ã
Nghiên cúu tác dụng giảm đau của
phân đoạn alcaloid từ củ của cây ô đầu
(Aconừum carmichaelì Debx.)
trồng ở tỉnh Hà Giang
Vũ Đức Lợi', Nguyễn Tiến Vững^ Nguyễn Thượng Dong^ Phạm Thị Vân Anh“
'Khoa YDược, Đại HọcQuốcGiaHàNội, ^ViệnPhápy Quốcgiơ, ^ViệnDượcliệu, ^TrườngĐại học YHàNội
SUMMARY
An alkaloid fraction was isolated from daughter root ofAconitum carmichaeli Debx by column chromatography. The fraction is to
evaluate analgesic effect by methods: Koster, tail-flick, hot plate. The results show that oral administrations o f fraction at dose 12.5 mg,
25 mg and 50 mg/kg bodyweight o f mice/day for 3 days had significantly analgesic effect.
Từ khóa: A. carmichaeli, alcaloid, giảm đau, phụ tử.
Đặt Vấn đề
Cây ô đẩu (Aconitum carmichaeli Debx.) trổng ở
tỉnh Hà Giang là một trong tổng số hơn 300 loài thuộc
chi Aconitum phân bố trên thế giới. Theo kinh nghiệm
dân gian, củ cây ô đẩu thường dùng để chữa đau
nhức xương khớp. Theo Bùi Hồng Cường, dịch chiết
nước phụ tử chế có tác dụng giảm đau trên phương
pháp nghiên cứu mâm nóng và gây quặn đau bằng
acid acetic [1]. Tuy nhiên, đến nay ở trong nước cũng
nhưtrên thế giới, chưa có công bố nào vể nghiên cứu
tác dụng giảm đau của phân đoạn alcaloid từ các
loài thuộc chi Aconìtum. Do vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu tác dụng giảm đau của alcaloid từ củ cây ô
đầu nhằm tìm ra một phân đoạn alcaloid có tác dụng
giảm đau tốt, có thể sử dụng trong điểu trị bệnh.
Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
- Máy hot plate model - DS37 của hãng Ugo - Basile(Ý)
- Máy đo phản ứng đau tail-flick (series 16881),
sản xuất bởi Ugo - Basile, Ý
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tác dụng giảm đau của phân đoạn
alcaloid của Phụ tử bằng phương pháp mâm nóng"
(hot plate)[2ị
Chuột nhắt trắng được chia ngẫu nhiên thành 5
lô, mỗi lô 10 con:
- Lô 1 (chứng): uống nước cất liểu 0,2 ml/IOg/
ngày trong 3 ngày.
- Lô 2: uống codein phosphat 20 mg/kg 1 lần
trước khi đo lần thứ hai 1 giờ.
- Lô 3: uống phân đoạn alcaloid của Phụ tử liều
12.5 mg/kg/ngày trong 3 ngày.
- Lô 4: uống phân đoạn alcaloid của Phụ tử liểu 25
mg/kg/ngày trong 3 ngày.
- Lô 5: uống phân đoạn alcaloid của Phụ tử liều 50
mg/kg/ngày trong 3 ngày.
Chuột ở các lô 1, 3, 4 và 5 được uống nước cất
hoặc thuốc thử mỗi ngày 1 lẩn vào buổi sáng trong
3 ngày liên tục.
Đo thời gian phản ứng với nhiệt độ của chuột
trước khi uống thuốc và sau khi uống thuốc lẩn cuối
cùng 1 giờ.
Phương pháp đo như sau: Đặt chuột lên mâm
nóng (máy hot plate), luôn duy trì ở nhiệt độ 56°c
bằng hệ thống ổn nhiệt. Thời gian phản ứng với kích
rút đuôi ra khỏi kim gây đau.
- Đo các chỉ số trước khi cho uống thuốc.
- Sau 3 ngày, sau khi uống liều thuốc cuối cùng
1 giờ, đo lại lẩn 2 như lẩn 1 (trước khi uống thuốc).
Nghiên cứu tác dụng giảm đau của phân đoạn
alcaloid của Phụ tử bằng phương pháp gây quặn đau
bàng acid acetic[2]
Chuột nhắt trắng được chia ngẫu nhiên thành 5
lô, mỗi lô 10 con:
- Lô 1 (chứng); uống nước cất liều 0,2 ml/10 g/
ngày trong 3 ngày.
- Lô 2: uống aspirin 150 mg/kg 1 lẩn trước khi đo
lẩn thứ hai 1 giờ.
- Lô 3: uống phân đoạn alcaloid của Phụ tử liều
12,5 mg/kg/ngày trong 3 ngày.
- Lô 4: uống phân đoạn alcaloid của Phụ tử liểu 25
mg/kg/ngày trong 3 ngày.
- Lô 5: uống phân đoạn alcaloid của Phụ tử liểu 50
mg/kg/ngày trong 3 ngày.
Chuột ở các lô 1, 3, 4 và 5 được uống nước cất
hoặc thuốc thử mỗi ngày 1 lẩn vào buổi sáng trong
3 ngày liên tục.
Ngày thứ 3, sau khi uống thuốc 1 giờ, tiêm vào ổ
bụng mỗi chuột 0,2 ml dung dịch acid acetic 1%.Đếm
số cơn quặn đau của từng chuột trong mỗi 5 phút cho
đến hết phút thứ 30 sau khi tiêm acid acetic.
Kết quả nghiên cứu
Tác dụng giảm đau của phân đoạn alcaloid của
Phụ tử bằng phương pháp mâm nóng
41,68 ±8,52
0,05
< 0.001
23,04 ±8,50
32,00 ±9,33
P3-1
>0,05
0,05
P5-1
8,20 ±2,97
8,60 ±2,80
7,65 ±2,12
16,10 ±3,04
>0,05
< 0.001
10
13,00 ± 3 3 1
0,05
7,95 ±2,02
và p so với trước khi uống codein p < 0,001).
- Phân đoạn alcaloid của phụ tử ở cả 3 liểu 12,5 mg/kg/ngày, 25 mg/kg/ngày, 50 mg/kg/ngày uống trong
3 ngày liên tục có tác dụng làm tăng rõ rệt khoảng cách gây phản xạ đau trên máy tail-flick của chuột so với
trước khi uống thuốc (p < 0,01) và so với lô chứng (p < 0,05 và p < 0,01). Khoảng cách gây phản xạ đau trên
máy tail-flick của chuột ở 3 lô uống phân đoạn alcaloid không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh
3 lô với nhau (p > 0,05).
- Khoảng cách gây phản xạ đau trên máy tail-flick của chuột ở lô uống codein tăng có ý nghĩa thống kê so
với chuột ở 3 lô uống phân đoạn alcaloid (p < 0,05).
Tác dụng giảm đau của phân đoạn alcaloid của Phụ tử bằng phương pháp gây đau bằng acid acetic
Bàng ì Ảnh hường củaphàn đoạn akaloid cùa Phụ tử lên sỗcơn quặn đau cùa chuộtnhằ trâng
Số cơn quặn đau (số cơn/ 5 phút)
LÔ chuột
n
0 - 5 phút
> 5 - 1 0 phút
> 1 0 -1 5 phút > 1 5 -2 0 phút > 2 0 -2 5 phút
> 2 5 -3 0 phút
Lô 1 (chứng)
10
7,90 ±3,25
19,40 ± 4,38
dùng làm chứng là aspirin có tác dụng giảm đau
tại chỗ do làm giảm tổng hợp PGF2a nên làm giảm
tính cảm thụ của ngọn dây thẩn kinh cảm giác với
các chất gây đau của phản ứng viêm như bradỵkinin,
serotonin và histamin. Kết quả nghiên cứu cho thấy
phân đoạn alcaloid chiết từ Phụ tử có tác dụng giảm
đau tại chỗ trong toàn bộ thời gian nghiên cứu từ
0 - 30 phút.
Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy phân đoạn
alcaloid ởcả 3 liều có tác dụng giảm đau theo cả 2 cơ
chế trung ương và ngoại vi.
Phụ tử là vị thuốc được sửdụng nhiểu trong y học
cổ truyền với mục đích giảm đau. Hiện nay trên thế
giới có nhiểu sản phẩm bào chế hiện đại được sản
xuất từ nguyên liệu ban đẩu là phụ tử như: Xiaohuoluo pill, Melagriao, Aconite 3°c. Thành phẩn chính
trong các sản phẩm này cũng là alcaloid được chiết
xuất từ các loài thuộc chi Aconitum [3,4]. Vì vậy các
kết quả nghiên cứu vể phân đoạn alcaloid trên phù
hợp với những nghiên cứu trước đó [6, 7] và cũng
phù hợp với công dụng của sản phẩm có alcaloid
chiết xuất từ các loài thuộc chi Aconitum.
Kết luận
Phân đoạn alcaloid chiết xuất từ phụ tử được thử
tác dụng giảm đau bằng 3 phương pháp mâm nóng,
tail-flick và quặn đau bằng acid acetic liểu dùng 12,5
mg/kg/ngày, 25 mg/kg/ngày và 50 mg/kg/ngày uống
trong 3 ngày liên tục có tác dụng giảm đau rõ rệt.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này là kết quả để tài cốp cơ
sở của Khoa YDược, Đại học Quốc Giơ Hà Nội.