MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................................2
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ........................................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................6
5. Dự kiến đóng góp mới .........................................................................................6
6. Kết cấu của luận văn ...........................................................................................6
Chương 1:KHÁI LƯỢC VỀ NHÂN VẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA HỒ ANH THÁI ...................................................................................................... 8
1.1. Khái lược về nhân vật .......................................................................................8
1.1.1.Nhân vật văn học .........................................................................................8
1.1.2. Nhân vật trong thể loại tiểu thuyết ...........................................................11
1.2 Hành trình sáng tác của Hồ Anh Thái..............................................................13
1.2.1. Cuộc đời ...................................................................................................13
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác ...................................................................................14
1.2.3. Quan niệm sáng tác của nhà văn Hồ Anh Thái .......................................18
Chương 2: CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT HỒ
ANH THÁI........................................................................................................................ 25
2.1. Nhân vật bản năng, tự nhiên. ..........................................................................25
2.2. Nhân vật trống rỗng, lạc loài...........................................................................32
2.3. Nhân vật tha hóa. ............................................................................................37
2.4. Nhân vật hướng thiện. .....................................................................................45
Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT .......................................... 56
3.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và tên gọi của nhân vật ..............57
3.1.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình .............................................57
3.1.2. Xây dựng nhân vật qua cách gọi tên ........................................................59
3.2. Xây dựng nhân vật qua hành động .................................................................65
3.3. Xây dựng nhân vật qua biểu hiện nội tâm ......................................................71
3.4. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật ....................................................73
Việt Nam vẫn chưa qua khỏi sự ám ảnh và nỗi buồn của chiến tranh
Hồ Anh Thái là một trong số không nhiều những cây bút xuất hiện sớm
và để lại dấu ấn trong văn xuôi đương đại Việt Nam. Tác phẩm của ông tái
hiện nhiều kiếp người, cảnh người trong nhiều thời điểm, nhiều tình huống để
qua đó nói lên cảm nhận về nhân sinh. Hơn nữa, tác phẩm của Hồ Anh Thái
2
thường đề xuất thể nghiệm những nhận thức mới về xã hội, những cách nhìn
mới về nghệ thuật nhằm tạo sự phù hợp, hiệu quả trong việc thể hiện con
người theo cảm quan của mình. Với gần 30 năm cầm bút, ông đã cho xuất bản
hơn 20 tập truyện ngắn và tiểu thuyết. Hồ Anh Thái đã từng đạt giải thưởng
văn xuôi 1983 – 1984 của báo Văn nghệ với truyện ngắn Chàng trai ở bến
đợi xe, nhận giải văn xuôi 1986 – 1990 của Hội nhà văn Việt Nam với tiểu
thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng. Nhiều cuốn sách của ông đã được
chọn dịch, giới thiệu ở nước ngoài và tạo được dư luận tốt.
Chọn đề tài : Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái- một
tác giả ngày càng được dư luận chú ý nhưng chưa được đánh giá toàn diện,
chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một cái nhìn mới mẻ về thế giới nhân vật
phong phú và đa dạng của tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Mặt khác, qua thế giới
nhân vật chúng ta sẽ tìm hiểu được những tìm tòi cách tân nghệ thuật của
cây bút này để thấy sự phù hợp với dòng chảy của những cách tân trong văn
xuôi Việt Nam hiện nay.
Việc thực hiện đề tài còn là dịp cho chúng tôi bước đầu làm quen, tập
nghiên cứu độc lập một vấn đề văn học, từ đó giúp chúng tôi nâng cao kiến
thức cũng như kinh nghiệm cho việc học tập và nghiên cứu sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Hồ Anh Thái là nhà văn ngày càng có nhiều công chúng, các tác phẩm
của ông ngày càng gây được nhiều sự chú ý của dư luận và bạn đọc.
Nhà văn Lê Minh Khuê có nhận xét về tác phẩm Người và xe chạy dưới
ánh trăng Hồ Anh Thái viết từ 1986: “Có lẽ ngay từ ngày ấy, tác giả này đã ý thức
rằng tác phẩm văn học muốn hòa nhập được với dòng văn học chảy ào ạt ngoài kia
của thế giới thì đừng có quá lệ thuộc vào hiện thực giản đơn” [17]
Nhà văn lớn Ma Văn Kháng như thốt lên khi nhận xét về tiểu thuyết Hồ
Anh Thái: “Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế vừa có tính đại
chúng, gần gũi vừa uyên bác, trí tuệ. Dễ ai đã làm được điều này!”[20, tr.3]
4
Bản thân tác giả cũng từng nói về thế giới nhân vật của mình: “Các
nhân vật của tôi không có người hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu. Ngay cả
khi giễu nhại thì tôi cũng thấy trong đối tượng có cả hình bóng của chính
mình và người thân của mình. Không thể có chuyện vô can theo kiểu: "Chắc
là nó trừ mình ra!". Một số độc giả phản ứng có lẽ vì họ chỉ thấy tôi phê phán
người đời mà không đọc ra được cái chất tự giễu nhại của chính tôi. Dù sao
đi nữa, nếu để cho độc giả hiểu nhầm thì lỗi đầu tiên vẫn là của tác giả” [26]
Hồ Anh Thái khẳng định rằng: “Tôi không đặt văn chương vào tháp
ngà mà để nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội” [26]. Thiết
nghĩ đây cũng là quan niệm của bất cứ nhà văn nào được xem là “cấp tiến” về
mặt tư tưởng. Nó mở đường cho những khám phá về hiện thực mang màu sắc
nhân văn của tác giả.
Không dừng lại ở đó những sáng tác của Hồ Anh Thái cũng đã thực sự
thu hút và tạo được ấn tượng trong lòng các tác giả nước ngoài qua những
nhận xét chủ yếu tập trung chỉ ra cái nhìn dũng cảm của nhà văn về “hiện thực
khi thế giới thảm hại đi qua chiến tranh và sử dụng thay đổi văn hóa, cùng
với văn phong vừa hài hòa vừa sâu sắc của tác giả” [5]
Tiến sĩ văn học Ấn Độ K.Pandey đã từng nhận xét truyện ngắn viết về
Ấn Độ của Hồ Anh Thái trên báo The Hindustan là: “Những dòng chữ của Hồ
Thái nhằm làm nổi bật những thành công của nhà văn Hồ Anh Thái trong
việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết. Từ đó, chúng tôi muốn khẳng định tài
năng, phong cách và những đóng góp của Hồ Anh Thái đối với nền tiểu
thuyết Việt Nam đương đại.
Đối với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là: Thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
Để thực hiện và hoàn thành đề tài này, chúng tôi xác định phạm vi
nghiên cứu là những tiểu thuyết: Mười lẻ một đêm, Đức phật, nàng Savitri
6
và tôi, SBC là Săn bắt chuột, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh
Thái.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, căn cứ vào nội dung, yêu cầu của đề tài chúng
tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê:
Thống kê các tác phẩm của Hồ Anh Thái, cũng như những tác phẩm của
các tác giả khác trong văn xuôi Việt Nam sau 1975,các công trình nghiên cứu
đi trước và nhiêu đánh giá, nhận xét. Trên cơ sở đó để ta có một cái nhìn
khách quan, tổng thể hơn về vấn đề.
Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Cùng với việc thống kê cần phải có một óc phân tích, tổng hợp một cách
logic, hợp lý. Vừa tổng hợp vừa đưa ra những dẫn chứng để phân tích, mổ xẻ
vấn đề.
Phương pháp so sánh, đối chiếu:
Nhằm phân biệt sự giống và khác nhau trong phong cách sáng tác nói
chung và quan niệm về nhân vật qua các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, đồng
thời so sánh với các nhà văn khác.
"Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm
văn học, chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm” [25,tr.277]
“ Nhân vật văn học là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, là
tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các
yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa. Nhân vật do
đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm văn học”
[1,tr165]
.
“Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước
lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người
mà chỉ thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề
nghiệp, tính cách v.v…” [8, tr.126]
Nói cách khác, nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người,
có ý nghĩa con người. Nhân vật là con đẻ của nhà văn, là sản phẩm của của tư
duy nghệ thuật, sự sáng tạo của nhà văn, nhằm thể hiện một tư tưởng cụ thể.
1.1.1.2.Đặc điểm nhân vật văn học
Nhân vật văn học có thể là những con người giống như thật hoặc có
nguyên mẫu ở ngoài đời như Mẹ La, ông Dâng, cụ Cam, mẹ Nghĩa, Đơ
Vanhxi, ThySan, Giáng Hương trong Cửa biển của Nguyên Hồng; là Quang
Trung – Nguyễn Huệ trong Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô gia văn
phái; là chị Dậu, Nghị Quế ... trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố ...
9
Nhân vật văn học còn có thể là các sự vật, hiện tượng như biển trong
bài thơ Biển của Xuân Diệu; sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, trăng
trong thơ Hàn Mạc Tử ...
cương quyết (Quan Công), anh hùng chính trực (Lưu Bị), con người gian
giảo, mưu kế (Tào Tháo) ...
Nhân vật là hình thức nghệ thuật ước lệ để qua đó văn học miêu tả thế
giới một cách hình tượng. Vì thế, ta không nên đồng nhất nhân vật văn học
với con người thật ngoài đời, cũng không nên đồng nhất nó với nguyên mẫu,
mà chỉ coi nhân vật trong văn học như là một yếu tố hình thức mang tính nội
dung: đó là những ước lệ nghệ thuật có những quy ước chung và sáng tạo
riêng của tác giả. Chính điều này tạo nên sự đa dạng của nhân vật trong văn
học.
1.1.1.3. Vị trí, ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật là hình thức hạt nhân của tác phẩm nghệ thuật. Nó là yếu tố
không thể thiếu trong tác phẩm văn học. Nhân vật là căn cứ rõ nhất để ta nắm
bắt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn cũng như điều người nghệ sỹ muốn gửi
gắm tới độc giả. Thông qua thế giới hình tượng trong tác phẩm, cụ thể là
thông qua thế giới nhân vật, ta có thể dễ dàng tiếp cận nội dung ý nghĩa của
một tác phẩm văn học.
Nhân vật là phương tiện khái quát hiện thực, "chức năng của nhân vật
là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu
biết, ước ao, kỳ vọng về con người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện
những cá nhân nhất định và quan niệm về các nhân vật đó" [8,tr.278].Thông
qua các nhân vật, nhà văn có thể khái quát các tính cách, số phận con người
và các quan niệm về chúng. Chức năng khái quát của nhân vật cũng mang
tính lịch sử. Tức là, mỗi nhân vật thường mang ý nghĩa tiêu biểu cho một thời
đại nhất định. Ví dụ những nhân vật Kiều, Đạm Tiên trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du là hiện thân cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ dưới thời phong
11
kiến - những số phận "tài hoa mà bạc mệnh"; nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn
quan hệ để làm bộc lộ tính cách. Hay nói cách khác, tính cách có quan hệ với
hoàn cảnh. Tính cách nhân vật tiểu thuyết có sự phát triển tự thân như trong
cuộc đời thật. Tính cách là mấu chốt đối với nhân vật tiểu thuyết. Trong tiểu
thuyết thường xây dựng được rất nhiều những nhân vật tính cách sắc nét như:
tính cách gian hùng của Tào Tháo, tính cách nóng nảy của Quan Công, tính
cách mềm mỏng và nhu nhược của Lưu Bị…
Thứ hai, khác với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện
Trung cổ… (là những con người hành động), nhân vật tiểu thuyết là những
con người nếm trải, tư duy, chịu nhiều đau khổ dằn vặt của đời. Nhân vật tiểu
thuyết được đặt trong những hoàn cảnh cụ thể và được miêu tả như một con
người đang trưởng thành, biến đổi và do đời dạy bảo. Nhân vật phải đi qua
nhiều hoàn cảnh, nhiều quan hệ và đặc biệt không chỉ tích hợp về lượng mà
phải thay đổi về chất và nó phải khác biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác
và trong chính nhân vật. Tức là, nhân vật luôn có sự phát triển tạo nên những
tính cách đa dạng, sống động, lôi cuốn người đọc. Ví dụ, các nhân vật trong
tiểu thuyết của Nguyên Hồng là như thế: các nhân vật luôn phải đối mặt và
trải qua nhiều hoàn cảnh, quá trình để hoàn thiện nhân cách.
Thứ ba, nhân vật tiểu thuyết là những con người có ý thức về sự sống
của mình, có thể tích cực, chủ động cũng có thể thụ động, trì trệ. Bản chất
của nhân vật khi tích cực là không bao giờ bằng lòng với bản thân, là những
con người tự ý thức, luôn tiến lên, thay đổi. Nhân vật Đôn-ki-hô-tê trong tiểu
thuyết cùng tên của nhà văn Xéc-van-tét là nhân vật tiêu biểu số một cho loại
nhân vật này. Còn khi trì trệ, thụ động thì nhân vật như những con người thừa,
ê trề như Pliuskin trong Những linh hồn chết của Gôgôn, Cố Hồng trong Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng.
13
Thứ tư, do tiểu thuyết là thể loại nhìn đời sống từ góc độ đời tư, cho nên
những năm gần đây. Ông sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội, quê
gốc ở Nghệ An, tuổi nhỏ sống cùng gia đình tại Nam Định. Tốt nghiệp phổ
thông năm 1977 rồi học Đại học Ngoại giao và nhận được bằng cử nhân năm
1983. Trong khi làm việc ở Bộ Ngoại giao, Hồ Anh Thái được cử đi làm
nghiên cứu sinh ở Ấn Độ. Tại xứ sở được ví là Thiên đường của các thần linh
ấy, ông đã học hỏi và rất nhanh chóng thông thạo tiếng Hinđi. Nhờ vậy, ông
đã có thể đi khắp Ấn Độ, vào các chùa chiền để nghiên cứu văn hóa và tôn
giáo, đồng thời khám phá những bí ẩn sâu kín của đất nước rộng lớn này. Sau
khi nhận bằng tiến sĩ Đông phương học, ông được giữ lại làm ở đại sứ của
Việt Nam tại Ấn Độ. Với cương vị mới, ông lại có thêm điều kiện thâm nhập
đời sống văn hóa tinh thần phong phú của người Ấn Độ. Hồ Anh Thái còn đi
xa hơn nữa tới cả những miền đất nơi Phật giáo Ấn Đô lan tỏa tới. Những trải
nghiệm và hấp thu một cách tự nhiên đời sống tâm linh, văn hóa tinh thần
phong phú ở Ấn Độ đã tạo ra cái chất “thiền” đặc sắc trong các sáng tác của
nhà văn. Từ Ấn Độ trở về, ông vẫn là một công chức ngoại giao, nhưng ông
nói công việc thực sự của mình là viết văn.
Không chỉ nhiều năm học tập và công tác ở Ấn Độ mà Tây Tạng cũng
là nơi đem lại nhiều kinh nghiệm, kiến thức quí báu cho Hồ Anh Thái và hiện
ông đang đảm trách chức vụ tham tán, phó Đại sứ nước Việt Nam tại Cộng
hòa Hồi giáo Iran. Là tiến sĩ ngành văn hóa Phương Đông; từng là chủ tịch
Hội Nhà văn Hà Nội, ủy viên Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác
Mặc dù công tác đối ngoại chiếm khá nhiều thời gian và trí lực, nhưng
Hồ Anh Thái vẫn luôn dành tâm huyết cho văn chương. Từ tác phẩm đầu tay
viết năm tác giả 18 tuổi, đến nay ông đã có trên 30 đầu sách – bình quân mỗi
năm 1 cuốn, trong đó có nhiều cuốn đã được dịch ra tiếng nước ngoài (Anh,
15
đớn chống lại những ham muốn nhục dục thường tình, hoặc là nhẫn nhục thèm khát
có một chút con làm nơi nương tựa lúc cuối đời. Dù là nhà văn rất trẻ, nhưng ông đã
đặt vấn đề về tình dục, về bản năng con người và nhu cầu làm tròn thiên chức người
phụ nữ. Đặc biệt, đề tài của tiểu thuyết thực sự táo bạo, là cái giá mà những nữ cựu
chiến binh phải trả trong cuộc chiến tranh chống Mỹ thật ghê gớm. Năm 1986, Hồ
Anh Thái lại xuất bản tiểu thuyết Vẫn chưa tới mùa đông. Và năm này ông cũng
viết xong tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng. Sức viết của ông thật dồi
dào, rất hiếm thấy trong số các nhà văn Việt Nam thời ấy và cả hiện nay. Bây giờ
nhìn nhận lại hiện tượng Hồ Anh Thái, chúng tôi thấy, ngay từ khi bắt đầu sáng tác,
ông đã thể hiện tính chuyên nghiệp trong việc viết văn.
Năm 1987, tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng được xuất bản.
Trong những truyện ngắn đầu tay, Hồ Anh Thái viết về đời sống tinh thần của
những thanh niên, sinh viên cùng trang lứa với những khao khát về cái đẹp,
vươn tới cái lương thiện. Nhưng rồi càng đi càng phải giữ mình trong sạch,
mà đời cứ luôn muốn nhấn người ta vào sắc dục, vào những chỗ không được
lương thiện lắm. Cuộc sống xã hội thời gian đó có những xô dập ghê gớm.
Các nhân vật trong tiểu thuyết đều còn trẻ, Toàn, Hiệp, Trang, Minh... mỗi
người một số phận, bị cuộc sống xô dạt về những nẻo khác nhau và họ phải
vật lộn với số phận trên con đường của đời mình. Với Người và xe chạy dưới
ánh trăng, Hồ Anh Thái đã khẳng định được một vị trí trong đời sống văn
chương Việt Nam. Năm 1989, ông lại viết tiểu thuyết Trong sương hồng
hiện ra, Hồ Anh Thái kể lại những câu chuyện chiến tranh nhằm đặt ra những
vấn đề bức thiết của cuộc sống những năm tám mươi, thế kỷ XX.
Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiều
nước Âu – Mỹ, đặc biệt là 6 năm tại Ấn Độ, ông trở lại trên văn đàn với
những chùm truyện ngắn độc đáo, hài hước mà thâm trầm về Ấn Độ: Người
17
Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987)
·
Người đàn bà trên đảo (1988)
·
Những cuộc kiếm tìm (1988)
·
Mai phục trong đêm hè (1989)
·
Trong sương hồng hiện ra (1990)
·
Mảnh vỡ của đàn ông (1993)
·
Người đứng một chân (1995)
·
Lũ con hoang (1995)
·
Namaskar! Xin chào Ấn Độ (2008)
·
Hướng nào Hà Nội cũng sông (2009)
·
SBC là săn bắt chuột (2010)
1.2.3. Quan niệm sáng tác của nhà văn Hồ Anh Thái
Trong sáng tạo nghệ thuật, cách nhìn cuộc đời của nhà văn đóng vai trò
rất quan trọng. Cách nhìn thể hiện cách cảm thụ, tư duy, quan niệm về thế
giới con người của nhà văn. Cách nhìn nghệ thuật luôn cố gắng nắm bắt phần
cốt lõi, bản chất của hiện thực. Từ đó hướng tới việc khai thác, khám phá bản
chất thẩm mỹ của đời sống, phát hiện ra những cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái
hài… và thể hiện chúng bằng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm, sống
động.
Cách nhìn nghệ thuật được coi là một hiện tượng khách quan, nó là
một thể thống nhất giữa hai mặt, cái được nhìn thấy và cách nhìn, cách cảm
thụ, lý giải của chủ thể sáng tạo hiện thực được phản ánh. Mỗi nhà văn có một
cách nhìn riêng về cuộc đời và con người. Chính cách nhìn đó đã tạo nên
phong cách của nhà văn. Nó không chỉ thể hiện lập trường đối với cuộc sống
mà hơn nữa là thể hiện sự hiểu biết và tình cảm đối với con người và cuộc
đời. Cách nhìn chi phối cảm hứng sáng tác và thể hiện cá tính sáng tạo độc
đáo của nhà văn.
20
thực sự coi viết là một nghề. Giấc mơ dài này hiển thị bằng mấy cuốn tiểu
thuyết gây được sự chú ý trên văn đàn, đặc biệt là Cõi người rung chuông
tận thế.
Đã có người so sánh rằng: cuốn tiểu thuyết này mới đến mức giống hệt
sự ở lì của thằng-bé- bào-thai trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối của Tạ
Duy Anh, đến tháng đến ngày vẫn không muốn chào đời, vì nghe thấy cuộc
đời thật lắm phiền phức, sách nhiễu, phức tạp..., thà nằm im trong bụng mẹ,
sướng hơn. Song thực ra, Cõi người rung chuông tận thế, do một lối viết
mới khiến biên tập viên không dễ ứng xử, đã bị nằm yên trong cõi mê riêng
của tác giả lâu đến mức ngoài ý muốn, sáu năm trời. Nó đã lênh đênh qua
dăm sáu nhà xuất bản, và chỉ nhờ duyên may mới được chào đời ở NXB Đà
Nẵng, tận miền Trung xa ngái. Có lẽ vì nó gây hấn người đọc quá chừng, bởi
cách viết “đa thanh” trong giọng kể nhiều biến điệu của chủ thể tiểu thuyết
Hồ Anh Thái, lại được dồn nén trong chưa đầy 300 trang, nhưng lại khiến
người đọc phải ngẫm nghĩ rất lâu sau đó về cõi người ta. Chẳng phải ngẫu
nhiên mà cuốn tiểu thuyết này liên tiếp được tái bản và gây ra được những
tranh luận nhiều chiều từ người đọc.
Thực ra, cái viết trong mấy chục năm cầm bút của Hồ Anh Thái, nhìn từ
cái đọc của người đọc tiểu thuyết, có thể nói, đã được tạo lập, không chỉ một
giấc mơ dài, mà là một chuỗi giấc mơ tiểu thuyết, với mỗi tác phẩm ra đời là
một-giấc-mộng-con độc đáo.
Điều đó chứng tỏ, quan niệm viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã được
kiến trúc trên sự tự ý thức triết học về cái viết, đồng thời với quá trình vận
động nhằm đổi mới tư duy, giọng điệu và cách ứng xử với tiếng Việt. Với Hồ
Anh Thái, viết văn là một nghề hẳn hoi, chứ không phải thứ lao động tài tử,
nghiệp dư, như khá nhiều người lầm tưởng. Hồ Anh Thái từng so sánh, khi
khát vọng cá nhân được đề cao. Con người cá nhân ở đây không phải là con
người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, mà là những số phận nằm
trong mối quan hệ với xã hội. Đằng sau mỗi con người, mỗi thân phận đó
24
luôn là những vấn đề có ý nghĩa thời đại. Vấn đề số phận cá nhân đã khơi
nguồn cho một cảm hứng nhân văn mới mẻ.
Hồ Anh Thái đã có một cái nhìn mới, rất riêng và cảm hứng nhân văn ở
ông thấm đẫm cái nhìn yêu thương đối với con người. Chính những giá trị
nhân văn, nhân bản đời thường đã tạo nên chất men say, khơi nguồn cho cảm
hứng sáng tác của ông. Các sáng tác thời kì đầu của Hồ Anh Thái là sự khúc
xạ từ chính môi trường cuộc sống học sinh, sinh viên của ông. Trong đó
người đọc bắt gặp những cảm xúc ngại ngùng, e ấp, rụt rè nhưng rất chân
thành của tình yêu đầu đời (Những cuộc kiếm tìm, Chàng trai ở bến đợi xe,
Người và xe chạy dưới ánh trăng, Trong sương hồng hiện ra…), những trăn
trở băn khoăn và sự ân hận, hối lỗi của những tâm hồn mới lớn, đã xác định
cho mình con đường đúng đắn( Nằm ngủ trên ghế băng, Chàng trai ở bến
đợi xe…). Người đọc còn bắt gặp những tình cảm yêu thương cảm thông với
bạn bè với người thân và mọi người xung quanh (Cánh võng không người,
Mảnh vỡ của đàn ông…). Và cả nỗi xót xa thương cảm cho nhưng đứa trẻ bị
bỏ rơi giữa cuộc đời (Lũ con hoang).
Ông coi “tiểu thuyết như là một giấc mơ ẩn chứa những điều không có
thực ở ngoài xã hội. Thực chất tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt nhưng
nó còn thật hơn cả sự thực" [26].Với số lượng tác phẩm tương đối, Hồ Anh
Thái đã chứng tỏ là người nắm bắt rất tinh tế nhịp sống thời đại cả trên bề nổi
cũng như chiều sâu mạch ngầm. Tác phẩm của ông đã tái hiện nhiều kiếp
người, cảnh người ở nhiều thời điểm khác nhau, qua đó thể hiện những cảm
nhận sâu sắc của mình về nhân sinh. Với những quan niệm trên, Hồ Anh Thái