luận văn nghệ thuật xây dựng kết cấu và tổ chức trần thuật - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Có thể nói, nỗ lực đổi mới không ngừng là hướng đi chủ yếu của văn học
Việt Nam sau 1975 và đó chính là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo
nên tính đa dạng và phong phú của giai đoạn văn học này. Đặc biệt, đối với
các nhà văn “hậu đổi mới” (từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX đến nay),
vấn đề quan tâm lớn nhất “không còn là viết về cái gì mà viết như thế nào”.
Có thể thấy điều đó qua một loạt sáng tác của các tác giả tiêu biểu như:
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái,
….Cùng với những thay đổi về tình hình văn hoá - xã hội và xu thế cách tân
mạnh mẽ của văn học trong nước và thế giới, dòng văn học ngoài nước cũng
có những bước bứt phá, đổi mới về nhiều mặt. Trong số những cây bút tiêu
biểu ấy, Thuận là một gương mặt nổi bật với những trăn trở, thể nghiệm mới
trong sáng tác.
1.2. Cho dù không ít người tỏ ra hoài nghi về số phận của tiểu thuyết thì đến
nay, tiểu thuyết vẫn tiếp tục phát triển và thực sự vẫn là “thể loại cái”, đóng
vai trò quyết định đối với sự phát triển và quy mô của bất cứ một nền văn học
văn học nào. Một mặt, tiểu thuyết xâm thực vào các thể loại, mặt khác, dung
nạp vào nó ưu thế của nhiều thể loại để tạo nên “dưỡng chất” cho mình. Ngay
cả cây bút xuất sắc trong lĩnh vực truyện ngắn như Nguyễn Huy Thiệp cũng
từng khẳng định: thời nay là thời của tiểu thuyết! Với Thuận, sau một số
truyện ngắn, tiểu thuyết thực sự là “cuộc phiêu lưu nguy hiểm” nhằm đi tìm
và khẳng định những giá trị mới của chị.
1.3. Những nỗ lực của Thuận đã được ghi nhận bằng sự chào đón nồng nhiệt
của độc giả và Tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2005 cho cuốn
Paris, 11 tháng 8 (2005). Chính vì vậy, nghiên cứu những cách tân trong tiểu
thuyết của Thuận là một hướng đi triển vọng trong việc nhìn nhận, khám phá
tài năng của nhà văn cũng như những hướng cách tân của tiểu thuyết Việt
1
Nam sau đổi mới. Đây cũng chính là lựa chọn của chúng tôi trong quá trình
thực hiện luận văn này.

Thuận đã đi tìm “một bình diện mới của thế giới”, đặt những di dân nhỏ bé
trong các chiều kích thời gian: quá khứ - hiện tại - tương lai để thấy rõ hơn
thân phận của họ. Đặc biệt Thuận đã tạo “phong cách thơ trong tiểu thuyết”.
Phong cách ấy được tạo nên bởi “nhiều câu mang tiết tấu lạ, nhưng cách đổi
nhịp vô cùng linh động…”, “bằng cách nói song hành khi tương phản khi hô
ứng”, “bằng cách luôn lạc đề, mải cuốn theo cuộc chạy đua với chữ”…
2.1.3. Trong một số công trình nghiên cứu khoa học, chúng tôi thấy có
nhiều ý kiến phân tích về những cách tân trên nhiều phương diện trong tiểu
thuyết của Thuận. Luận văn Ý thức về nhịp điệu trong một số tiểu thuyết Việt
Nam thời đổi mới của Lê Thị Thanh Huyền đề cập đến tính nhịp điệu được ý
thức rõ rệt trong tiểu thuyết của Thuận, đặc biệt từ các phép lặp ở nhiều cấp độ.
Trong luận văn Những cách tân nghệ thuật theo hướng hiện đại của tiểu thuyết
Việt Nam thời kì đổi mới, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga cũng đề cập, phân
tích về những cách tân của Thuận ở phương diện nhân vật, tổ chức điểm nhìn
trần thuật và giọng điệu mang tính chất uymua đen. Nhịp điệu tiểu thuyết
Chinatown ở hai cấp độ cơ bản: lớp cấu trúc hình tượng và lớp cấu trúc hình
thức cũng đã được tìm hiểu trong báo cáo khoa học Nhịp điệu tự sự trong
Chinatown của Thuận của sinh viên Đỗ Thị Thoan (04/2006)
2.1.4. Những tiểu thuyết của Thuận đã gây sự chú ý đối với dư luận.
Điều đó thể hiện ở rất nhiều ý kiến đánh giá, phân tích phê bình, nhiều bài giới
thiệu sách, phỏng vấn được đăng trên các báo mạng hoặc website cá nhân:
- Ngôn ngữ Việt thừa tinh tế để sáng tạo [40]
- Phỏng vấn tác giả Made in vietnam [73]
- Khi nhà văn yên vị tức là lúc ngòi bút bất lực [51]
- Các bài phỏng vấn trên website Phongdiep.net [74]
3
- Với tôi mỗi tác phẩm như một chuyến đi xa. [32]
- Đôi nét về thi pháp và kết cấu của Chinatown [22]
- Thuận và Phố Tàu: dùng nghịch lí để kể những nghịch lí[23]
…………

3.2. Phạm vi
Luận văn chủ yếu khảo sát các tiểu thuyết của Thuận đã được xuất bản:
1. Made in Vietnam
2. Chinatown
3. Paris 11 tháng 8
4. T mất tích
Ngoài ra, người viết sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết,
truyện ngắn của một số nhà văn trong và ngoài nước để làm nổi rõ hơn những
đóng góp nghệ thuật của Thuận.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê
Để khái quát những cách tân của Thuận, chúng tôi sử dụng phương pháp
khảo sát thống kê nhằm làm cơ sở cho những khái quát khoa học của mình.
Trong luận văn, phương pháp này được vận dụng chủ yếu khi: thống kê tần số
xuất hiện của các kiểu loại nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận, khảo sát
thống kê tỉ lệ sử dụng câu (độ dài ngắn khác nhau), các phép lặp….
4.2. Phương pháp phân tích
Phương pháp này nhằm cụ thể hóa các phương diện cách tân trong tiểu
thuyết của Thuận dựa trên những nét khái quát mà phương pháp khảo sát
thống kê đã chỉ ra.
4.3. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp nhằm tìm ra những cách tân của tiểu thuyết đương
đại, những cách tân của tiểu thuyết Việt Nam (trong nước và ngoài nước) sau
5
1975 trên cả hai bình diện lý thuyết và thực tiễn, làm rõ những cách tân của
Thuận trong tiểu thuyết so với các nhà văn trước đó và cùng thời.
5. Đóng góp mới của luận văn
- Lần đầu tiên luận văn đặt vấn đề nghiên cứu cách tân trong tiểu thuyết
của Thuận một cách tương đối hệ thống và toàn diện.
- Người viết sẽ cố gắng sử dụng những tri thức về thi pháp học và tự sự

hứng, các phương thức nghệ thuật và qui luật vận động của văn học. Ở nửa
cuối thập kỉ 70, những năm liền ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, khuynh hướng sử thi vẫn được tiếp tục nhưng mờ nhạt
dần với những tiểu thuyết, kí sự, hồi kí về chiến tranh, tiêu biểu như: Họ cùng
thời với những ai (Thái Bá Lợi), Tháng Ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải),
Năm 75 họ đã sống như thế nào (Nguyễn Trí Huân), Đất trắng (Nguyễn
Trọng Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu)…
Tất nhiên bên cạnh việc tiếp tục mảng đề tài lịch sử, tái hiện, khai thác
“dữ liệu” từ cuộc kháng chiến chống Mĩ oanh liệt, văn xuôi sử thi sau 1975
7
cũng có những khác biệt nhất định so với trước. Nhà văn có tâm thế, điều kiện
để nhìn lại quá khứ, phân tích lí giải những chiến công rạng rỡ cũng như thấm
thía những mất mát đau thương - hệ quả tất yếu của chiến tranh mà trước đây
họ phải tạm quên đi hoặc né tránh. Một số cây bút cũng đã kịp thời phản ánh
những bộn bề sau cuộc chiến, có niềm vui, hạnh phúc, được đoàn tụ, được tự
do, được sống trong hòa bình, nhưng cũng có không ít những khó khăn, phức
tạp, thậm chí cả những mâu thuẫn xung đột trong cuộc sống ở một đất nước
mới hồi sinh, thống nhất (Những khoảng cách còn lại - Nguyễn Mạnh Tuấn,
Miền cháy - Nguyễn Minh Châu….). Bước vào những năm đầu thập kỉ 80,
tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và rơi
vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Văn học cũng chững lại, không ít
người lâm vào tình trang bối rối mất phương hướng trong sáng tác. Họ vẫn
chưa thoát khỏi quán tính của dòng chảy văn học thời trước, lúng túng trước
một hiện thực mới, không còn chiến tranh, không còn tiếng súng, không còn
máu đổ nhưng cũng không kém phần cam go, phức tạp muôn dạng hình, cùng
với những đòi hỏi mới của người đọc. Nhưng đây cũng là thời điểm “lửa thử
vàng” của những người cầm bút. Những tìm tòi, trăn trở, suy tư thầm lặng mà
mãnh liệt ở một số nhà văn có tấm lòng và ý thức trách nhiệm cao về nghề đã
góp phần mở ra cho văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng những hướng
tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái hiện thực đời thường với

Nguyễn Huy Thiệp lại phơi bày sự khủng hoảng của xã hội qua việc thay đổi
các giá trị và lối sống (Tướng về hưu, Không có vua….). Những góc khuất
lấp đáng sợ, tàn ác, lạnh lùng của con người, những mảng tối phơi bày nhức
nhối như một lời thức tỉnh. Tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện
thế sự - đời tư đã được mở ra ở nửa đầu những năm 80, nhiều cây bút đã đi
vào thể hiện những khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự
đan dệt nên cuộc sống đời thường phức tạp.
So với những tác phẩm văn học trước đây, văn học giai đoạn này mang
một nhiệt tình phê phán dữ dội hơn rất nhiều. Tuy vậy, cảm hứng phê phán có
9
lúc cũng đẩy tới cực đoan. lệch lạc, nhiều cây bút bộc lộ một cái nhìn ảm đạm,
hoài nghi.
Sự xuất hiện cảm hứng sự thật, quả thực là một tất yếu nhưng cũng là
điều tất yếu mà văn học phải vượt qua để tìm đến những chiều sâu mới.
Người đọc chờ nhà văn qua những vận động xã hội phức tạp đó đưa đến cho
họ những tổng kết nhân văn sâu sắc, lâu dài.
Từ cuối những năm 90 đến nay, trong xu thế ổn định của xã hội, văn
học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thường nhưng
vẫn kiên trì đi theo định hướng đổi mới đã hình thành từ những năm 80. Nếu
như trước đó, động lực thúc đẩy văn học đổi mới là nhu cầu đổi mới xã hội và
khát vọng dân chủ, thì khoảng mười năm trở lại đây, văn học quan tâm nhiều
hơn đến sự đổi mới của chính nó. Vấn đề đặt ra không còn là viết cái gì mà là
viết như thế nào, như có người đã nói: “sáng tạo nghệ thuật trước hết là sáng
tạo hình thức”. Sự đổi mới này thể hiện trên nhiều thể loại của văn học. Trong
thơ, những cách tân theo hướng hiện đại đã thu hút được nhiều cây bút thuộc
các thế hệ khác nhau: Lê Đạt (Bóng chữ), Trần Dần (Cổng tỉnh, Mùa sạch),
Dương Tường (36 bài tình), Nguyễn Quang Thiều (Sự mất ngủ của lửa)
….Gần đây một số cây bút trẻ đã can đảm dấn thân tìm tòi những thể nghiệm
mới từ hình thức đến nội dung, nhiều khi đầy táo bạo trong hướng đi sâu vào
những khát vọng thầm kín, mãnh liệt, thành thực phơi bày trên trang giấy

cuộc sống phức tạp và hỗn độn này.
2. Cách tân về cấu trúc
Tiểu thuyết truyền thống bám vào cốt truyện, tác phẩm là diễn biến của
một câu chuyện có mở đầu có kết thúc theo một trật tự thời gian tuyến tính.
Tiểu thuyết hiện đại là nỗ lực kể cái không thể kể, vì thế mà cấu trúc tiểu
thuyết là những mảnh vỡ rời rạc, nhiều khi không theo một quy luật nhân quả
nào, là sự lắp ghép những mảng đời, mảng truyện khác nhau, là sự cắt dán của
nhiều loại văn bản, là sự lạ hóa trong nghệ thuật trần thuật… Thoạt kì thủy
của Nguyễn Bình Phương có kết cấu đứt gãy, nhảy cóc liên tục đan xen giữa
11
vô thức và hữu thức, tô đậm cái bất lực của ngôn từ. Xu hướng lắp ghép liên
văn bản, xây dựng một cấu trúc mở trở nên phổ biến như một nỗ lực chối từ,
phá vỡ những rào cản truyền thống. Chinatown của Thuận là sự lồng ghép
tiểu thuyết trong tiểu thuyết. Chân dung cát của Inrasara lại là những mảnh
nhỏ cắt rời nhưng hòa vào nhau trong một gương mặt tinh thần Chăm đương
đại. Câu chuyện khi thì do nhân vật “tôi” (J’Man) kể, khi thì được cắt dán bởi
hồ sơ bệnh án, những đoạn trích sổ ghi chép, lịch làm việc hay một bài thơ
ngẫu hứng. Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo nên những
tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng
trường nhìn (Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, Người đi vắng của
Nguyễn Bình Phương, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Người sông Mê
của Châu Diên…). Cách phân chương đoạn trong nhiều tác phẩm không còn
đi theo nguyên tắc cân đối, hài hòa như trong tiểu thuyết truyền thống. Thiên
sứ có chương 2 trang và có chương 7 trang, lạ lùng hơn, trong Thiên thần sám
hối có chương 13 trang và có chương một dòng. Các đoạn phân cách cũng
cực đoan không kém: 13 trang và 2 dòng trong Thoạt kì thuỷ…Sự lạ hóa về
cấu trúc văn bản mang lại một hiệu quả mới trong tiếp nhận, làm thay đổi sự
tập trung hoặc phi tập trung của độc giả, tạo nhịp trần thuật linh hoạt, lúc
khoan lúc nhặt, lúc nhanh lúc chậm, lúc để nghĩ ngợi, chiêm nghiệm, lúc thì
vội vàng rượt đuổi những hình ảnh, ý tưởng khác …Có thể nói, những cách

thuật có sức khái quát và khả năng gợi nghĩa. Con cú trong Thoạt kì thủy của
Nguyễn Bình Phương phải chăng là hiện thân cho sự cảnh báo về những chết
chóc không lường trước được ở con người. Sự đa dạng về hình thức nhân vật,
có thể nói là một trong những chìa khóa giúp nhà văn mở cửa đi vào tìm hiểu
“ẩn mật của bản ngã” con người.
4. Ngôn ngữ gia tăng lượng thông tin và cá thể hóa cao độ
Nếu cái nhìn đậm chất sử thi ở giai đoạn 1945 – 1975 đã tìm tới một
thứ ngôn ngữ giàu chất thơ thì cảm hứng thế sự ở giai đoạn này đòi hỏi thứ
ngôn ngữ góc cạnh, nhiều sắc thái đời thường, suồng sã trong giọng điệu, cú
13
pháp linh hoạt mềm mại. Ngôn ngữ được “tiết kiệm”, “chăm sóc” để tăng
lượng thông tin và tính triết luận. Nó không chăm chú vào việc miêu tả sự vật
sự việc mà hướng tới sự suy tưởng, nghiền ngẫm. Các tiểu thuyết đương đại
đều có đặc điểm chung là dung lượng ngôn từ ngắn gọn, có độ giản lược cần
thiết, có sự gợi mở của suy tư và tưởng tượng (Thiên sứ của Phạm Thị Hoài,
Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Thời của những tiên tri giả của Nguyễn
Viện,…). Tính tốc độ của ngôn ngữ thể hiện rõ ở lối trần thuật nhanh, dồn
dập, chồng chéo, đan xen đồng hiện nhiều sự kiện, sự việc. Ngôn ngữ trong
tiểu thuyết không còn bị ràng buộc bởi tính chất sử thi của giai đoạn văn học
trước đó, vì thế mà gần gũi với đời sống thường nhật, tạo thành giọng điệu
suồng sã, giễu cợt, làm mất đi vẻ nghiêm trang, mực thước của tiểu thuyết
nhưng cũng vì thế mà trở nên phong phú, chân thực và sống động, thâu nạp
được nhiều dạng thức lời nói khác nhau của nhiều tầng lớp người trong xã
hội, thể hiện sự cá tính, cá thể hóa mạnh mẽ: cách nói trần trụi, dân dã của
người lính (Ăn mày dĩ vãng), cách nói lạnh lùng tỉnh táo của kẻ làm ăn (Cơ
hội của Chúa), cách nói nghiêm trang, mẫu mực nơi cung vua, phủ chúa
(Giàn thiêu, Hồ Quí Ly)….Cũng vì thế mà ngôn ngữ trong tiểu thuyết cũng
tăng cường tính đối thoại, không còn sự “áp chế” của ngôn ngữ tác giả.
1.1.2. Văn học ngoài nước - từ dòng văn chương hoài niệm đến những
bước chuyển mình hòa nhập

sắc với sự hiện diện của Mai Thảo và tạp chí Văn chủ trương: “Hợp nhập
trường kì vào đại thể quê hương. Vào vận nạn đất nước”. Sau này có tờ Làng
Văn, Văn Học….đã góp phần hỗ trợ đắc lực cho văn học ngoài nước. Nội
dung thơ văn thời kì này gắn với lớp nhà văn đã trải qua nhiều biến động cùng
với những đổi thay của lịch sử nước nhà, kí ức của họ mang nhiều đau thương
và thậm chí có cả những thù hận. Một loạt những cuốn hồi kí, bút kí và tiểu
thuyết lịch sử ra đời gắn liền với những tên tuổi tiêu biểu như Nguyễn Mộng
Giác, Cao Xuân Huy… Họ tạo ra một quê hương riêng, vẫn nặng trĩu những
ám ảnh quá khứ. Nhà văn Mai Thảo có viết: “Người ta không thể sống hoài
15
bằng trí nhớ. Hắn thừa hiểu vậy. Nhưng chân trời mới nhìn thấy nào cũng vẫn
từ một chân trời trí nhớ”[57]. Nguyễn Bá Trạc cũng đồng tình: “Thực ra bạn
chỉ là một người Việt Nam âu sầu, bước đi đâu cũng như bước lê trong dĩ
vãng”[68]. Còn Nguyễn mộng Giác “luôn luôn có nỗi khát khao được viết ghi
lại những kinh nghiệm của mình với tư cách là một chứng nhân lịch sử”[17].
Qua những hình ảnh khi tầm thường, khi dã man, bi tráng, khi trào lộng,
xót xa trong Mùa biển động, Nguyễn Mộng Giác đã vẽ được thực trạng miền
Nam sau ngày thống nhất đất nước, gợi lại những băn khoăn, đánh thức những
nghi vấn, truyền cho người đọc những nỗi hoang mang, khắc khoải. Nguyễn
Mộng Giác chừng như đã giải toả cái thế chân vạc của đất nước: trong chiến
tranh, thắng, bại, lừng khừng đều đưa đến thất bại. Sau chiến tranh, hoà bình
chỉ là một mặt trận khác: mặt trận của thanh toán, của ân oán giang hồ, và con
người chắc còn lâu lắm mới có thể khâu vá lại những vết thương, những đợt
sóng ngầm, những cơn bão nổi trong tâm hồn mưng mủ [75].
Ở giai đoạn này không chỉ có những đóng góp tích cực. Bộ mặt tiêu cực
của nó là vạch nên một thực tại đen tối về đất nước, thúc đẩy những phong
trào đối kháng, chống lại đất nước.
Như vậy có thể thấy trước 1990, dòng văn học ngoài nước mang diện
mạo của kí ức, hoài niệm, gắn liền với các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế và
văn hóa. Và đối với các nhà văn, viết là để giãi bày những nỗi niềm xa xứ, để

như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Hà, Mai Ninh, Thuận ,….tiêu biểu cho những
nỗ lực cách tân, mang đến sức sống mới cho văn học ngoài nước cũng như
văn học Việt Nam nói chung.
1.2. Hành trình nỗ lực cách tân tiểu thuyết của Thuận
Xuất hiện khi những đột phá về nhận thức xã hội, quan niệm văn
chương, sự đổi mới lối viết, các thể nghiệm hình thức trần thuật không còn
quá lạ lẫm ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có thể nói đó là một điều thuận
lợi nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn, đòi hỏi Thuận phải có những
bước đi mới không lặp lại những người đi trước và không lặp lại chính mình.
17
1.2.1. Những thuận lợi và thách thức của Thuận
Từng có thời gian sống ở Nga (học đại học) và hiện đang sống ở Pháp,
lại được nuôi dưỡng trong gia đình có truyền thống nghệ thuật, Thuận có
những thuận lợi trong sáng tạo nghệ thuật. Nhà văn Dương Tường nhận xét:
“Thuận có một bệ đỡ văn hóa tốt”, có sự trải nghiệm, cảm nhận, xâm nhập
vào nhiều nền văn hóa khác nhau, đó là thời bao cấp nặng nề, lạc hậu ở Việt
Nam, Liên Xô thời Đông Âu sụp đổ và nước Nga mới, cho đến Paris - giấc
mơ hồng của những di dân bé nhỏ ….Vốn sống ấy đủ tạo nên một thế giới đa
chiều thú vị và hấp dẫn trong tiểu thuyết của Thuận. Sự từng trải ấy khiến
Thuận có thể sắm nhiều vai trong các tác phẩm của mình: là người Việt gánh
chịu những hệ quả của thời bao cấp, là kẻ tha hương, là nhà văn…
Mặt khác gia đình cũng có một phần ảnh hưởng đến sáng tác của
Thuận. Là con dâu của vị “thủ lĩnh trong bóng tối” Trần Dần, người suốt đời
cống hiến miệt mài cho những sáng tạo thơ ca, Thuận luôn bị ám ảnh, kinh
ngạc “trước các tập hợp chữ vừa quen vừa lạ, những từ ngữ thô sơ được ông
tạo thành các con chữ sống động, các sinh linh” và luôn “ngưỡng mộ tinh
thần cách tân triệt để ở Trần Dần” [32]. Có thể nói đó là một phần không nhỏ
nguồn cảm hứng cũng như động lực thúc đẩy những nỗ lực làm mới mình,
đặc biệt là sự chú tâm đến ngôn từ tiểu thuyết cũng như tạo ra một thứ nhịp
điệu thơ cho tiểu thuyết trong các tác phẩm của Thuận.

Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà…) đã có nhiều thử nghiệm
trong sáng tác, từ cách đoạn tuyệt với lối viết tô hồng hiện thực, sử dụng ngôn
ngữ tự do, sống động, tăng cường tính giễu nhại, vận dụng các yếu tố huyền
ảo và tưởng tượng…Vấn đề chính đối với các nhà văn trẻ là làm sao tiếp tục
và tồn tại, rõ ràng không thể bằng cách đi theo những lối mòn đã có. Nhiều
cây bút trẻ táo bạo, mạnh dạn đi sâu khai thác những khát vọng bản năng của
con người. Nhưng để chuẩn bị cho một hành trình dài trong sáng tác và khẳng
định dấu ấn cá nhân, đòi hỏi một nỗ lực lớn của mỗi nhà văn. Đó cũng là
những trăn trở của Thuận.
19
Có thể nói, những tiền đề ấy, cộng với bối cảnh đổi mới mạnh mẽ của
văn chương thế giới cũng như trong nước là thuận lợi nhưng cũng là những
thử thách đối với nhà văn. Viết như thế nào để không lặp lại, để tạo ra những
cái mới….đó là những câu hỏi đặt ra cho cây bút trẻ này. Và không thể không
thừa nhận rằng chị đã có câu trả lời thuyết phục từ quan niệm đến thực tiễn
sáng tác của mình.
1.2.2. Quan niệm của Thuận về nghề và tiểu thuyết
1.2.2.1. Nhà văn - người sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới
Quan niệm của mỗi nhà văn về văn chương, về nghề nghiệp như là kim
chỉ nam định huớng cho sáng tác của họ. Những thành công hôm nay của
Thuận có thể được lí giải ngay từ trong suy nghĩ nghiêm túc và tinh thần nỗ
lực sáng tạo không ngừng của nhà văn. Thuận quan niệm rằng: “Nhà văn, với
tư cách là người nghệ sĩ, luôn tìm cách vượt ra các khuôn khổ thông thường.
Nhà văn có thể là nhà giáo dục, nhà tư tưởng, nhà triết học, nhưng trước hết
phải là một nghệ sĩ, tức là người tạo ra giá trị thẩm mĩ mới”.[1] Như vậy, cả
trước và trong khi cầm bút, Thuận đã xác định cho mình một mục đích rõ
ràng, tối thượng: đó là tạo ra những cái mới.
Rõ ràng, cái mới và không lặp lại mình là cái đích mà người nghệ sĩ
chân chính nào cũng muốn hướng tới. Tuy vậy, đó thực là một hành trình
không dễ dàng bởi có rất nhiều rào cản từ nền tảng văn hóa, sự tiếp thu những

Ý nghĩ đầu tiên là viết một cái gì đấy, chỉ để phục vụ nhu cầu tưởng tượng, nhu
cầu đi xa khỏi bản thân tôi, khỏi chuyện của tôi. Sau đó là tìm những lối viết
khác. Đến đây nhu cầu viết trở thành nhiệm vụ viết và hơn nữa là trách nhiệm
viết”[23]. Khác với rất nhiều nhà văn khác, Thuận suy nghĩ, trăn trở về công
việc của mình một cách tỉnh táo, đầy lí trí. Thuận cho rằng mình viết không thể
hồn nhiên mà phải “tính toán”: “Tính toán có khả năng dẫn đến lối thoát mới
chứ hồn nhiên thì có nhiều nguy cơ lạc vào các đường mòn” [23].
Văn chương tuy rộng, nhưng chật cứng nhân tài, cầm bút lên là thấy bao
nhiêu cái bóng sừng sững trước mặt. Vì thế mà phải suy ngẫm, phải học hỏi,
21
tìm tòi, đổi mới không ngừng. Nói như Nguyễn Hưng Quốc: “Đức tính lớn
nhất của người cầm bút chính là sự táo bạo. Không có sự táo bạo nào là không
cần thiết. Không táo bạo không thể sáng tạo. Trong lĩnh vực văn học, ngưòi
dám xông thẳng vào bụi rậm và gai góc để lần mò một lối đi riêng bao giờ cũng
có triển vọng đi xa hơn những kẻ khôn ngoan phóng mình theo những lối mòn
có sẵn. Ở đây người ta chỉ ghi nhận thành tích của những người trèo lên đỉnh
núi cao, dẫu trèo một cách chậm chạp, ì ạch, khổ sở, thậm chí có khi còn thất
bại” [48].Tinh thần cầu thị và duy lí trong quan niệm về nghề này, đã tạo nên
một gương mặt nổi bật, đầy ấn tượng, đầy cá tính: Thuận.
1.2.2.2 Tiểu thuyết là một chuyến phiêu lưu đầy nguy hiểm
Việc phá vỡ những rào cản truyền thống, rộng mở giới hạn của những
tìm tòi, cách tân đã khiến tiểu thuyết trở thành một thể loại mềm mại đầy sức
cuốn hút đối với các nhà văn trên hành trình khám phá những bí ẩn muôn
màu, phức tạp của đời sống hiện đại.
Trước khi đến với tiểu thuyết, Thuận cũng đã viết một vài truyện ngắn.
“Viết đối với tôi là một việc khó. Viết dài lại càng khó. Tiểu thuyết chỉ tính số
trang, đã là một thử thách. Chưa kể đến cấu trúc, văn phong, nhịp điệu, nhân
vật Truyện ngắn giống như một cuộc dạo chơi. Tôi có thể cho phép mình
dừng lại những khi cạn ý, khi đã mệt. Tiểu thuyết là một cuộc phiêu lưu nguy
hiểm. Nguy hiểm nhất là không biết đi về đâu "[32].

ảo thực lẫn lộn trong Chinatown, không một lời bình luận trong Paris 11
tháng 8, tính chất trinh thám khá rõ trong T mất tích, Thuận đã “luôn dành
cho người đọc những kẽ hở để ngờ vực, đi vào tác phẩm bằng con đường
riêng của mình, để hiểu còn rằng còn có nhiều cách hiểu khác” [13].
Thuận thường xuyên gieo vào lòng độc giả những câu hỏi, những hoài
nghi về thân phận con người, về mảnh đất hứa Paris hay nước Pháp,… Và
chính ở đó người ta thấy tính đối thoại trong tiểu thuyết của Thuận, một cuộc
đối thoại nhiều chiều, chưa hề có dấu hiệu kết thúc trong đời sống hiện nay.
23
Có thể thấy ngay trong quan niệm, Thuận đã tiếp thu, đã “bắt kịp” lý
luận về tiểu thuyết hiện đại. Trong tiểu luận xem xét về vấn đề cái mới trong
tiểu thuyết thế kỉ XX, Hoàng Ngọc Tuấn đã đề cập đến những rào cản khiến
cho tiểu thuyết truyền thống chậm được cách tân.Tiểu thuyết truyền thống
mang tính cách hiện thực, chủ yếu nhắm vào việc thuật tả đầy đủ và trung
thực những kinh nghiệm trong đời sống con người. Nó thường bị lệ thuộc vào
cốt truyện và mục đích thuyết phục người đọc ở các diễn biến sự kiện, thu hút
họ vào cái được kể. Nhà văn là thường là “người kể chuyện toàn tri”. Trong
khi đó đời sống hiện đại có nhiều sự thực cực kì phong phú nhưng không có
diễn trình của một cốt truyện, không thể kể được cũng như chứa đựng rất
nhiều bất trắc, bất ngờ và con người thì không giản đơn trong một vài khuôn
mẫu, một vài kiểu phát triển tính cách có sẵn. Như thế nghĩa là khi sáng tác
nhà văn phải thực hiện một chuyến phiêu lưu, không biết, không thuộc lòng,
định trước cái đích sẽ đến.
Tính phiêu lưu được Thuận nhắc đi nhắc lại khá nhiều trong những lời
phát biểu của mình cũng là biểu hiện của tính trò chơi trong quan niệm tiểu
thuyết hiện đại. M. Kundera khi bàn về nghệ thuật tiểu thuyết đã có một ý rất
độc đáo: ở bên ngoài tiểu thuyết người ta sống trong thế giới của những điều
khẳng định. Mọi người đều tin chắc ở lời nói của mình. Trong lãnh địa tiểu
thuyết người ta không khẳng định bởi đây là lãnh địa của “trò chơi” và những
giả thuyết [30]. Một trong những tiếng gọi thôi thúc sự phiêu lưu của tiểu

Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặc biệt là từ sau 1990 ngoài sự gia tăng
mạnh mẽ các yếu tố huyền thoại, trào lộng, xu hướng ngắn gọn, dồn nén,…
cuộc thể nghiệm ở các tiểu thuyết còn triển khai từ quan niệm về tính trò chơi
của văn chương. Theo Nguyễn Thị Bình, tính trò chơi thể hiện trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại ở những đặc điểm sau: tạo ra một hiện thực không
25

Trích đoạn Kết cấu lồng ghép Kết cấu ma trận trong “Made in vietnam” Tổ chức điểm nhìn Giọng khách quan, trung tính Giọng bi hà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status