thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của khái hưng - Pdf 30

1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN TRẦN THÚY NGÂN
MSSV: 6106409

THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA KHÁI HƯNG

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS. NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

C

n T
hơ, năm 2013


đình phong kiến
2.3.2. Nhân vật có lí tưởng phục vụ xã hội, cải cách nông thôn
2.4. Nhân vật có lối sống buông thả, tự do phóng túng, hưởng lạc
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU
THUYẾT KHÁI HƯNG

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua các chi tiết nghệ thuật
3.1.1. Miêu tả nhân vật qua ngoại hình:
3.1.2. Miêu tả nhân vật qua biểu hiện nội tâm
3.1.3. Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật
3.1.4. Miêu tả nhân vật qua hành động
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thế đối lập
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC

4

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Vào những năm đầu của thế kỉ XX, với sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây,
nền văn học nước nhà đã có nhiều chuyển biến và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Nếu như ở thể loại trữ tình, sự ra đời của phong trào Thơ mới đã mở ra “một thời đại

quyết định đối với việc đánh giá chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Các nhân vật trong
tổng thể tạo thành hệ thống của chúng là một mặt của hình thức nghệ thuật văn học,
gắn liền với nội dung bằng những mối liên hệ khắng khít nhất. Vì vậy khi thuyết minh
tư tưởng của tác phẩm tự sự, trước hết chúng ta cần phải hiểu chức năng của hệ thống
nhân vật và nội dung ý nghĩa của nó. Có thể nói không thể hiểu tư tưởng của nhà văn
nếu không hiểu về thế giới nhân vật mà nhà văn đã xây dựng nên.
Xuất phát từ những lí do trên, người viết chọn đề tài nghiên cứu về “Thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng”. Đây là hướng nghiên cứu cần thiết, có thể
bổ sung những tìm tòi mới, đóng góp mới về tiểu thuyết của nhà văn trong khả năng
hiểu biết của người viết. Qua đó, cũng giúp người viết có thể tìm hiểu một cách hệ
thống khi đi sâu khám phá những đổi mới về nội dung tư tưởng trong toàn bộ tiểu
thuyết của Khái Hưng. Đồng thời, giúp người viết nhận thấy được sự cách tân và phát
triển về nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn này. Từ đó có thể thấy được những
đóng góp đáng kể của ông trong việc mở đường cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
phát triển và hoàn thiện.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khái Hưng là một trong những cây bút tiêu biểu của nhóm Tự lực văn đoàn,
đồng thời cũng là một trong những nhà văn có công trong việc cách tân nền văn học
Việt Nam trong thế kỉ XX trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Chính vì sự
đổi mới tư duy nghệ thuật mà tác phẩm của nhà văn đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm
hiểu, phê bình, đánh giá. Theo thống kê, có rất nhiều bài nghiên cứu hay bài viết nói
về cuộc đời Khái Hưng, trong đó có cả những bài viết về nội dung và nghệ thuật.
Trong quyển Nhà văn hiện đại, khi viết về Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan cũng
phân tích một số nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm của nhà văn, trong đó có tiểu
thuyết, nhưng chủ yếu là để làm cơ sở đánh giá về những mặt tích cực và hạn chế trên
bình diện nội dung tư tưởng của tác phẩm. Đồng thời qua đó, nhà phê bình nhận định:
“cái đặc sắc mà người ta thường thấy trong các văn phẩm của Khái hưng là sự nhận
xét rất đúng về tâm hồn nam nữ thanh niên Việt Nam” [15; tr.301]. Khái Hưng là nhà
văn hiểu rõ tâm lí con người rất tinh tế, nội tâm nhân vật trong sáng tác của nhà văn
6

áp lực trước dư luận xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá Khái Hưng ở nhiều góc
độ khác nhau. Thậm chí giữa hai miền Nam – Bắc cũng có những quan niệm lệch
nhau. Những năm 1945 – 1975, do điều kiện đất nước đang trong thời kì chiến tranh,
7

công việc nghiên cứu văn học tạm lắng xuống để nhường chỗ cho hoạt động tuyên
truyền chính trị. Tuy nhiên không vì thế mà vấn đề về Tự Lực văn đoàn, Thơ Mới ít
được chú ý.
Văn chương Tự Lực văn đoàn nói chung, Khái Hưng nói riêng đều được nghiên
cứu ở cả hai miền với những góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu là được đánh giá dưới
góc nhìn chính trị, các tiêu chí đánh giá tác phẩm đều xuất phát từ lập trường và quan
điểm giai cấp. Nhìn chung, các công trình chủ yếu tập trung phê bình nội dung xã hội
của tác phẩm trên phương diện chính trị, đạo đức, tư tưởng. Họ có cái nhìn khắt khe
đối với Tự Lực văn đoàn, cho những tác phẩm này “căn bản là bạc nhược, suy đồi” vì
không cổ vũ con người hành động trong cảnh nước mất nhà tan mà “ru ngủ thanh
niên” trong những chuyện tình cảm lãng mạn. Trong khi hàng nghìn người đang sống
chết cho một lí tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc, giải phóng con người thì Tự Lực văn
đoàn lại để cho các nhân vật của mình chìm đắm trong giấc mộng tình yêu, hạnh phúc
cá nhân. Vì thế nên Tự Lực văn đoàn được xem như là “cơ hội chủ nghĩa”, “tư tưởng
tiểu tư sản”, “lãng mạn thoát ly”….
Ở miền Bắc, một số công trình nghiên cứu như: Văn học Việt Nam 1930 –
1945 (1961) của Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ; Sơ thảo văn học Việt Nam (1964) của
Viện văn học; Tiểu thuyết Việt Nam của Phan Cự Đệ… đều nhắc đến Tự lực văn đoàn
và tiểu thuyết của Khái Hưng. Tuy nhiên, sau khi nhìn nhận, phân tích về những hành
động của lí tưởng cải cách xã hội, cải cách nông thôn của các nhân vật Ngọc (Hồn
bướm mơ tiên), Lộc (Nửa chừng xuân), Hạc và Bảo (Gia đình),… Các nhà phê bình
đều cho rằng lí tưởng đó mang màu sắc cải lương tư sản, không có tinh thần đấu tranh
giai cấp. Như trong bài viết về tiểu thuyết Gia Đình, Bạch Năng Thi đã phân tích việc
làm của Hạc, Bảo mà nhận định rằng: “Cái phần không tưởng, cái phần cải lương chủ
nghĩa của tác phẩm là ở cái lý tưởng về người điền chủ “nhân đạo” ấy. Cũng như

Hưng, tác giả của các công trình nghiên cứu hay bài viết bình luận đánh giá cũng chỉ
phân tích các hình tượng nhân vật trong tác phẩm của ông để làm rõ một vài luận
điểm nào đó. Chẳng hạn như Vu Gia với bài nghiên cứu về Khái Hưng người góp
phần xây dựng nền tiểu thuyết hiện đại, ông có phân tích nhân vật tiểu thuyết trong
Nửa chừng xuân, Thừa tự, Gia đình, Đẹp nhưng chủ yếu là để khẳng định được nghệ
thuật xây dựng nhân vật của Khái Hưng, “với Khái Hưng, nhân vật tiểu thuyết là
những người của đời thường”, “Khái Hưng hiểu thế nào là nhân vật tiểu thuyết” [16;
tr.152]. Hay công trình nghiên cứu của Lê Thị Dục Tú về Quan niệm về con người
trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn có đề cập đến hình tượng người phụ nữ, đặc biệt là
ở chương 2, 3 nói về “Thế giới nội tâm và Vẻ đẹp thể chất” của nhân vật. Nhưng nhìn
chung tác giả chủ yếu khai thác nhân vật để thấy sự đổi mới về quan niệm, tư tưởng
9

của các tác giả trong nhóm Tự lực văn đoàn so với đương thời. Ngoài ra thì còn có
luận án tiến sĩ của Ngô Gia Thư Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng, tác giả có phân
tích và phân loại thế giới nhân vật trong tác phẩm của nhà văn. Nhưng dụng ý của việc
phân tích này, Ngô Gia Thư nhằm muốn khẳng định những đóng góp đáng kể của nhà
văn trong tiến trình hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam, nên nó chỉ là một luận cứ
nhỏ để củng cố cho luận điểm về những quan niệm đổi mới về con người và những
cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Ở trên là những công trình nghiên cứu hay bài viết có liên quan đến Khái Hưng,
trong đó có những công trình khai thác đúng giá trị của tiểu thuyết của Khái Hưng và
cũng không ít bài viết phản bác lại Khái Hưng. Tuy số lượng bài nghiên cứu rất nhiều
và đề tài nghiên cứu cũng đa dạng nhưng chuỗi nhân vật trong tiểu thuyết của Khái
Hưng vẫn chưa được khai thác và nghiên cứu rõ ràng. Chính vì thế, trong đề tài này
chúng tôi sẽ cố gắng tiếp bước các thế hệ đi trước tìm hiểu “Thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết của Khái Hưng” nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu học hỏi của người viết,
đồng thời cũng giúp cho độc giả nhìn nhận, đánh giá Khái Hưng ở góc độ mới.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng”, chúng tôi

phẩm, trong mối quan hệ hài hòa của chỉnh thể nội dung và hình thức, trong hệ thống
các nhân vật cùng loại hình, trong mối quan hệ giữa nhân vật với các nhân vật khác sẽ
giúp chúng tôi có được sự đánh giá chính xác hơn về giá trị tác phẩm và tư tưởng, tài
năng của nhà văn.
Phương pháp so sánh:
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu giữa thế giới nhân vật
trong tiểu thuyết của Khái Hưng với những nhân vật của các tác giả khác trong Tự lực
văn đoàn để từ đó thấy được sự giống nhau và những nét riêng, độc đáo trong việc xây
dựng các hình tượng nhân vật thể hiện mục tiêu, tôn chỉ của nhóm. Đồng thời thấy
được sự sáng tạo của nhà văn qua việc thể hiện các nhân vật. 11

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Vài nét về tác giả và tác phẩm
Khái Hưng (1896 – 1947) tên thật là Trần Dư, nhưng ông thêm chữ Khánh
thành Trần Khánh Dư để giống vị tướng Trần Khánh Dư đời Trần. Bút danh Khái
Hưng của ông là được ghép từ các chữ cái của tên Khánh Dư mà có. Ngoài ra, tác giả
còn có bút danh khác là Nhị Linh.
Khái Hưng xuất thân trong một gia đình quan lại ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh
Bảo, Hải Dương, nay thuộc tỉnh Hải Phòng. Thân phụ của ông là Trần Mỹ, đỗ cử nhân

Nhất Linh), Nửa chừng xuân (1934), Tiêu sơn tráng sĩ (1934), Đời mưa gió (1934,
viết chung với Nhất Linh), Trống mái (1935), Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa
tự (1938), Đẹp (1939), Hạnh (1939), Băn khoăn (Thanh đức) (1943).
Truyện ngắn có các tác phẩm: Tiếng suối reo (1935), Dọc đường gió bụi
(1936), Đợi chờ (1938), Hạnh (1938), Cái ấm đất (1940), Đội mũ lệch (1941), Anh
phải sống (1943, viết chung với Nhất Linh), Cái ve (1944),
Kịch: Tục lụy (1937), Cóc tía (1940), Đồng bệnh (1942).
Ngoài ra, nhà văn còn viết truyện ngắn cho thiếu nhi và còn là một dịch giả có
tài. Tuy nhiên, thành công nhất của Khái Hưng là ở lĩnh vực tiểu thuyết. Mở đầu cho
văn nghiệp của ông là tiểu thuyết tình yêu lí tưởng với các tác phẩm như: Hồn bướm
mơ tiên, Gánh Hàng hoa, Nửa chừng xuân. Sau đó nhà văn viết một số tiểu thuyết
phong tục với nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực như: Gia đình, Thoát ly, Thừa
tự. Thời kỳ cuối, Khái Hưng viết một số tiểu thuyết tâm lí như: Hạnh, Đẹp, Băn
khoăn,… Nhận xét về chặng đường tiểu thuyết của Khái Hưng, Hà Minh Đức nhận
xét: “Giàu chất lãng mạn ở thời kì đầu, giá trị hiện thực tăng nhiều ở chặng giữa, và ở
giai đoạn cuối thì pha tạp với chủ nghĩa hiện đại” [5; tr.5]. Như vậy, Khái Hưng xứng
đáng là một trong hai trụ đồng của Tự lực văn đoàn. Bởi hầu hết các tác phẩm của ông
đều cổ vũ cho cái tôi cá nhân tự do đấu tranh chống lại những luật lệ cổ hủ của lễ giáo
phong kiến. Ông rất gương mẫu trong việc thực hiện tôn chỉ của nhóm. Đồng thời
cũng ý thức mở rộng đề tài làm phong phú hơn nền văn học nước nhà. Những đóng
góp của Khái Hưng đã góp phần tạo ra bước ngoặt lớn cho văn học Việt Nam hiện đại.
13

1.2. Đóng góp của Khái Hưng vào tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết
Việt Nam
Những năm đầu thế kỉ XX, sự du nhập của văn hóa phương Tây đã làm nền văn
học nước nhà có nhiều chuyển biến từ thể loại truyền thống sang thể loại hiện đại với

mới thực sự phát triển, cái tôi cá nhân mới thực sự có bước tiến. Cùng với Nhất Linh,
Khái Hưng đã có công rất đáng kể vào quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX. Với sự ra đời của Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt
tác giả đã mở toan cánh của mà Tố Tâm chỉ mới hé mở.
Những sáng tác của Tự lực văn đoàn đã gây được sự chú ý và cuốn hút độc giả
đương thời. Trong đó, có thể thấy tiểu thuyết của Khái Hưng đã thật sự cuốn hút thanh
niên thành thị và thanh niên có học ở nông thôn. Bởi nội dung của nó phù hợp với tâm
tư, nguyện vọng của đông đảo những con người mới. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan,
trong Nhà văn hiện đại cũng đề cao không tiếc lời: “Hiện nay, nhà văn mà được nam
nữ thanh niên yêu chuộng, được họ coi là người hiểu biết tâm hồn họ hơn cả, có lẽ chỉ
có Khái Hưng”. “Khái Hưng là nhà văn rất hiểu tâm lý phụ nữ” [15; tr.778]. Thế nên,
tiểu thuyết của ông đã tạo được sự hưởng ứng mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh giữa hai ý
thức hệ cũ và mới, đấu tranh đả phá những hủ tục lỗi thời đã ràng buộc cái tôi cá nhân
vào những lễ giáo, định kiến phi lí. Các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng
xuân, Thoát li, Thừa tự, Gia đình là lời tuyên chiến khá mạnh mẽ vào những hủ tục
lạc hậu, chế độ đại gia đình xưa cũ đã không còn hợp thời. Có thể nói những sáng tác
của Khái Hưng là một đỉnh cao của hành trình tự ý thức của con người cá nhân trong
xã hội Việt Nam hiện đại, đã lên tiếng đấu tranh đòi quyền tự do chính đáng mà họ
xứng đáng được có. Đây được xem như là những đổi mới về đề tài, chủ đề của tác
phẩm, một cách nhìn nhận mới về con người cá nhân trong xã hội của nhà văn.
Thật sự, vấn đề chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng con người cá nhân đã
được đặt ra trong văn học Việt Nam trung đại, nhưng tất cả đều bế tắc và bất lực trước
những quy phạm nghiệt ngã của xã hội phong kiến vốn đã tồn tại cả ngàn năm. Nhưng
dẫu sao, các tác giả giai đoạn này như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, nữ sĩ Hồ Xuân
Hương đã góp chung tiếng nói vạch trần và tố cáo sự bất công, tàn nhẫn của chế độ
phong kiến. Chỉ đến khi tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nói chung, Khái Hưng nói
riêng ra đời, vấn đề chống lễ giáo phong kiến mới thực sự bùng nổ và công khai trên
nhiều phương diện của đời sống. Họ chủ trương chống lại những hủ tục, đả phá chế độ
đại gia đình phong kiến, giải phóng cái tôi cá nhân tự do ra khỏi xiềng xích của lễ
giáo, đặc biệt là giải phóng người phụ nữ ra khỏi những ràng buộc bất công, vô lí của

gia đình chỉ thật sự có được hạnh phúc là gia đình một vợ một chồng, vợ chồng yêu
thương, tôn trọng lẫn nhau. Đây chính là những tư tưởng tiến bộ của nhà văn mà xã
hội của chúng ta ngày nay đang thực hiện và được pháp luật công nhận.
Tiểu thuyết của Khái Hưng đã vẽ nên bộ mặt khả ố và đáng thương của xã hội
trưởng giả Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nửa chừng xuân mở cửa vào những danh
16

gia, cho biết thủ đoạn gả bán con cái, tiêu diệt hạnh phúc để kiếm danh giá trong các
mối quan hệ môn đăng hộ đối. Còn các tiểu thuyết Thoát ly, Gia đình, Thừa tự của
Khái Hưng đi sâu vào cảnh ngộ của những gia đình giàu có, phát hiện những mâu
thuẫn, những rạn nứt khó hàn gắn do tính chất lỗi thời của lễ giáo phong kiến và quyền
lực của đồng tiền gây ra. Thoát ly, Thừa tự trình bày những xâu xé trong cảnh đa thê,
dì ghẻ con chồng, Đối với tiểu thuyết Gia đình, nhà văn đi sâu vào miêu tả những
cái xấu xa, đê tiện, bỉ ổi, đáng ghét trong gia đình phong kiến. Gia đình phơi bày nỗi
đắng cay của những người đàn bà như Nga, cả đời chỉ đeo đuổi một mục đích: Làm
sao nên danh bà Huyện, nhưng cuối cùng chỉ đổi lấy sự bất ổn trong cuộc sống gia
đình. Phải chứng kiến và chịu cảnh “vào luồn ra cúi” mua chuộc công sứ, tuần phủ, bà
lớn, bà bé cô ngán ngẩm và thầm ao ước cuộc sống của gia đình em mình: “Mỗi lần
gặp sự buồn phiền, hoặc sự bất hoà trong gia đình hay sự bất mãn trong công việc làm
quan của chồng, Nga lại thốt nhiên nghĩ tới Hạc và Bảo, nghĩ tới cái đời bình dị, tới
hạnh phúc im lặng, chắc chắn của họ. Và bùi ngùi, nàng tự nhủ thầm: “Chúng nó
sung sướng thực!”[14; tr.216]. Mặt khác sự rạn nứt, tan vỡ của mô hình gia đình
phong kiến cũ cũng kéo theo sự lủng củng, xấu xa trong các gia đình phong kiến quan
lại. Ông án Báo lợi dụng ngày giỗ để “đem cả cha mẹ ra làm tiền” [14; tr.17]. Hai chị
em gái Phụng - Nga coi nhau chẳng khác gì kẻ thù. Phụng lấy được chồng làm quan,
trở thành bà huyện thì coi em như rơm rác. Nga thì ganh tị vì chị được bố mẹ cưng
chiều còn mình thì bị ghẻ lạnh. Do đó, tiểu thuyết Gia đình xứng đáng là nhát búa cuối
cùng vào bức tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ trước: chế độ đại gia
đình. Tuy nhiên trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, không phải bao giờ cái
mới cũng chiến thắng cái cũ, không phải bao giờ những cô gái mới cũng chiến thắng

phụ để vừa mở rộng dung lượng phản ánh hiện thực vừa thể hiện cách lý giải, cảm
nhận cuộc sống của chính mình. Trong Nửa chừng xuân, song song với chuyện tình
yêu giữa Lộc và Mai bị cấm cản bởi tư tưởng “môn đăng hộ đối” của bà Án, nhà văn
còn miêu tả cuộc tán tỉnh, gạ gẫm của Hàn Thanh, tình yêu đơn phương của Minh và
Bạch Hải đối với Mai nhằm mục đích thể hiện phẩm hạnh của người con gái này. Qua
đó, tố cáo những lễ nghi áp đặt hẹp hòi, bóp nghẹt tự do hạnh phúc cá nhân, bên cạnh
đó tác giả còn vạch trần những việc làm nhơ nhuốc của một bộ phận quan lại phong
kiến đương thời. Tuy nhiên, do câu chuyện phát triển theo logic nội tại của nó nên kết
thúc tác phẩm không phải là việc Lộc thôi vợ và Lộc sẽ đón mẹ con Mai về chung
sống với anh. Kết thúc câu chuyện là hành động Mai từ chối về làm vợ của Lộc. Cô
chỉ có thể làm một người bạn tri âm của Lộc, ủng hộ Lộc về mặt tinh thần. Bởi đối với
Mai, hôn nhân chỉ nên xây dựng từ tình yêu tự nguyện và gia đình chỉ nên là gia đình
18

một vợ một chồng mà thôi. Mai không chấp nhận làm lẽ, chia sẻ ái tình của mình với
bất kì một ai. Cô càng không muốn làm người thứ ba phá hoại gia đình của người
khác. Vì khi chấp nhận làm vợ lẽ Lộc, Mai tránh sao khỏi cái kết cục luôn luôn xảy ra,
xung đột của vợ lớn vợ bé, của cảnh dì ghẻ con chồng. Các cuốn tiểu thuyết khác như
Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Gia đình, Thừa tự, Thoát ly, Hạnh, Đẹp, Băn khoăn,
cũng đều có cốt truyện đa tuyến, kết thúc mở, không có hậu.
Ngoài ra, Khái Hưng có những thành công đáng kể trong việc xây dựng nhân
vật. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông rất đa dạng. Với lập trường duy tân
cấp tiến cùng sự trải nghiệm cuộc sống trưởng giả, nhà văn đã khám phá, miêu tả được
nhiều hình tượng khá tiêu biểu và sinh động về con người cũ đại diện cho lễ giáo và
đại gia đình phong kiến trong hàng loạt tác phẩm của ông. Đó là những hình tượng có
giá trị hiện thực, giá trị phê phán khá sâu sắc, như nhân vật bà Án trong Nửa chừng
xuân, bà Án Báo trong Gia đình, bà Ba trong Thừa tự, bà Phán Trinh trong Thoát ly,
v.v Họ là những người phụ nữ ích kỉ, tham lam, mang nặng những lễ nghi, hủ tục lỗi
thời, sẵn sàng trao đổi quyền tự do, hạnh phúc của con mình để đổi lấy tiền tài, danh
vọng.

có một hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người [16; tr.43].
Quả thật khi đọc tiểu thuyết Nửa chừng xuân, người đọc rất dễ nhận ra một
nhân vật Mai trẻ trung, trong sáng, nhạy cảm từ những dòng miêu tả nhân vật ở phần
đầu tác phẩm: “Mai ngước mắt nhìn lên, búp xuân non mơn man đầu cành. Cái cảm
tưởng về xuân dịu dàng êm ái, khiến Mai hé cặp môi tươi thắm, mỉm cười với xuân,
trong lòng chứa chan hy vọng [9; tr.124]. Những diễn biến tâm lý phức tạp, tinh tế
trong lòng người phụ nữ lỡ dở tình duyên ở độ tuổi nửa chừng xuân qua những cử chỉ,
giọng nói, nụ cười: “Tay Mai cầm bức thư run lấy bẩy. Mặt Mai dần đỏ, rồi tái đi. Rồi
cái giọng khàn khàn, ướt những nước mắt ( ) Mai gượng cười cúi xuống bế con lên
hôn rất nồng nàn. Nàng có ngờ đâu rằng tình xưa còn ẩn trong tình mẫu tử và cái hôn
kia chỉ là hôn tiếc rẻ một quãng đời đã mất [9; tr.317 - 318].
Ngoài ra, nhà văn cũng hay lựa chọn, miêu tả những nhân vật phụ, những nhân
vật có khi tương đồng, có khi đối lập nhau để mở rộng phạm vi lí giải, đánh giá và
phản ánh cuộc sống để chủ đề tác phẩm, hay tính cách nhân vật chính được thể hiện
sâu sắc, rõ ràng hơn. Như khi miêu tả lòng chung thủy, lý tưởng tình yêu của Mai
(Nửa chừng xuân) nhà văn còn xây dựng các nhân vật phụ như Minh và Bạch Hải.
Trong tác phẩm Thoát ly, Khái Hưng cũng miêu tả các thái độ, cảm nhận khác nhau về
đời sống mới với sự Âu hóa, “trong ngày hội sinh viên, có kẻ reo cười ầm ĩ, có người
vươn cổ thét gào, có người cho là “hơn kém nhau chỉ ở chỗ trẻ trung và biết vui đùa”,
20

có người cho là “thô bỉ quá”, “lõa lồ đĩ thõa quá”, “người Bắc kỳ tiến, tiến đến chỗ
suy đồi” mau chóng quá” [14; tr.248].
Khái Hưng còn miêu tả nhân vật trong cái nhìn liên tục kéo dài tới mấy đời
người. Đây là một cách miêu tả khá mới, lạ trong tiểu thuyết Việt Nam. Trong tiểu
thuyết Băn khoăn, lối sống xa hoa, trụy lạc, phóng đãng của Cảnh được tác giả hình
dung, giải thích là do những ảnh hưởng từ đời ông, đời cha chàng, “Cảnh xuất thân ở
một gia đình đã hai đời cự phú. Ông nội chàng bắt đầu là một nông phu cần cù và
thông minh, thứ thông minh khôn ngoan, lừa lọc trời phú cho đám dân quê để họ có
thể sống, hay, hơn thế, trở nên giầu có” [11; tr.4]. Cha Cảnh là một người biết làm

đã xây dựng những cốt truyện theo lối mới: đa tuyến, mở, không có hậu. Nhà văn đã
đặt trọng tâm sáng tạo vào việc xây dựng nhân vật, đi sâu miêu tả đời sống tâm lý với
những khám phá, phát hiện sâu sắc, những phương thức biểu hiện mới mẻ, tinh tế. Ông
cũng có đóng góp không nhỏ trong xây dựng một lối kể chuyện mới linh hoạt, không
đơn điệu, giàu sức diễn tả đời sống và tâm hồn con người.
1.3. Nhân vật văn học
1.3.1. Khái niệm:
Từ điển văn học định nghĩa: “nhân vật văn học là con người được nhà văn
miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học”. Những con người này có thể được
miêu tả kĩ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần,
thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng
nhiều lắm đối với tác phẩm.
Nhân vật văn học có thể là những con người có tên (Lan, Tuyết, Thúy Kiều,
Chí Phèo, Thị Nở,…) có thể là những nhân vật không có tên như anh thanh niên trong
tác phẩm Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long, nhân vật người đàn bà trong Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thị trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim
Lân,… Đôi khi cũng có thể là một đại từ nhân xưng nào đó. Chẳng hạn như nhân vật
xưng “tôi” trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, trong thơ trữ tình, đại từ “mình
– ta” trong ca dao, Tuy nhiên khái niệm nhân vật văn học cần phải được hiểu theo
nghĩa rộng. Bởi trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn
dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Người ta thường nói đến
“nhân dân” như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của L.
Tônxtôi, “ca cao” là nhân vật chính trong Ðất dữ của G. Amađô, hay “chiếc quan tài”
cũng là nhân vật trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Công Hoan. Nhân vật có thể là
các con vật như: thỏ và rùa, con cáo và chùm nho trong các truyện ngụ ngôn, Dế mèn
trong Dế mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài, là chị chổi, bác nồi đồng trong truyện thiếu nhi
Cái tết của mèo con, là cây Thì là trong truyện dân gian Sự tích cây Thì là,… Nhưng
22

dù tác giả viết về đồ vật, con vật hay cỏ cây hoa lá thì cũng không ngoài mục đích là


23

1.3.2. Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhà văn xây dựng nhân vật như là một phương tiện để phản ánh đời sống, khái
quát hiện thực. Như vậy, chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc
sống và con người, đồng thời qua đó cũng thể hiện những hiểu biết, những ước mơ kì
vọng về cuộc sống của con người. Truyền thuyết Con rồng cháu tiên thể hiện niềm tự
hào của Dân tộc Việt Nam về nòi giống của mình. Các vị thần như thần Trụ Trời, thần
Gió, thần Mưa trong các câu chuyện thần thoại thể hiện những nhận thức về sức mạnh
của tự nhiên mà con người nguyên thủy chưa giải thích được. Hay nhân vật anh hùng
Hecralet với mười hai kì công trong thần thoại Hi Lạp chính là những mong ước có
được sức mạnh để chinh phục thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống. Nhân vật Thánh Gióng
trong truyền thuyết Thánh Gióng là niềm tin và hi vọng có được sức mạnh để chống
giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của Dân tộc Việt.
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, số phận và thể hiện
quan niệm của nhà văn về con người. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật còn là để thể hiện
những cá nhân xã hội nhất định và những quan niệm về cá nhân đó. Vì vậy, khi xây
dựng nhân vật, nhà văn thường gắn liền với nó những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập.
Chẳng hạn như nhân vật bà Tú (Thương vợ - Trần Tế Xương) là biểu hiện cho những
đức tính của người phụ nữ Việt Nam về sự hi sinh, cần cù nhẫn nại, chịu thương chịu
khó, suốt một đời chỉ vì chồng vì con. Nhân vật lão Hạc (Lão Hạc – Nam Cao) là nhân
vật đại diện cho tầng lớp nông dân nghèo khổ trước cách mạng tháng tám. Vì vậy, khi
tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nhân
vật, chúng ta cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của tác giả được
thể hiện qua nhân vật. Vì khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người
ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó.
Ngoài ra, nhân vật văn học còn là phương tiện để thể hiện tư tưởng, tình cảm
của nhà văn đối với từng loại người trong xã hội. Thông qua nhân vật bà Phán Lợi
trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Nhất Linh đã thể hiện thái độ căm tức đối với những

dữ làng Vũ Đại, triền miên trong những cơn say, cách đến nhà Bá Kiến xin được đi ở
tù lại, cách đập đầu ăn vạ, cách trêu ghẹo Thị Nở: thấy Thị Nở kêu, Chí kêu to hơn, là
khát vọng làm người lương thiện,… Như vậy, nhân vật văn học giữ vai trò quyết định
nội dung tư tưởng trong tác phẩm, vì vậy nhà văn luôn dồn tâm huyết và tài năng của
mình vào việc khắc họa nhân vật. Chính vì thế mà chúng ta thấy có nhiều người không
nhớ tên tác giả nhưng lại rất nhớ tên các nhân vật do tác giả ấy tạo dựng nên.
25

1.3.3. Phân loại nhân vật văn học
1.3.3.1. Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật
Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật là cách phân loại dựa
trên bình diện tư tưởng, ý thức hệ trong quan hệ với lí tưởng xã hội - thẩm mĩ của nhà
văn. Do đó có thể có các loại nhân vật gồm nhân vật chính diện (nhân vật tích cực),
nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực). Nhân vật chính diện là loại nhân vật được xây
dựng nhằm mục đích khẳng định, đề cao như những tấm gương phẩm chất tốt đẹp của
con người theo một quan điểm tư tưởng, một lí tưởng xã hội - thẩm mĩ nhất định. Đó
là những nhân vật thể hiện cho những giá trị tinh thần, hành vi cao thượng, phẩm chất
tốt đẹp của con người trong các mối quan hệ ứng xử, đồng thời góp phần phát triển và
hoàn thiện nhân cách con người và tiến bộ xã hội. Ngược lại với nhân vật chính diện,
nhân vật phản diện mang những phẩm chất trái với lí tưởng xã hội - thẩm mĩ tốt đẹp,
tiến bộ của thời đại. Đó là những nhân vật xấu xa, độc ác, giả dối, tham lam, bất tài
hay ganh tị, hống hách, là loại người bất hiếu, bất nghĩa, sẵn sàng chà đạp lương tâm,
nhân phẩm vì tiền tài, danh lợi. Nhân vật phản diện thường xuất hiện trong truyện cổ
tích, truyện cười, hài kịch hoặc thơ văn châm biếm. Nhân vật chính diện thường xuất
hiện trong các thể loại tụng ca, anh hùng ca, bi kịch. Nó là một phạm trù có tính lịch
sử, không chỉ phụ thuộc vào thế giới quan, lí tưởng xã hội của người sáng tạo mà còn
phụ thuộc vào thế giới quan lí tưởng xã hội của người tiếp nhận và thời đại tiếp nhận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status