ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ CHUYỀN
BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƢỜI PHỤ NỮ
TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ CHUYỀN
BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƢỜI PHỤ NỮ
TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỞ ĐẦU
Chương 1:
1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA
5
NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN
GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
1.1.
Khái niệm quyền của người phụ nữ và bảo vệ quyền của
5
người phụ nữ
1.1.1. Quyền của người phụ nữ
5
1.1.2. Bảo vệ quyền của người phụ nữ
9
1.1.3. Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa
12
Quyền của người vợ được thương yêu, chung thủy và được
27
chăm sóc, quý trọng
2.1.1. Quyền được yêu thương, chung thủy
4
27
2.1.2. Quyền được chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng
29
2.1.3. Quyền sống chung giữa vợ và chồng
30
2.2.
Quyền bình đẳng của người vợ trong việc thực hiện các quan
31
hệ gia đình
2.2.1. Quyền bình đẳng của vợ đối với chồng trong mối quan hệ với con
3.1.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của người phụ
58
nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
3.1.1. Những thành tựu đã đạt được
58
3.1.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong việc bảo vệ quyền của
61
người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
3.2.
Một số đề xuất nhằm bảo đảm quyền của người phụ nữ trong
66
quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định trong các văn bản pháp luật
66
về hôn nhân và gia đình
3.2.2. Nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật
Số hiệu
Trang
bảng
3.1
Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai, thời kì 2002-2012
59
3.2
Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo
60
thành thị/ nông thôn 2006 -2013
3.3
Tỷ lệ phụ nữ có chồng bị chồng gây các hành vi bạo lực
61
thể xác khác nhau
3.4
Tỷ lệ các hành vi bạo lực tình dục cụ thể do chồng gây ra
vợ và chồng đang ngày càng bị xâm phạm dưới nhiều hình thức và mức độ
khác nhau, chẳng hạn như nạn bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần…
Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và
chồng không chỉ thể hiện ở việc ghi nhận những quyền nhân thân của họ
trong pháp luật mà phải đảm đảm cho những quyền đó được trở thành hiện
thực trên thực tế, điều đó đòi hỏi một cơ chế đồng bộ từ việc xây dựng pháp
luật đến các biện pháp thực hiện ở mọi cấp, mọi ngànhh. Chỉ khi nào bảo vệ
tốt quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì việc
đảm bảo bình đẳng giới mới trở thành hiện thực.
8
Luật HN&GĐ năm 2014 ban hành đã mang nhiều quy định tiến bộ trong
việc đảm bảo quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân của vợ và chồng,
chẳng hạn quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng, đại diện giữa vợ và
chồng trong quan hệ kinh doanh… góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính
đáng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Tuy nhiên,
để đưa ra nhiều biện pháp giải quyết hiệu quả, nhằm thúc đẩy và thực hiện tốt
hơn nữa quyền bình đẳng của người phụ nữ thì việc nghiên cứu vấn đề "Bảo vệ
quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014" có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về quyền của người phụ nữ hiện nay cũng đã có một số đề tài
nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau như khóa luận tốt nghiệp năm 2003:
"Bảo vệ quyền của người phụ nữ theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000",
của Lương Thị Kim Dung, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội; Luận văn
thạc sĩ: "Ảnh hưởng của Nho giáo đến các quy định pháp luật Việt Nam về
mối quan hệ giữa vợ và chồng", của Đinh Hạnh Nga, Khoa Luật - Đại học
quốc gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ: "Bảo vệ quyền người phụ nữ trong quan
thân giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014" luận văn
tập trung làm rõ những vấn đề về bảo vệ quyền nhân thân của người phụ nữ
với tư cách là người vợ, người mẹ trong quan hệ giữa vợ và chồng, tức là các
quyền nhân thân phát sinh trên cơ sở quan hệ hôn nhân
Vì vậy, những vấn đề về quyền của người phụ nữ không gắn liền với
quan hệ vợ chồng không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích đề ra, tác giả sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Đảng và Nhà nước về
pháp luật
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, thống
kê, tổng hợp.
10
6. Ý nghĩa và điểm mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu và phân tích sâu sắc, toàn diện về ý nghĩa, mục
đích, nội dung bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa
vợ và chồng dưới góc độ bình đẳng giới.
- Luận văn đánh giá thực trạng về nội dung bảo vệ quyền của người
phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trên thực tế, đưa ra một số
kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này và nâng cao
hiệu quả việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa
vợ và chồng, nhằm thực hiện bình đẳng giữa vợ và chồng trên thực tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
quốc thì "Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu, có tác dụng
bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc
mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con
người" [43].
Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là "những nhu cầu, lợi ích tự
nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong
pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp luật quốc tế" [21].
Theo quan điểm của chúng tôi, quyền con người là một quyền vừa
mang tính tự nhiên vừa mang tính pháp lý. Quyền con người là quyền tự
12
nhiên được hiểu là những quyền khi sinh ra họ đã có, mà người khác phải tôn
trọng "mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được" (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948).
Quyền con người là quyền pháp lý tức là quyền con người được pháp điển
hóa, được ghi nhận bằng pháp luật, được cộng đồng tôn trọng và bảo đảm
thực hiện.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng
được xác định như là những chuẩn mực được thừa nhận, những chuẩn mực
này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại và được áp dụng cho
tất cả mọi người. Vì vậy, dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định
nhưng một điều rõ ràng rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần
được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.
1.1.1.2. Khái niệm bình đẳng giới
Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ
qua các thời kì lịch sử. Năm 1948, Liên hợp quốc ra Tuyên ngôn toàn thế giới
về quyền con người, khẳng định: "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng
về phẩm giá và các quyền". Ý tưởng về sự bình đẳng này được trích dẫn từ
Quyền của người phụ nữ là tập hợp các quyền của con người mà
người phụ nữ được hưởng, được tôn trọng, được bảo vệ và bảo đảm thực hiện
bằng hệ thống các quy định của pháp luật.
1.1.2. Bảo vệ quyền của ngƣời phụ nữ
Việc ghi nhận quyền của người phụ nữ trong pháp luật là điều quan
trọng nhưng chưa đủ khi thực tế trong đời sống hôn nhân và gia đình hiện nay
các quyền của người phụ nữ còn bị xâm phạm, chẳng hạn như thực trạng bất
bình đẳng trong mọi lĩnh lực về kinh tế, chính trị, tình trạng bạo lực gia đình…
Vì vậy, điều quan trọng là cần phải bảo vệ và đảm bảo cho quyền của người
phụ nữ được thực hiện trong thực tế. Có hai phương thức để bảo vệ quyền phụ
nữ bao gồm phương thức tự bảo vệ và phương thức yêu cầu cơ quan, tổ chức
can thiệp bảo vệ. Theo đó, phương thức tự bảo vệ là một biện pháp dân sự
được thực hiện bởi chính chủ thể, theo đó người phụ nữ có quyền sử dụng các
biện pháp tự bảo vệ. Trên cơ sở sự ghi nhận của pháp luật về quyền nhân thân
của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng thì người phụ nữ sẽ ý thức
được việc thực hiện quyền bảo vệ đối với các quyền nhân thân của mình, để
ngăn chặn các hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
16
Phương thức yêu cầu cơ quan, tổ chức can thiệp bảo vệ là một biện
pháp dân sự do chủ thể thực hiện. Trên cơ sở pháp luật ghi nhận các quyền
nhân thân của phụ nữ, người phụ nữ được áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan,
tổ chức bảo vệ để kịp thời xử lý hành vi xâm phạm quyền của mình. Khoản 1
Điều 5 của Luật Phòng chống bạo lực năm 2007 gia đình quy định:
1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ
sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác
của mình;
(BLDS) năm 2005 đã có sự quy định về quyền của người phụ nữ tại Điều 40
Mục 2 Quyền nhân thân như sau: "Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền,
nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng
nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững" [29].
Luật HN&GĐ năm 2014 với tư cách là đạo luật quy định trực tiếp, cụ
thể về quan hệ hôn nhân và gia đình đã đưa ra nhiều quy định liên quan đến
quyền của người phụ nữ cũng như những bảo đảm trong việc thực hiện quyền
của họ. Trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, Luật
quy định: "Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng" [34, khoản 1 Điều 2] và "Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm
bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về
hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của
người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình" [34, khoản 4 Điều 2]. Các nguyên
tắc cơ bản này tạo nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ quyền của người phụ nữ
trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ năm
2014 đã cụ thể hóa quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ
và chồng từ Điều 17 đến Điều 27.
Như vậy, bảo vệ quyền của người phụ nữ được hiểu là: hệ thống các
biện pháp, cách thức được pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc thực thi
đầy đủ, có hiệu quả các quyền con người của phụ nữ trên thực tế cũng như xử
lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền của người phụ nữ.
18
1.1.3. Bảo vệ quyền của ngƣời phụ nữ trong quan hệ nhân thân
giữa vợ và chồng
1.1.3.1. Khái niệm bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ
nhân thân giữa vợ và chồng
Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời sống
Thứ nhất, quyền nhân thân của người vợ phát sinh trên cơ sở hôn nhân
hợp pháp và tồn tại trong suốt thời kì hôn nhân. Các quyền nhân thân này chỉ
chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tức là, quyền nhân thân của người
vợ sẽ được bắt đầu bằng việc đăng kí kết hôn và sẽ chấm dứt khi sau khi có
quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực hoặc khi người
chồng chết hoặc người chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
Thứ hai, quyền nhân thân của người vợ luôn gắn liền với chồng,
không thể chuyển dịch cho người khác (không thể do người khác thực hiện
thay). Đặc điểm này xuất phát từ những đặc trưng của quyền nhân thân và
tính chất của quan hệ vợ chồng. Theo đó, các quyền nhân thân của người vợ
như quyền được yêu thương, chung thủy, chăm sóc; quyền được thực hiện kế
hoạch hóa gia đình…là những quyền gắn liền với chồng, liên quan đến lợi ích
tinh thần của vợ và chồng nên các quyền nhân thân trên không thể chuyển
giao cho người khác.
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta nhận thấy rằng, việc bảo vệ
quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là một vấn đề
có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện quan hệ vợ chồng tiến bộ, đảm bảo
quyền bình đẳng thực chất cho người phụ nữ trên thực tế.
1.1.3.2. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan
hệ nhân thân giữa vợ và chồng
Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền
của người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng nói riêng xét trên hai
phương diện lý luận và thực tiễn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều này thể
hiện ở những nội dung sau đây:
- Bảo vệ quyền của người vợ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và
chồng góp phần xóa bỏ tư tưởng gia trưởng - phong kiến, quyền áp đặt của
20
21
bởi các yếu tố tâm lý xã hội, phong tục tập quán, truyền thống... Bởi vậy, qua mỗi
thời kì phát triển của xã hội, pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan
hệ nhân thân giữa người vợ và người chồng mang những nội dung khác nhau.
1.2.1.1. Quyền của người phụ nữ trong cổ luật Việt Nam
Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa
vợ và chồng trong pháp luật phong kiến được thể hiện ở những nội dung sau:
* Quyền nhân thân thể hiện quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng
Pháp luật phong kiến thể hiện sự phân biệt đối xử khá rõ ràng trong các
quy định về nhân thân giữa vợ và chồng, như: người vợ phải "phục tùng chồng và
chịu sự dạy dỗ của người chồng" (Điều 481 Bộ luật Hồng Đức)… Song bên cạnh
đó cũng có những nét riêng ít nhiều bảo vệ quyền nhân thân của người vợ, như:
"Phàm người chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình lên quan sở tại
và xã quan làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì cho hạn 1 năm. Vì việc
quan phải đi xa không theo luật này" ( Điều 308 Bộ luật Hồng Đức). Bên cạnh đó,
Bộ Luật Hồng Đức cũng quy định xử nặng đối với trường hợp xâm phạm thân thể
của người vợ. Điều 404 nếu "người chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh
người bị thương nhưng nhẹ hơn 3 bậc" hay trong Điều 309 buộc người chồng
phải tôn trọng thứ bậc của người vợ trong gia đình "Ai lấy nàng hầu lên làm
vợ thì xử tội phạt, vì quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm".
Sau này, nhà làm luật triều Nguyễn soạn trong Hội điển điều tương tự: "Phàm
kẻ nào đem vợ cả làm vợ lẽ phải phạt 100 trượng. Vợ cả còn sống mà đem vợ
lẽ làm vợ cả, phải phạt 90 trượng". Quy định này thể hiện nét nhân văn sâu sắc
của Bộ Luật Hồng Đức trong việc bảo vệ quyền của người phụ nữ.
* Quyền nhân thân của người vợ trong mối quan hệ với các con
Theo lễ giáo phong kiến thì người chồng là người chủ gia đình (người
gia trưởng) và trong mối quan hệ với các con về thực chất người chồng chiếm
nhân thân của người phụ nữ.
1.2.1.2. Quyền của người phụ nữ trong pháp luật Việt Nam thời kì
pháp thuộc
Kế thừa những nội dung tiến bộ về quyền của người phụ nữ mà pháp
luật phong kiến Việt Nam đã ghi nhận, pháp luật thời kì này cũng có một số
23
quy định thể hiện được quyền của người phụ nữ và bảo vệ quyền của người
phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng thông qua việc quy định duyên cớ mà
người vợ có thể xin ly hôn người chồng. Cụ thể, Điều 118 Bộ luật Trung Kì
1936 quy định cho phép người vợ có thể xin ly hôn trong những trường hợp
sau đây:
- Chồng không làm những nghĩa vụ đã cam kết khi kết hôn là phải
nuôi dưỡng con tùy theo kế sinh nhai;
- Chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do chính đáng và không lo
liệu việc nuôi nấng con cái;
- Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ con ra khỏi nhà.
Có thể nói rằng, những quy định này bắt đầu thể hiện việc "cởi trói"
cho người phụ nữ. Các quy định về duyên cớ mà theo đó người vợ có thể xin
ly hôn đem đến cho người vợ một sự bình đẳng nhất định so với người chồng.
Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của quan niệm bảo vệ quyền gia trưởng nên người
đàn ông vẫn là "người nắm quyền hành xử", người vợ vẫn chỉ là người thực
hiện mệnh lệnh từ phía người chồng.
1.2.2. Quyền của ngƣời phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia
đình từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
1.2.2.1. Quyền của người phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia
đình giai đoạn từ 1945 đến 1954
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ
trong gia đình có ý nghĩa rất lớn.
Sắc lệnh 159/SL được ban hành ngày 17 tháng 11 năm 1950 quy định
về duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng. Theo đó, vợ chồng bình đẳng
với nhau về quyền xin ly hôn. Quy định này, thể hiện sự "giải phóng" người
phụ nữ khỏi sự "trói buộc" của pháp luật phong kiến về việc hạn chế quyền
xin ly hôn từ phía người vợ. Cụ thể, Điều 2 Sắc lệnh số 159/SL quy định: Vợ,
chồng đều có quyền ly hôn nếu một bên ngoại tình; một bên can án phạt giam;
một bên mắc bệnh điên hoặc bệnh khó chữa khỏi; một bên bỏ nhà đi quá hai
năm không có duyên cớ chính đáng; vợ, chồng tình hình không hợp hoặc đối
xử với nhau đến nổi không thể chung sống được.
25