tự thời gian
nhất định. Các yếu tố của tính đối thoại có mặt trong phần lớn mọi lời nói. Lời
nói con người theo quy luật giao tiếp trước hết là sự đáp lại đối với những lời
ai đó đã nói trước, và thứ hai, nó hướng tới một kẻ xác định (trực diện hoặc
không trực diện). Có thể nói trong mọi lời nói đều thể hiện ít hay nhiều thuộc
tính đối thoại. Lời đối thoại bộc lộ thuận lợi nhất khi hai bên đối thoại có sự
tiếp xúc phi quan phương và không công khai, không bị câu thúc, trong không
khí bình đẳng về mặt đạo đức của người đối thoại. Lời đối thoại thường kèm
theo các động tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn của nhiều người.
Tồn tại trong sự giao tiếp qua lại (thường là giữa hai phía trong đó sự chủ
động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từ phía này sang phía kia
(giữa những phía tham gia giao tiếp), mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi
phát ngôn có trước và là sự phản xạ lại phát ngôn ấy.
Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, đối thoại được hiểu là: thứ nhất:
là sự giao tiếp bằng lời giữa hai người (hoặc nhiều hơn) với nhau; thứ hai: là
một phần của văn bản ngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng là tái


19

tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật; thứ ba: là một thể loại văn học
châu Âu, nghiêng về nội dung chính luận triết lý, trong đó tư tưởng tác giả
được triển khai dưới dạng trò chuyện, tranh cãi giữa hai hoặc nhiều người. Có
lẽ cách hiểu thứ hai là phù hợp bởi đối thoại được nhìn nhận không chỉ đơn
giản từ góc độ ngôn ngữ là các phát ngôn giao tiếp qua lại giữa các chủ thể.
Trong văn học, đối thoại được hiểu như là một phương tiện khám phá nghệ
thuật thể hiện cuộc sống của nhà văn, nó mang chức năng thẩm mĩ.

giữa các nhân vật với nhau mà biểu hiện cụ thể với các kiểu thoại trực tiếp,
thoại dẫn theo lời kể của tác giả. Lời thoại của nhân vật là "hình thức kể
chuyện cá thể hóa triệt để tính cách và tình huống đối thoại”, và lời nhân vật
thường được nhìn từ một người kể chuyện bên ngoài ở ngôi 3. Ở loại hình tự
sự, lời thoại nhân vật mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó thể hiện khả năng
sáng tạo của nhà văn. Ở những nhà văn tài năng, nhiều khi không cần phải
miêu tả diện mạo, xuất thân thành phần xã hội mà chỉ nghe các lời nhân vật
đối đáp, người đọc cũng đã hình dung đầy đủ về nhân vật với những phẩm
chất đặc trưng của nó. Trong văn xuôi có hai dạng lời thoại căn bản là kiểu
đối thoại trực tiếp và thoại dẫn.
Lời thoại trực tiếp được xác định nhờ các dấu hiệu, về hình thức: mỗi
lời nhân vật được trình bày bằng cách xuống dòng và gạch đầu dòng. Về nội
dung, lời đối đáp là lời của nhân vật, không bị ngắt quãng bởi lời tác giả. Lời
tác giả chỉ có ý nghĩa dẫn dắt đưa đẩy, bình luận, giải thích chứ không dùng
thay lời nhân vật và dẫn dắt câu chuyện.
Thoại dẫn theo lời kể của tác giả: là đối thoại được tác giả lựa chọn,
dẫn dắt trong quá trình đối thoại giữa các nhân vật. Đây là điểm khác căn bản
của nó so với lời thoại trực tiếp. "Do sự ngắt quãng bởi lời người trần thuật,
người trần thuật thường xuyên xen vào bình luận giải thích nên chỉ khi nào lời


21

người trần thuật dẫn dắt sang một chủ điểm khác, thời gian thay đổi theo một
chiều nhất định, lúc ấy mới xác định được thoại dẫn”. Thoại dẫn theo lời kể
của tác giả, về đặc trưng hình thức giống thoại trực tiếp. Trong văn xuôi nhà
văn dùng lời thoại nhân vật xem như sự trích dẫn lời nói của mình. Tác giả
không nhất thiết lúc nào cũng phải dấu mình đi, một mặt để cho nhân vật nói
năng một cách tự do thoải mái, mặt khác tác giả lộ rõ thái độ chủ quan với
từng lời nhân vật thông qua lời thoại và lời xen kẽ trong đối thoại. Đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status