ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
*
LÊ THỊ THUỶ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
HỆ CỬ NHÂN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TẠI KHOA SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Hà Nội – 2008
LUẬN VĂN HOÀN THÀNH TẠI:
KHOA SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
*
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Đặng Xuân Hải
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Khoa Sư phạm - Đại học
Quốc gia Hà Nội
Họp tại:....................................................................................................................................
Vào hồi:...................................................................................................................................
gian qua, Khoa Sư phạm đã đóng góp phần đáng kể trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
giáo dục. Qua hình thức liên kết với các đơn vị ở địa phương khác Khoa triển khai đào tạo
cử nhân quản lý giáo dục phần nào đã tạo ra nguồn lực tại chỗ, phục vụ nhu cầu cán bộ
quản lý cho các địa phương, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các
cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu công tác trong điều kiện mới. Bên cạnh những kết quả đạt
được, Khoa sư phạm do mới được thành lập, các cán bộ quản lý đào tạo trẻ về tuổi đời và
tuổi nghề do đó vẫn còn lúng túng trong việc quản lý các lớp liên kết đào tạo với các địa
33
phương phần nào ảnh hướng tới chất lượng đào tạo. Xuất phát từ ý nghĩa và tính cấp thiết
trên tác giả quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử
nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm- Đại học Quốc gia Hà Nội” để nghiên cứu
trong luận văn với hy vọng đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi trong
hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
hợp lý góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Khoa.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những đặc trưng của công tác quản lý đào tạo, từ đó đề
xuất một số biện pháp quản lý, cũng như một quy trình quản lý hoạt đào tạo
cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo hệ cử nhân này trong hoàn cảnh hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân nói
chung và hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục nói riêng có tác động để tìm ra một
số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo phù hợp (đối tượng học, đặc thù công việc, địa bàn
mở lớp...)
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý
giáo dục ở Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội – chỉ ra nguyên nhân của thực trạng.
Khảo sát và sử dụng các số liệu đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục tại
Khoa Sư phạm từ các năm 2003 trở lại đây.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục
của Khoa Sư phạm, chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa
học để tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các cơ sở khác trong cả nước đang
đào tạo cử nhân quản lý giáo dục. Nó còn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo
dục.
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích tài liệu, nghiên cứu các văn
bản về quản lý đào tạo nói chung và chương trình đào tạo cử nhân quản lý giáo dục nói
riêng, tổng hợp các quan điểm, lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi,
tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia.
- Phóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân tích
thống kê.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục
tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục
tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
được mục tiêu của nó.
1.2.3.2. Đặc trưng của quản lý giáo dục.
- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên quản lý giáo
dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không
được phép tạo ra phế phẩm.
-Quản lý giáo dục chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm sư phạm so với lao động
xã hội nói chung.
- Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất,
tính liên tục, tính kế thừa,tính phát triển…
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, quản lý giáo dục phải quán triệt quan
điểm quần chúng.
1.2.3.3. Chức năng của quản lý giáo dục.
37
Quản lý giáo dục cũng có những chức năng cơ bản của quản lý nói chung đó là:
lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra cùng với các hoạt động chung là thông tin và
quyết định.
1.2.4. Khái niệm về chất lượng đào tạo
1.2.4.1. Chất lượng
Chất lượng là sự đáp ứng mục tiêu, đáp ứng yêu cầu của thị trường và xã hội.
1.2.4.2. Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là sự phù hợp của các nhiệm vụ giáo dục cụ thể với các
mục tiêu cần đạt được về phát triển nhân cách mỗi của mỗi cá nhân người học với các
chuẩn trách nhiệm trong giới hạn được công chúng chấp nhận và thống nhất thể hiện ở
mức độ đóng góp nhân cách được đào tạo vào sự phát triển xã hội.
1.2.4.3. Chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là trình độ đạt được so với mục tiêu đào tạo thể hiện ở trình
độ phát triển nhân cách của sinh viên sau khi kết thúc qua trình đào tạo, được xem xét,
Từ các định nghĩa trên có thể suy ra đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là tập hợp các
cán bộ quản lý giáo dục đang giữ các chức vụ quản lý trong hệ thống giáo dục.
1.3. Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân
quản lý giáo dục
1.3.1. Mục tiêu đào tạo cử nhân quản lý giáo dục
Chương trình đào tạo nhằm giúp trang bị cho học viên các kiến thức:
- Nắm vững những kiến thức cơ bản, nền tảng, những kiến thức chuyên ngành bước đầu về
khoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục.
- Nắm vững những kiến thức cập nhật, hiện đại và các phương pháp nghiên cứu của khoa
học giáo dục nới chung và khoa học quản lý giáo dục nói riêng.
Chương trình đào tạo nhằm giúp trang bị cho học viên các kỹ năng:
- Kỹ năng vận dụng những kiến thức về khoa học giáo dục và quản lý giáo dục vào quản lý
các cơ sở giáo dục và các hoạt động sư phạm;
- Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các hoạt động giáo dục và kỹ năng giao
tiếp trong quản lý giáo dục;
Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo cử nhân quản lý giáo dục có thể:
- Có khả năng tham gia công tác quản lí các cơ sở giáo dục và đào tạo;
- Có khả năng nghiên cứu về khoa học giáo dục cũng như khoa học quản lý giáo dục;
- Làm việc tại các cơ quan quản lý giáo dục ở các cấp hoặc các tổ chức cần sử dụng đến
kiến thức quản lý giáo dục;
1.3.2. Những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn phát triển
giáo dục hiện nay
Một trong những vấn đề có tính thời sự hiện nay của đời sống giáo dục nước ta
cũng như trên toàn cầu, đó là vấn đề quản lý giáo dục và người cán bộ quản lý giáo dục,
39
Như Bác Hồ đã dạy: vấn đề cán bộ có ý nghĩa quan trong quyết định sự thành công của
mọt sự nghiệp.
vụ ở tất cả các cấp.
40
1.3.4. Một số vấn đề về đào tạo cử nhân quản lý giáo dục.
Mỗi ngành đào tạo tất yếu đều có đặc thù riêng, cử nhân quản lý giáo dục là một
ngành có nhiều đặc thù, cụ thể:
-Học viên: học viên cử nhân quản lý giáo dục là những người học đã tham gia lao động
nghề trong lĩnh vực giáo dục. Đa số học viên ở tuổi trung niên họ đã có ít nhiều kinh
nghiệm trong giảng dạy, giáo dục, quản lý giáo dục.. Động cơ học tập của học viên đa
dạng. Giá trị của kiến thức sẽ tác động tới sự hình thành động cơ hoạt động, học tập, tính
tích cực và mục đích học tập của họ. Họ sẽ tích cực học khi họ thấy các kiến thức đó thực
sự có lợi cho công việc của họ. Họ muốn thu nhận được những điều bổ ích từ mỗi buổi
học. Tuy vậy số lượng học viên thường là những người đã có tuổi, nên cũng có những cản
trở nhất định trong quá trình học tập, sức ì của kinh nghiệm ảnh hưởng đến việc tiếp thu và
hình thành những kỹ năng mới.
- Giảng viên: là những người được chuẩn hoá, được đào tạo chuyên sâu về quản lý
giáo dục, có năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học, có hiểu biết và kinh nghiệm quản lý
giáo dục, quản lý nhà trường. Họ không chỉ am hiểu về lý luận quản lý mà có có khả năng
hướng dẫn học viên ứng dụng lý thuyết đó và giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế.
- Phương pháp học: Phương pháp học hiệu quả nhất đối với các cử nhân quản lý
giáo dục là phương pháp thích hợp nhất với tố chất của từng người theo sở thích, tính cách,
cách tư duy, môi trường, kinh nghiệm... ý thức được về các đặc điểm riêng biệt của mình
cùng với việc nắm vững các lý thuyết quản lý, kết hợp với kinh nghiệm trong hoạt động giáo
dục mà người học điều chỉnh cách học của mình để có thể phát huy các lợi thế đồng thời
khắc phục các hạn chế.
- Phương pháp giảng dạy: việc dạy học cho các học viên này được xác định không
chỉ là quá trình tích luỹ kiến thức về quản lý giáo dục mà là quá trình phát triển kỹ năng,
tập trung vào khả năng sử dụng lý thuyết quản lý đó trong các tình huống cụ thể trong công
Khoa Sư phạm – ĐHQGHN được thành lập theo Quyết định số
1841/TCCB ngày 21/12/1999 của Giám đốc ĐHQGHN với nhiệm vụ là thể
nghiệm một mô hình mới về đào tạo giáo viên trong 1 đại học đa ngành, đa
lĩnh vực, chất lượng cao. Ngoài ra, Khoa Sư phạm có nhiệm vụ đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ quản lí giáo dục, cán bộ nghiên cứu khoa học giáo dục và
chuyên gia trong một số lĩnh vực khoa học giáo dục mà Việt Nam đang cần,
như giáo dục hướng nghiệp, sức khoẻ tâm thần, quản lí hệ thống đào tạo và
việc làm v.v.
Để thực hiện những nhiệm vụ này, Khoa Sư phạm đã tận dụng sức mạnh
của qui chế đặc biệt của ĐHQGHN, huy động sức mạnh tổng hợp của các
trường thành viên, nơi tập trung nhiều nhà khoa học đầu ngành trong cả nước,
đồng thời huy động sự tham gia của các nhà giáo dục có uy tín trong nước và
quốc tế.
Có thể nói, sau gần 10 năm hoạt động, một thời gian xây dựng và phát
triển không dài nhưng Khoa đã thể nghiệm thành công mô hình mới về đào
tạo giáo viên và đã được xã hội chấp nhận, tồn tại đồng thời với mô hình
truyền thống và đang dần khẳng định vị trí của nó trong hệ thống giáo dục đại
học Việt Nam.
2.1.2. Sứ mạng
Ngay từ khi thành lập Khoa Sư phạm - ĐHQGHN đã được giao sứ
mạng cao cả là phấn đấu trở thành một những những cơ sở hàng đầu của Việt
nam về đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia về khoa học giáo dục và quản lý giáo
43
dục, nhà giáo chất lượng cao cho mọi bậc học, đồng thời triển khai nghiên
cứu, truyền bá, ứng dụng những thành tự mới nhất về khoa học giáo dục, khoa
học quản lý giáo dục, về đào tạo giáo viên chất lượng cao vào thực tế hoạt
động của mình.
1. Mô hình 3+1: 3 năm đào tạo kiến thức khoa học cơ bản tại các trường
thành viên của ĐHQGHN, và 1 năm đào tạo kiến thức nghiệp vụ sư phạm,
giáo dục tại Khoa Sư phạm
2. Mô hình 4 +1: đào tạo 1 năm kiến thức nghiệp vụ, thực tập sư phạm cho
những đối tượng đã tốt nghiệp một trường đại học.
Mục tiêu trong những năm tới của Khoa Sư Phạm là phấn đấu trở thành
Trường Giáo dục, thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội (School of
Education), với sứ mạng là đào tạo giáo viên, cán bộ Quản lí giáo dục, cán bộ
nghiên cứu khoa học giáo dục chất lượng cao hàng đầu trong cả nước.
2.1.4. Các chương trình đào tạo
Trong hơn 8 năm xây dựng và phát triển, Khoa Sư phạm - ĐHQGHN
luôn khẳng định vai trò là Khoa có mô hình đào tạo giáo viên chất lượng cao
trong một đại học đa ngành, đa lĩnh vực . Khoa hiện là là cơ sở đào tạo Tiến sĩ
Quản lý giáo dục sớm nhất trong cả nước. Khoa có hệ đào tạo giáo viên chất
lượng cao. Việc đào tạo giáo viên trong một đại học đa lĩnh vực được thực
hiện theo mô hình 3 + 1 và 4 + 1, kết hợp sức mạnh tổng hợp của tất cả các
đơn vị thành viên trong ĐHQGHN. Mô hình 3 + 1 được thiết kế với thời gian
đào tạo 3 năm kiến thức chuyên môn cơ bản tại các trường đại học thành viên
của ĐHQGHN và 1 năm rèn luyện kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm tại
Khoa Sư phạm. Mô hình 4 + 1 được thiết kế 1 năm rèn luyện kiến thức, kỹ
năng nghiệp vụ sư phạm, thực tập sư phạm cho các đối tượng đã tốt nghiệp
đại học với chuyên ngành có môn học ở bậc phổ thông. Tính đến năm học
2006 - 2007, quy mô đào tạo giáo viên theo mô hình: 3 + 1 là hơn 1250 học
viên thộc 6 ngành đào tạo: Sư phạm Toán, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Hoá, Sư
phạm Sinh học, Sư phạm Lịch sử, Sư phạm Ngữ văn; với môi hình 4 + 1 , hơn
45
100 học viên của 4 khoá đào tạo đã tốt nghiệp và nhận bằng cử nhân sư phạm
2.1.5. Đội ngũ cán bộ, giảng viên
Đội ngũ cán bộ, giảng viên trong Khoa hiện nay bao gồm: 48 Cán bộ,
viên chức do Khoa Sư phạm quản lý; 182 giảng viên giảng dạy tại các trường
đại học thành viên trong giai đoạn đào tạo cơ bản; 7 giảng viên đã nghỉ hưu
tiếp tục hợp đồng lao động tại Khoa Sư phạm; 29 giảng viên thỉnh giảng.
Hoạt động với cơ cấu mở nên huy động được sức mạnh tổng hợp của
ĐHQGHN, nhất là sức mạnh về đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản và khoa học
công nghệ hàng đầu của cả nước. Tuy nhiên, mô hình mở cũng gặp khó khăn
như: Triển khai các lộ trình nâng cao chất lượng đào tạo (ví dụ như triển khai
tín chỉ) và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; Thực hiện những chính sách
khuyến khích, động viên giảng viên tham gia đào tạo sư phạm (ví dụ như phụ
cấp ưu đãi giáo viên); Đào tạo giảng viên theo chiến lược phát triển chuyên
môn của Khoa (ví dụ những môn đào tạo đặc thù của Khoa trong giai đoạn
đào tạo cơ bản).
Khoa có hơn 40% đội ngũ giảng viên có trình độ thạc sĩ và trên 25% có
trình độ tiến sĩ; trên 20% giảng viên đủ trình độ ngoại ngữ để làm việc trực
tiếp với người nước ngoài; phát huy quyền tự chủ về học thuật. Trong
đó:100% giảng viên giảng dạy đúng trình độ chuyên môn được đào tạo, tự
chủ trong các hoạt động chuyên môn của mình; Phần lớn các giảng viên có
trình độ ngoại ngữ, tin học đủ để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên
cứu khoa học. 100% giảng viên áp dụng được phương tiện kỹ thuật hiện đại
vào việc giảng dạy. 100% giảng viên được sử dụng máy tính và tài khoản truy
cập internet để cập nhật kiến thức, giáo trình, bài giảng; phần lớn giảng viên
có thể tham gia các xeminar bằng ngoại ngữ tiếng Anh không cần phiên dịch.
2.2. Công tác đào tạo cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm.
Được giao nhiệm vụ đào tạo cử nhân quản lý giáo dục từ năm 2002,
Khoa Sư phạm đã liên kết với các cơ sở đào tạo tại địa phương triển khai đào
tạo chuyên ngành quản lý giáo dục theo hình thức không chính quy (chuyên
48
liên hệ kiến thức đang học với những kinh nghiệm mà họ có, giúp họ khái
quát chúng thành hệ thống.
Cũng như học sinh phổ thông, kinh nghiệm, thái độ, khả năng học tập
của những người lớn khác nhau thì khả năng học tập hoàn toàn khác nhau, có
người tiếp thu nhanh, có người lại chậm, có người có năng lực khái quát cao,
nhưng có người lại nhanh nhạy hơn khi tiếp thu những vấn đề cụ thể, trực
quan. Do đó, quá trình dạy học cho các đối tượng học viên này cũng cần được
cá biệt hoá, giúp mỗi người làm việc dựa vào khả năng riêng của mình thì quá
trình học tập sẽ diễn ra tích cực, sôi nổi hơn và người lớn sẽ tiếp thu kiến thức
dễ dàng hơn.
Thứ hai, động cơ học tập của học viên có mục đích cụ thể liên quan
đến việc làm, thu nhập hoặc sự thành đạt cá nhân
Động cơ, mục đích học tập của họ có những điểm khác với động cơ và
mục đích học tập của học sinh phổ thông. Học viên tham gia đào tạo cử nhân
quản lý giáo dục có thể vì sự phân công của tổ chức và do cấp trên yêu cầu họ
đi học, họ chỉ cố gắng học tập ở mức độ tối thiểu miễn sao hoàn thành khoá
học và có bằng; tuy nhiên cũng có một số tỷ lệ khá lớn học viên đi học là do
xuất phát từ nguyện vọng cá nhân muốn hiểu biết, muốn học để là tốt hơn và
thăng tiến trong công tác. Cũng có những học viên đi học do những đồng cơ
bên trong và kết hợp với động cơ bên ngoài. Những học viên này trước khi
được đề bạt làm cán bộ quản lý họ thường là giáo viên hoặc chuyên viên. Với
tính chất của công việc mới yêu cầu cao, họ phải chịu trách nhiệm trước thành
bại của cả một tập thể, những quyết định của họ liên quan đến nhiều người.
Nói một cách khác là họ đã chuyển nghề, nêu nhu cầu đi học để có kiến thức
về quản lý giáo dục để “hành nghề” là đòi hỏi bức xúc của công việc và cũng
là tiêu chuẩn do tổ chức đòi hỏi với cương vị của họ. Với một số người thì
lại quay về với công việc của mình. Chính vì vậy mà thời gian dành cho việc
học tập của không nhiều: phần lớn việc học tập của họ chỉ giành thời gian khi
học tập tập trung, còn lại sau đó thì hầu như không được quan tâm.
50
2.2.2. Đặc điểm của cơ sở liên kết đào tạo
Địa điểm tổ chức đào tạo là các trường cao đẳng, các trung tâm giáo dục
thường xuyên của các tỉnh vì thế cơ sở vật chất của các đơn vị liên kết đào tạo
phần đa chưa đáp ứng được yêu cầu về phòng thí nghiệm, các cơ sở thực tập,
trang thiết bị dạy học hiện đại, thư viện... Các cơ sở liên kết chưa tham gia
giảng dạy được nhiều các môn học trong chương trình đào tạo mà chỉ dừng lại
ở mức phối hợp quản lý lớp và học viên.
2.2.3. Các hệ đào tạo
Các hệ đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục ở Khoa là hệ chuyên tu
(học 24 tháng) và hệ tại chức (học 27 tháng)
2.3. Thực trạng đội ngũ quản lý và giảng viên giảng dạy chuyên ngành
quản lý giáo dục
2.3.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng Đào tạo
Phòng đào tạo gồm 8 người: 01 trưởng Phòng, 03 chuyên viên quản lý
đào tạo và xây dựng kế hoạch tiến độ, lịch trình giảng dạy, 01 chuyên viên
thư viện, 01 chuyên viên kiêm nhiệm quản lý đào tạo, 01 người là giảng viên
kiêm nhiệm trợ lý đào tạo.
Trình độ chuyên môn: 01 là tiến sĩ, 05 người có trình độ thạc sĩ, 02
người tham gia học cao học, 04 người có trình độ đại học. Độ tuổi trung bình
là: 37 tuổi, đều trong độ tuổi từ 30 đến 50, 06 người là nam và 02 nữ thể hiện
một tỷ lệ nam - nữ không đồng đều.
Phân công chức trách, nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân:
- Trưởng Phòng: Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Chủ nhiệm
có các lớp cử nhân quản lý giáo dục với lực lượng cán bộ, chuyên viên còn
mỏng đã làm ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả công việc, nhiều công việc đã
lập kế hoạch nhưng không tổ chức thực hiện được hoặc thực hiện chưa đúng
tiến độ.
52
2.3.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy chuyên ngành quản lý giáo
dục
Giảng viên là chủ thể của toàn bộ quá trình đào tạo. Họ là những "kỹ
sư" vừa thiết kế, vừa trực tiếp tham gia thi công trong từng khâu, từng giai
đoạn của quá trình đào tạo. Đây là nhân tố cơ bản nhất quyết định tới sự thành
công và phát triển của công tác đào tạo. Do giới hạn về mặt quy mô của Khoa
nên ngoài đội ngũ giáo viên cơ hữu của Khoa, trong quá trình đào tạo Khoa
đã phải ký hợp đồng với giảng viên giảng dạy từ các đơn vị khác.
Trước tiên chúng ta hãy cùng xem xét thực trạng đội ngũ cán bộ giảng
viên cơ hữu giảng dạy chuyên ngành QLGD của Khoa.
2.3.2.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên cơ hữu giảng dạy chuyên ngành
QLGD của Khoa.
Tổng số giảng viên cơ hữu giảng dạy của Khoa là 35 người trong đó có
14 là giảng viên giảng dạy chuyên ngành quản lý giáo dục.
* Thực trạng đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy chuyên ngành QLGD được
thể hiện cụ thể qua bảng thống kê sau
Bảng 2.1: Bảng thống kê về thực trạng đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy
chuyên ngành quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm
Tiêu chí thống kê
1. Tổng số:
Số
Nữ
3. Độ tuổi: (độ tuổi trung bình = 48 tuổi)
Dưới 35 tuổi
Từ 35 - 45 tuổi
Trên 45 tuổi
4. Trình độ:
Tiến sĩ
Thạc sĩ
(Nguồn: Bộ phận Tổ chức cán bộ của Khoa - năm 2007)
53
* Đánh giá về thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy chuyên ngành của
Khoa
Qua bảng thống kê trên cho thấy rõ tình hình thực trạng đội ngũ giảng
viên cơ hữu giảng dạy chuyên ngành QLGD của Khoa. Phân tích kỹ lưỡng
chúng ta có thể đưa ra các nhận định về điểm mạnh, điểm yếu cũng như là
nguyên nhân của thực trạng nêu trên:
- Điểm mạnh
+ Giáo viên đạt chuẩn 100% về đào tạo hệ đại học ở mọi mặt: trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ sư phạm, phẩm chất chính trị.
+ Đội ngũ giảng viên đa số có thâm niên cao, công tác tại các trường cao
đẳng, đại học và ở Khoa đã nhiều năm nên có nhiều kinh nghiệm trong giảng
dạy cũng như kinh nghiệm thực tế nghề nghiệp.
+ Tất cả giảng viên có phẩm chất chính trị tốt, luôn phấn đấu và rèn luyện vì sự
nghiệp chung của Đảng, của Nhà nước, vì sự phát triển giáo dục.
Giảng viên giảng dạy chuyên ngành này đều có ý thức về việc đổi mới,
cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức dạy học, tuy nhiên do đặc điểm
của loại hình này là học cuốn chiếu từng môn nên giảng viên thường dùng
phương pháp thuyết trình để truyền tải hết nội dung của bài học.
2.4. Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo
dục của Khoa Sư phạm
Hiện nay Khoa Sư phạm - ĐHQGHN có 6 đơn liên kết mở lớp cử nhân
QLGD trải dài khắp từ Bắc đến Tây Nguyên Các đơn vị liên kết thường là các
trường cao đẳng, Trung tâm Giáo dục thường xuyên của tỉnh. Các đơn vị này
đứng ra xin thành lập các trạm để đào tạo cán bộ QLGD phục vụ trực tiếp cho
tỉnh mình. Học viên của các đơn vị liên kết đào tạo là giáo viên, cán bộ trực
thuộc phòng và sở giáo dục và đào tạo và cán bộ quản lý của các trường phổ
thông của tỉnh được cử đi học và về phục vụ lại cho ngành phần lớn họ được
tài trợ học phí, tạo điều kiện về thời gian để học tập. Các đối tượng này có
động cơ học tập rõ ràng, có kinh nghiệm nghề nghiệp đã từng qua công tác
55