Phân tích tình hình tài chính công ty TNHH quốc tế sinjoobo việt nam - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều đổi mới và có
được bước phát triển mạnh mẽ. Đi từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
cơ chế quản lý bao cấp, đến nay chúng ta đã từng bước xây dựng và phát triển một
nền kinh tế tiên tiến. Góp phần vào công cuộc xây dựng công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước. Trong sự nghiệp phát triển mạnh mẽ đó các công ty xí nghiệp đã
mạnh dạn áp dụng các chế độ hạch toán kế toán mới, phương thức sản xuất mới
vào kinh doanh.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh
doanh và có mối quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh .Phân tích tài
chính của một doanh nghiệp giúp chúng ta có cái nhìn chung nhất về thực trạng tài
chính của doanh nghiệp đó,giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp xác định
được trọng điểm trong công tác quản lý tài chính , tìm ra những giải pháp tài chính
hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp .Do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của
nhiều đối tượng .Mỗi đối tượng này có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau song
họ đều hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của
doanh nghiệp.
Tuy mới thành lập chưa được bao lâu nhưng các sản phẩm của công ty TNHH
Quốc tế Sinjoobo Việt Nam ngày càng được nhiều người biết đến, tình hình sản xuất
kinh doanh ngày càng phát triển. Để đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng
cao, hiện tại công ty đang đầu tư xây dựng, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng
suất lao động, đổi mới công nghệ, phương pháp kinh doanh… Chính vì vậy mà việc
tổ chức công tác kế toán chặt chẽ, khoa học với những sổ sách kế toán đầy đủ, chi tiết,
phân tích tài chính cụ thể, chính xác là vô cùng cần thiết giúp nhà quản lý nắm rõ


hoạt động sản xuất kinh doanh và có những biện pháp thích hợp thúc đẩy sự phát
triển công ty.
Báo cáo gồm những phần sau:
Phần 1: Giới thiệu tổng quát về công ty TNHH Quốc tế Sinjoobo Việt Nam.

may Việt Nam- Malaysia được thành lập giữa bên Việt Nam là công ty TNHH
Minh Thành và bên nước ngoài là công ty Bo Fung Industries Malaysia Sdn.Bhd
theo giấy phép đầu tư số 65/GP-HP do UBND thành phố Hải Phòng cấp ngày
17/09/2003.
Công ty Liên doanh dệt may Việt Nam- Malaysia chuyển thành công ty
100% vốn nước ngoài với tên gọi là công ty TNHH Quốc tế Sinjoobo International
Limited (Việt Nam).
1.2. Cơ cấu tổ chức hoạt động, chức năng nhiệm vụ các bộ phận:
1.2.1.Sơ đồ bộ máy chung của công ty:



Công ty thực hiện mô hình cơ cấu tố chức theo kiểu trực tuyến. Hiện tại, với mô
hình cơ cấu tổ chức này đã thể hiện tính chuyên môn hóa cao trong công việc.
Ưu điểm: bộ máy đơn giản, gọn nhẹ. Không phát sinh tình trạng chồng chéo
mệnh lệnh. Chi phí quản lí thấp, có thể mang lại hiệu quả cao. Mỗi phòng ban sẽ
thực hiện những chức năng nhiệm vụ riêng cho nên hiệu quả làm việc sẽ cao và
kích thích được sự sáng tạo và nhiệt tình của mỗi phòng ban. Việc đào tạo huấn
luyện nhân sự sẽ trở lên đơn giản hơn. Nhân viên trong các phòng ban có cơ hội
nâng cao kĩ năng nghề nghiệp trong lĩnh vực chuyên môn của họ.
Nhược điểm: Cơ cấu này đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện,
tổng hợp, đồng thời cơ cấu này làm hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có
trình độ cao theo chuyên môn.Với kiểu mô hình cơ cấu này thì mỗi phòng ban
trong công ty chỉ chú trọng tới nhiệm vụ mình được giao, chỉ thực hiện vào mục
tiêu của phòng ban mình là không quan tâm tới các phòng ban khác dẫn tới sự
thiếu liên kết giữa các phòng ban trong công ty.


1.2.2.Chức năng các phòng ban trong cơ cấu tổ chức của công ty:
Tổng Giám đốc: chịu chịu trách nhiệm chung về toàn bộ quy trình sản xuất kinh

ph
T
P
ởn
òn
Ổ thử.
H
bảo dưỡng qua thời gian chạy
N
Ó
g

Phòng kế hoạch vật tư, kỹ thuật máy:Tham mưu cho TGĐ các lĩnh vực sau:
kỹ
ho
tài


kế
cắ
sa
th
m
G
X
K
T

GI
nh

kế
m
id
Đ
h
áy

to

Á
et
án
M

C bị
- Công tác quản lý Vật tư, thiết
Đ

C
- Công tác quản lý an toàn, lao
động, vệ sinh môi trường tại các dự án

- Công tác soát xét, lập, trình duyệt thiết kế kỹ thuật
Tất cả các phòng ban khác đều có chức năng riêng biệt nhưng có cùng mục
đích là đem lại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho toàn Công ty. Về công
tác tổ chức quản lý doanh nghiệp công ty TNHH Quốc tế Sinjoobo Việt Nam cũng
đã nghiên cứu lập các phòng ban chuyên trách hợp lý, logic khoa học, tạo điều kiện
cho công ty quản lý chặt chẽ các mặt kinh tế, kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí để hạ giá thành, đảm bảo cạnh tranh trên
thị trường, đem lại hiệu quả cao.

1.3.2. Nhiệm vụ chủ yếu của công ty:
-

Xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh
doanh cuả doanh nghiệp phù hợp với định hướng phát triển kinh tế địa

-

phương và cả nước.
Chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ chính sách pháp luật của nhà nước trong

-

quản lý kinh tế và trong sản xuất kinh doanh.
Ký kết hợp đồng lao động, thực hiện chính sách cán bộ lao động và tiền
lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên của công ty theo quy định của
nhà nước. Phải xây dựng định mức lao động cho cá nhân, bộ phận và định
mức tổng hợp theo hướng dẫn của Bộ lao động thương binh và xã hội, xây
dựng đơn giá tiền lương trên đơn vị sản phẩm hoặc hoạt động dịch vụ trình sở
lao động thương binh và xã hội phê duyệt. Đảm bảo đời sống cho cán bộ công
nhân viên tron toàn công ty, giải quyết việc làm và thực hiện đầy đủ chế độ

-

chính sách của nhà nước.
Mở rộng liên kết kinh tế với các cơ sở sản xuất kinh doanh trong và ngoài

-

công ty.

truyền sản xuất của công ty, đàm phán về giá cả và số lượng đơn hàng, thị

-

trường tiêu thụ.
Làm hồ sơ xin giấy phép nhập khẩu nguyên phụ liệu máy móc, nếu cần đối

-

với những mặt hàng theo quy định của các bộ ngành liên quan.
Nhận các tài liệu kĩ thuật về mẫu mã từ phía đối tác.


-

Bộ phận tạo mẫu giao các sơ đồ dựa theo các tài liệu kĩ thuật đã nhận từ

-

nước ngoài.
Các giấy tờ có liên quan về việc nhập khẩu các phụ liệu như: B/L, Invoice,

-

packing list…
Làm thủ tục nhập khẩu đồng bộ các nguyên phụ liệu từ nước ngoài theo hợp

-

đồng đã kí về nhà máy.

nguyên phụ liệu từ kho được đưa về các tổ cắt. Tại đây thực hiện các công việc
như trải vải, xoa phấn, cắt phá, cắt gọt, viết số và phối kiện để cuối cùng tạo ra bán
thành phẩm cắt.
Công đoạn in, thêu: sau công đoạn cắt, công đoạn này chỉ được thực hiện theo
đơn đặt hàng của khách hàng.
Công đoạn may: sau khi nhận bán thành phẩm từ các tổ cắt hoặc in, thêu các tổ
may sẽ tiếp tục gia công hoàn chỉnh sản phẩm. Kết thúc công đoạn này, sản phẩm
gần như đã hoàn chỉnh và được chuyển sang sau đó tiền hành là phẳng. Sau đó
chuyển sang công nghệ tiếp theo.
Công đoạn gấp: nhận được sản phẩm ở các tổ là chuyển sang sau đó tiến hành
gấp và cho vào túi Nilon.
Từ những sản phẩm hoàn thành này phòng KCS tiến hành kiểm tra chất lượng
và những sản phẩm đạt chất lượng theo đúng yêu cầu kĩ thuật thì mới được nhập
kho thành phẩm, tại kho thành phẩm đạt chất lượng này sẽ được đóng thành kiện
lớn và xuất bán.
Phòng xuất nhập khẩu liên hệ với phía đối tác và xuất thành phẩm.

PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP


2.1.Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
2.1.1:Khái niệm tài chính doanh nghiệp (TCDN)
Tài chính doanh nghiệp dược hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ
yếu bao gồm :


Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước :


quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như :
chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu
vốn, chi phí ….
2.1.2.Cơ sở tài chính doanh nghiệp :
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, cần
phải có một lượng tài sản phản ánh bên tài sản của Bảng cân đối kế toán. Nếu như
toàn bộ tài sản do doanh nghiệp nắm giữ được đánh giá tại một thời điểm nhất định
thì sự vận động của chúng – kết quả của quá trình trao đổi – chỉ có thể được xác
định cho một thời kỳ nhất định và được phản ánh trên Báo cáo kết quả sản xuất
kinh doanh. Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về
quy trình công nghệ và tính chất hoạt động . Sự khác biệt này phần lớn do đặc
điểm kinh tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp quyết định. Cho dù có sự khác biệt
này, người ta vẫn có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp
bằng hàng hoá, dịch vụ đầu ra.
2.1.3.Mục tiêu tài chính doanh nghiệp :
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như :
Tối đa hoá lợi nhuận , tối đa hoá đoanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận ,
tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp.., song tất cả các
mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho
các chủ sở hữu . Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất
định ; chính họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên ; khi doanh nghiệp đặt
ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến


động của thị trường, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Quản lý tài chính
doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện được mục tiêu đó.
Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp : quyết định đầu tư, quyết định
huy động vốn, quyết định về phân phối, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Trong quản lý tài chính, nhà quản lý phải cân nhắc các yếu tố bên trong và
các yếu tố bên ngoài để đưa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sở

ngoài doanh nghiệp ).Tuy nhiên, trình tự phân tích và dự đoán tài chính đều phải
tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứngvới từng giai đoạn dự đoán .
Tuy nhiên, bên cạnh những mục tiêu quan trọng hàng đầu này, phân tích tài
chính còn nhằm đạt một số mục tiêu khác như:
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin kinh tế cần thiết cho chủ
doanh nghiệp, các nhà đầu tư và những người sử dụng thông tin tài chính khác của
doanh nghiệp.
- Cung cấp các thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng khai thác vốn,
hiệu quả sản xuất kinh doanh khắc phục những thiếu sót tồn tại.
- Cung cấp các thông tin về tình hình công nợ, khả năng tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa và khả năng sinh lời cũng như ảnh hưởng làm thay đổi điều kiện sản xuất
kinh doanh, giúp doanh nghiệp dự đoán chính xác tương lai của mình.
2.2.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì các
doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật


trong việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh, đối tác, bạn hàng. Do vậy, việc phân
tích tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhiều đối tượng, trước
hết là ban giám đốc, các nhà đầu tư, các chủ nợ, các tổ chức ngân hàng, các đối
tác,... đặc biệt là cơ quan chủ quản của Nhà nước và người lao động. Mối nhóm
người này có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau song họ đều hướng tập trung
vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp.


Đối với nhà quản trị tài chính doanh nghiệp

Họ tiến hành nghiên cứu các hoạt động tài chính gọi là phân tích tài chính nội
bộ. Do ở trong doanh nghiệp nên các nhà quản lý có các thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp, họ có lợi thế phân tích tài chính tốt nhất. Trên cơ sở kết quả thu được từ

chắn của những quyết đoán tương lai thuộc doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà đầu tư
cũng quan tâm tới việc điều hành, hoạt động và tính hiệu quả của công ty quản lý
trong doanh nghiệp. Những thông tin về công tác quản lý đòi hỏi những nguồn nào
và sử dụng những nguồn đấy dưới sự giám sát của công tác quản lý như thế nào
cũng có thể tác động, ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư.


Phân tích tài chính đối với người cho vay

Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của
khách hàng. Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người
cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không? Khả năng
trả nợ của doanh nghiệp là như thế nào.
Ngoài ra, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng cần thiết đối với người hưởng
lương trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật
sư,... dù họ công tác ở các lĩnh vực khác nhau nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt
động của doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ.
2.3. Vai trò, nhiệm vụ của phân tích tài chính với việc nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh


*Vai trò:
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong những mục tiêu quan
trọng của các doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là làm sao
để có nhiều lợi nhuận hơn nữa, làm cho giá trị của doanh nghiệp trên thương
trường ngày càng được nâng cao.
Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, chủ
doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: tiến hành cải cách
bộ máy quản lý, liên doanh liên kết với các đơn vị, doanh nghiệp khác. Song còn
một biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất, chi phí thấp nhất, luôn được các chủ

Phân tích tài chính doanh nghiệp sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý
giải và thuyết minh thực trạng của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Nó phục vụ
quá trình dự đoán tài chính, bao gồm từ những thông tin nội bộ đến các thông tin
bên ngoài.
2.4.1 Các thông tin trong nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp ,có thể sử
dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin
quan trọng bậc nhất và có tính chất bắt buộc phải sử dụng khi thực hiện phân tích
tài chính doanh nghiệp .Với những đặc trưng hệ thống ,đồng nhất và phong phú ,kế
toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho


phân tích tài chính .Vả lại ,các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ cung cấp những
thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp .Thông tin
kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán .Phân tích tài chính
được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính -được hình thành thông qua việc
xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu . Các báo cáo tài chính thường được sử dụng để
phân tích là: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển
tiền tệ và những nguồn thông tin khác.


Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một bản báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách
tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá tài sản
và nguòn vốn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo.


Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh


trọng nhất vì doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp thông tin kế toán cho các đối
tượng quan tâm bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Thông tin đầu vào thường
phải qua khâu xử lý sơ bộ để loại bỏ những thông tin thiếu chính xác trước khi sử
dụng phân tích tài chính.
2.5. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
2.5.1. Phương pháp đánh giá:
Phương pháp này rất hay sử dụng trong phân tích tài chính, và được đan xen trong
nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình phân tích tài chính
Phương pháp so sánh:
Đây là kỹ thuật dễ dàng sử dụng và được sử dụng rất nhiều trong các kỹ thuật phân
tích. So sánh tuyệt tối về sự biến động thông qua các con số cơ học; so sánh tương


đối nói về sự biến động thông qua các chỉ số %, tăng hoặc giảm qua các kỳ để từ
đó có được các nhân định khác nhau cho báo cáo phân tích
Phương pháp phân chia:
Sử dụng để chia nhỏ các yếu tố cần phân tích trên báo cáo tài chính, phục vụ nhiều
khía cạnh phân tích khác nhau trên một bài phân tích. Các chiều có thể phân chia
trên một báo cáo phân tích tài chính
Chi tiết theo yếu tố cấu thành yếu tố cần nghiên cứu: phân tách các chỉ tiêu
nhỏ trong một chỉ tiêu lớn cần phần tích
Chi tiết theo thời gian phát sinh và kết quả: phân tách theo dòng thời gian
của một chi tiêu cần phân tích để khái quát sự biến động chỉ số thông qua các giai
đoạn phát triển khác nhau trong doanh nghiệp
Chi tiết theo không gian: phân tách các chỉ tiêu phân tích theo khu vực địa
lý, để có được sự so sánh khác nhau giữa các vùng, miền phát sinh chỉ tiêu cần
phân tích
Phương pháp liên hệ đối chiếu:
Kết hợp với các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị để có được mối tương quan
liên hệ với nhau, cân đối các yếu tố, luận chứng sẽ làm cho phân tích tài chính

Để phân tích khái quát về tình hình tài chính, ta xem xét trước hết ở sự thay
đổi của bảng cân đối kế toán, tức là sự tăng giảm về mặt tổng số của tài sản và
nguồn vốn. Tiếp đến, là phân tích những nguyên nhân đã ảnh hưởng đén tình hình
thay đổi trên. Bằng cách đó, chỉ ra được mức độ tác động khác nhau của từng
khoản mục đến sự thay đổi của bảng cân đối kế toán.
2.6.2. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn.


Phân tích diễn biến của nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự
thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán về nguồn vốn
và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Để tiến hành cách thức phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên,
người ta trình bày bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo (trình bày
một phía) từ tài sản đến nguồn vốn. Sau đó, so sánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳ
trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốn của doanh
nghiệp theo nguyên tắc:
- Sử dụng vốn: tăng tài sản, giảm nguồn vốn
- Nguồn vốn: Giảm tài sản, tăng nguồn vốn
Nội dung phân tích này cho nhà phân tích xác định được khả năng về nguồn
vốn và nhu cầu sử dụng vốn hiện tại của doanh nghiệp ,dự báo tình hình tăng
giảm nguồn vốn trong tương lai ,xác định nguyên nhân làm thay đổi nguồn vốn
,lập các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp .Từ đó, có giải pháp khai thác các
nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Vận dụng nội dung phân tích này trên thực tế ,người ta tiến hành phân tích
sự thay đổi các dòng tiền trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp ,xác định các
nguyên nhân làm tăng ,giảm tiền trong kỳ kinh doanh .Để xác định nguyên nhân
làm tăng , giảm tiền người ta bắt đầu từ việc so sánh cuối kỳ so với đầu kỳ trong
từng chỉ tiêu của phần tài sản và nguồn vốn trên Bảng cân đối kế toán .
Như vậy, qua việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn đã cho ta
một cái nhìn tổng hợp sự thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn trong một kỳ kế toán.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status