VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU
MỐI QUAN HỆ PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ
TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ VỚI CÁC VÙNG LÂN CẬN
TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHANH VÀ
BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
BÁO CÁO TÓM TẮT
HÀ NỘI-2010
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI CẤP BỘ
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU
MỐI QUAN HỆ PHÁT TRIỂN GIỮA VÙNG KINH TẾ
TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ VỚI CÁC VÙNG LÂN CẬN
TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHANH VÀ
BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG HỢP
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN:
PGS. TS. Ngô Doãn Vịnh-Cố vấn khoa học
TS. Lê Văn Nắp Chủ nhiệm đề tài
Các thành viên tham gia: CN. Nguyễn Tiến Huy
CN. Nguyễn Thị Thu Trang
De tai KH 2009
Nội dung
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
Công nghiệp hóa
Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long
Tổng sản phẩm quốc nội
Giá trị sản xuất
Hiện đại hóa
Khu công nghiệp
Khoa học-Công nghệ
Khoa học kỹ thuật
Kinh tế trọng điểm
Kinh tế-Xã hội
Trung du miền núi Bắc bộ
Thành phố
Xây dựng cơ bản
Xã hội chủ nghĩa
3
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
5
Phần thứ ba
Kết luận và một số kiến nghị
I. Đánh giá chung
1. Về mô hình
2. Tổ chức ứng dụng mô hình
II. Một số kiến nghị
1. Đối với mô hình
2. Điều kiện và tổ chức triển khai ứng dụng
25
25
25
26
26
26
27
Tài liệu tham khảo
29
De tai KH 2009
4
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
hình liên vùng nghiên cứu các vùng lãnh thổ khác của cả nước.
3. Yêu cầu
1)
Theo số liệu thống kê của Văn phòng Ban chỉ đạo Điều phối phát triển các vùng KTTĐ thì năm 2008 các vùng
KTTĐ đóng góp vào GDP tới khoảng 71,6% toàn nền kinh tế, 89,7% thu ngân sách quốc gia [12].
De tai KH 2009
5
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
Kết quả của đề tài phải thỏa mãn những yêu cầu sau:
- Phải phù hợp với điều kiện thực tế của vùng lãnh thổ, cụ thể là vùng KTTĐ Bắc bộ,
với mục tiêu khai thác hiệu quả tài nguyên và thế mạnh của vùng để phát triển nhanh và bền
vững.
- Những kết quả chỉ ra được một số mối quan hệ liên vùng của vùng KTTĐ Bắc bộ với
các vùng lân cận.
- Mô hình được xây dựng có thể áp dụng được cho các vùng khác.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự hoạt động KT-XH các tỉnh trong phạm vi vùng
KTTĐ Bắc bộ và các vùng khác, gồm tiểu vùng Nam Đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du
và miền núi Bắc bộ.
Chỉ nghiên cứu thử nghiệm một số đặc trưng của mô hình liên vùng, ứng dụng trong
việc nghiên cứu khả năng quan hệ trao đổi và hợp tác phát triển giữa vùng KTTĐ Bắc bộ với
các vùng Nam Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi Bắc bộ, nhằm cung cấp thêm cơ
sở cho việc xây dựng quy hoạch phát triển KT-XH vùng KTTĐ Bắc bộ.
5. Phương pháp nghiên cứu
những hệ thống con”. “Nghiên cứu hệ thống các lãnh thổ cần phải nghiên cứu cả các mối
quan hệ nội bộ vùng và quan hệ liên vùng” [6].
- Vùng kinh tế: Có thể hiểu vùng kinh tế-xã hội theo định nghĩa của Viện Chiến lược
phát triển trong hệ thống các thuật ngữ như sau: Vùng kinh tế-xã hội là “một bộ phận của
lãnh thổ quốc gia có các hoạt động kinh tế-xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động
xã hội. Đây là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp lớn nhất, phục vụ việc hoạch định
các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát
triển kinh tế-xã hội trên mỗi vùng của đất nước”[13].
- Vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm là một vùng lãnh thổ trong hệ
thống các vùng của đất nước. Có thể định nghĩa Vùng kinh tế trọng điểm là “một bộ phận của
lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn,
giữ vai trò động lực-đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước”[8]. Đóng vai trò là một
vùng lãnh thổ, Vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia là một phạm trù lịch sử, có thể thay đổi
theo thời gian. Số lượng và phạm vi lãnh thổ của mỗi vùng kinh tế trọng điểm sẽ thay đổi
theo yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
- Xử lý liên vùng: Theo định nghĩa trong hệ thống thuật ngữ Viện Chiến lược phát
triển biên soạn thì “Việc xử lý các mối quan hệ giữa các vùng với nhau nhằm tránh sự chồng
chéo, cản trở lẫn nhau theo trật tự phân công lao động theo lãnh thổ, sử dụng không hiệu
quả các nguồn tài nguyên... tạo ra sự phát triển thống nhất, hài hoà trên phạm vi cả nước là
những nhiệm vụ của việc xử lý liên vùng”[13]. “Nghiên cứu các mối quan hệ liên vùng tức là
nghiên cứu các mối liên hệ không gian giữa các vùng lãnh thổ. Về thực chất nghiên cứu mối
quan hệ liên vùng là nghiên cứu về phân công lao động theo vùng. Có các dạng phân công
lao động theo các cấp độ khác nhau như: phân công lao động trên phạm vi toàn thế giới, khu
vực, quốc gia, vùng kinh tế, tỉnh, bộ phận một tỉnh” [7].
- Phân vùng kinh tế: Phân vùng là một khoa học tổng hợp, đã được các nhà khoa học
trong và ngoài nước nghiên cứu từ lâu. Đó là việc nghiên cứu cơ sở cho việc phân chia lãnh
thổ quốc gia thành các vùng kinh tế-xã hội phục vụ cho công tác quản lý, hoạch định chính
sách phát triển. Các vùng kinh tế-xã hội có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau. Hiện nay
cả nước có 6 vùng lớn và 4 vùng KTTĐ như sau: Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (gồm
- Đánh giá vị trí của vùng được nghiên cứu trong mối quan hệ với các vùng lãnh thổ
khác, với cả nước và với các nước (nếu có điều kiện) về hệ thống giao thông, giao lưu kinh tế
và văn hoá.
b) Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và lao động
Tài nguyên thiên nhiên sẽ là một trong những điều kiện quyết định khả năng phát triển
chuyên môn hoá ban đầu cho vùng. Vùng nào đó giàu tài nguyên thiên nhiên về đất, khoáng
sản sẽ có cơ hội phát triển mạnh các ngành chuyên môn hoá về khai khoáng và các ngành có
đầu vào là nguồn nguyên liệu phong phú tại chỗ.
Nhu cầu về các nguồn tài nguyên của vùng luôn luôn biến động, lĩnh vực chuyên môn
hóa, khả năng chuyên môn hóa và mức độ chuyên môn hóa cũng sẽ thay đổi. Điều đó phụ
thuộc vào mục tiêu phát triển của vùng, phụ thuộc vào khả năng khai thác của vùng, phụ
thuộc vào kỹ năng, kỹ thuật lao động vùng. Lao động cho sản xuất cũng như quy mô và các
điều kiện sẵn sàng cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Tài nguyên thiên nhiên tác động đến mối quan hệ liên vùng bao gồm: Tài nguyên đất;
tài nguyên rừng; tài nguyên biển; tài nguyên khoáng sản; tài nguyên du lịch; nguồn lao động.
c) Hệ thống kết cấu hạ tầng
De tai KH 2009
8
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống các tuyến giao thông huyết mạch, cảng biển, sân
bay được coi là những điều kiện nền tảng, bộ khung của lãnh thổ. Hệ thống các cửa vào, ra
như sân bay, cảng biển, đầu mối các ga đường sắt nối các vùng, tạo điều kiện thúc đẩy những
quan hệ liên vùng, trao đổi giữa các vùng trọng điểm và không trọng điểm, giữa vùng phát
triển và các lãnh thổ khó khăn. Hệ thống kết cấu hạ tầng có ý nghĩa vô cùng quan trong trong
phát triển kinh tế thông qua việc là phương tiện giao thương kinh tế giữa các vùng, giữa các
Trong nghiên cứu mối liên hệ vùng người ta thường đề cập tới những chỉ tiêu đánh giá
về vị trí vùng, đánh giá chất lượng vùng và những chỉ tiêu liên quan đến quan hệ liên vùng.
Có thể mô tả các chỉ tiêu đó như sau:
De tai KH 2009
9
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
(1) Chỉ tiêu đánh giá vị trí, vai trò của vùng trong hệ thống các vùng. Chỉ tiêu này
nhằm làm rõ quy mô, mức độ thuận lợi, khó khăn; vị trí của vùng đó với cả nước. Đó là vùng
“chỉ huy” hay vùng phụ thuộc; vùng trọng điểm nay vùng vệ tinh. Chỉ tiêu (ID1: Vị trí vùng)
là tỷ lệ giữa vùng nghiên cứu với cả nước theo các yếu tố như diện tích, dân số, quy mô sản
xuất, ... được tính bằng công thức sau:
F (Ri)
ID1 =
(1)
F (TOT)
Ở đây:
TOT: Ký hiệu cả nước.
F: Biểu thị các yếu tố như diện tích, dân số, GDP, lao động, giá trị xuất khẩu,...
Ri: Biểu thị vùng i; i: Chỉ số các vùng nghiên cứu (i=1,...);
Các chỉ tiêu loại này cho biết quy mô của vùng theo từng chỉ tiêu. Tỷ lệ càng lớn, quy
mô của vùng càng lớn.
(2) Đánh giá về chất lượng của các vùng.
- Chỉ tiêu ID2: Bình quân đầu người là tỷ lệ giữa các ‘sản phẩm’ (yếu tố) so với dân
số của vùng, được tính theo công thức:
Q (k,i)
- Chỉ tiêu ID4: Vùng xuất, nhập khẩu được tính bằng giá trị hàng hóa xuất ra khỏi
vùng i trong tổng GDP của vùng i.
EX (i)
ID4 =
(4)
GDP (i)
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng xuất ra khỏi vùng của vùng được nghiên cứu. Nó cũng
nói rõ vùng thừa hoặc thiếu loại gì.
- Chỉ tiêu ID5: : Cân đối xuất nhập là tỷ lệ giữa lượng xuất ra khỏi vùng i so với
lượng nhập vào vùng.
EX (i)
ID5 =
(5)
IM (i)
- Chỉ tiêu ID6: Hệ số chủ động (Xuất/(xuất+nhập)).
EX (i)
ID6 =
(6)
(EX + IM) (i)
Những chỉ tiêu này sẽ góp thêm tư liệu cho các kết luận về tính chất, chất lượng các
vùng và mối quan hệ trao đổi các dòng vật chất giữa các vùng.
II. HƯỚNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG
1. Tổng quan về sử dụng mô hình liên vùng trong nghiên cứu vùng ở Việt Nam
Việc sử dụng các mô hình để nghiên cứu phân vùng cũng như tổ chức không gian lãnh
thổ kinh tế đã được các cơ quan, các Viện, các trường Đại học tổ chức nghiên cứu ngay từ
những năm 50-60 của thế kỷ XX.
Từ những năm 1955-1956 các giáo sư tại trường Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế
quốc dân (trước đây là trường Đại học Kinh tế tài chính) đã tổ chức nghiên cứu các mối quan
hệ các vùng, giúp Chính phủ phân chia một số Khu tự trị, nhằm khai thác tốt hơn khả năng ở
phát triển nông, lâm nghiệp, hình thành các vùng chuyên môn hoá tập trung và liên quan với
nhau trong hệ thống nền kinh tế quốc dân (xem trong Báo cáo tổng hợp).
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu tổ chức lãnh thổ, trong đề tài KX-03-02 thuộc
Chương trình khoa học cấp Nhà nước mã số KX-03 đã đề xuất chia lãnh thổ nước ta thành
các dải lớn. Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất giai đoạn 1986-2000 được phê duyệt năm
1976 là một trong những kết quả có giá trị trong việc nghiên cứu mối quan hệ liên vùng và
vẫn còn tác dụng to lớn cho công tác xây dựng quy hoạch ngày nay.
Từ cuối những năm 80 đầu những năm 90, nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình đó, Theo
chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ kế hoạch và Đầu
tư) đã chủ trì phối hợp với các Bộ ngành Trung ương nghiên cứu qui hoạch phát triển kinh tếxã hội các vùng lớn cho thời kỳ 1996-2010. Xuất phát từ yêu cầu của công tác quy hoạch
vùng và tổ chức lãnh thổ trong thời kỳ đổi mới cả về nội dung và phương pháp đều phải được
nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp, mà trước hết là điểu chỉnh lại hệ thống vùng. Kế thừa các
kết quả nghiên cứu về vùng từ trước, nhấn mạng yếu tố trung tâm và mối quan hệ kinh tế nội
vùng và liên vùng… Viện Chiến lược phát triển đã phân chia đất nước thành 8 vùng kinh tế
và 3 vùng kinh tế trọng điểm để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội các
vùng đến năm 2010.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phân vùng kinh tế và mô hình liên vùng Viện Chiến
lược phát triển đã xây dựng và ban hành phưong pháp qui hoạch vùng, kể cả vùng kinh tế
trọng điểm và phương pháp qui hoạch tổng thể kinh tế-xã hội tỉnh. thành phố; chỉ đạo, hướng
dẫn và hỗ trợ tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội đến năm 2010. Thủ trướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt hệ thống 8 vùng
kinh tế do Viện Chiến lược phát triển đưa ra (xem trong Báo cáo tổng hợp).
2. Nghiên cứu mô hình liên vùng ở nước ngoài
Có thể nói ở hầu hết cac nước trên thế giới, nhất là những nước thuộc hệ thống XHCN
cũ đều nghiên cứu lý luận về phân vùng và các mối quan hệ liên vùng. Người ta cho rằng
“bất cứ nền sản xuất xã hội nào đều phải nằm trong một vùng lãnh thổ nhất định. Phân công
lao động theo lãnh thổ là sự phân biệt khác nhau của hệ thống sản xuất xã hội và quan hệ lẫn
3)
con người khác nhau. Do những khác biệt về lịch sử phát triển kinh tế, nên các vùng cũng có
những cơ sở sản xuất và thiết bị sản xuất trên thực tế không giống nhau. Những khác biệt trên
đây gây ra những chi phí sản xuất khác nhau, cũng như nhu cầu khác nhau cho từng chủng
loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, dẫn đến giá cả cũng thay đổi. Tuy vậy, những chênh lệch ấy
còn tạo ra những khác biệt về vùng và chu chuyển hàng hoá và dịch vụ giữa các vùng. Trạng
thái cân bằng sẽ được thiết lập khi cùng tham gia trao đổi lẫn nhau trên một địa bàn (một
“mậu dịch” chữ dùng của Ohlin). Từ những ý tưởng của lý thuyết này, hiện nay người ta
quan tâm đến các dòng luân chuyển, trao đổi liên vùng về công nghệ, kiến thức khoa học,
năng lực nghiên cứu, thông tin và năng lực sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra nhiều nhà khoa học khác cũng đã đưa ra những mô hình lý thuyết khác nữa,
song tựu chung lại có thể thấy tồn tại hai mô hình phát triển không gian khác nhau liên quan
đến việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế liên vùng. Đó là mô hình phát triển cân bằng và
mô hình phát triển không cân bằng. Những mô hình này cũng đã các nhà khoa học Việt Nam
nghiên cứu phân vùng và điều hành phát triển các vùng [11]. Nói một cách chính xác hơn là
mô hình liên vùng được xét ở 2 trạng thái cân bằng và không cân bằng.
3. Hướng ứng dụng mô hình liên vùng ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, cụ thể đối với việc nghiên cứu phát triển các vùng nói chung và
vùng KTTĐ nói riêng, trong điều kiện số liệu còn nhiều hạn chế cần sử dụng một mô hình
liên vùng đơn giản với một số chỉ tiêu cơ bản nhằm đánh giá cho được những vấn đề mấu
chốt sau:
De tai KH 2009
13
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
1) Xác định vị trí và chất lượng của từng vùng: Quy mô vùng, thuận lợi hay khó khăn,
vùng thừa hay thiếu cái gì, vùng chỉ huy hay vùng phụ thuộc.
2) Tính toán cho một số vùng theo các chỉ tiêu trên để xác định sơ bộ khả năng giao
- Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm 7 tỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải
Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh.
- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, gồm 5 tỉnh: Thừa Thiên Huế, TP Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm 8 tỉnh: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà RịaVũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước, Long An và Tiền Giang.
- Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL, gồm 4 tỉnh: Tp Cần Thơ, Cà Mau, An Giang
và Kiên Giang.
Các vùng KTTĐ đều có những đặc điểm chung như sau:
- Theo quy định của việc phân chia lãnh thổ thì các tỉnh trong các vùng nói chung và
vùng KTTĐ nói riêng đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau về mặt địa lý cũng như về kinh
tế.
- Vùng KTTĐ là lãnh thổ, tuy không có một cơ quan hành chính điều hành chung,
nhưng các chủ trương, chính sách về các vùng này được quyết định với danh nghĩa như
những văn bản pháp lý Nhà nước, thông qua người đứng đầu Tổ chức điều hành là Phó Thủ
tướng Chính phủ.
- Vùng KTTĐ có điều kiện thuận lợi hơn, mang tính chất đầu tầu.
2. Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Vùng KTTĐ Bắc bộ gồm 7 tỉnh/thành phố. Đó là thành phố là Hà Nội (gồm cả Hà Tây
cũ), Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Toàn vùng có
tổng diện tớch 15.599 km2, bằng 4,7% diện tớch cả nước và dân số là 14 triệu người, bằng
16,4% so với cả nước 4).
2.1. Tiềm năng, cơ hội và những lợi thế của Vùng
a) Tiềm năng, lợi thế của vùng
4)
Liên quan đến vùng KTTĐ Bắc bộ, ngoài Quyết định 145/2004/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng
Chính phủ về phương hướng phát triển riêng cho vùng KTTĐ, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 54-NQ/TW về Phương
hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng, trong đó hạt nhân là vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Hiện
đang chuẩn bị lập quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng KTTĐ.
1.1. Tiềm năng và phát triển kinh tế
Tiểu vùng Nam ĐBSH gồm 4 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình. Là phần
chậm phát triển hơn tiểu vùng Bắc của vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Nam ĐBSH có
tổng diện tích tự nhiên gần 5.460 km2, chiếm 25% vùng và 1,65% cả nước, dân số năm 2008
có 5,6 triệu người, chiếm 28,6% cả vùng và 6,5% cả nước.
Thế mạnh chủ yếu của vùng:
- Vùng có quỹ đất nông nghiệp lớn và đang được khai thác có hiệu quả.
- Trong vùng cón có vùng biển khá rộng, thuận lợi cho việc phát triển thủy, hải sản và
tổ chức giao thương kinh tế với các vùng và phát triển du lịch biển.
- Vùng có nguồn lao động dồi dào, tuy lao động chất lượng cao còn thiếu song với
nguồn lao động đó cộng với phát triển đào tạo nghề sẽ mang lại một lợi thế rất lớn cho vùng
trong lĩnh vực này.
5)
Tiếp giáp với Trung Quốc sẽ mang lại lợi ích về thị trường giao thương nhưng phải đối mặt với thực trạng phát triển
kinh tế và cơ sở hạ tầng của phía Trung Quốc. Theo báo cáo của phía Trung Quốc trong Khu kinh tế Vịnh Bắc bộ của
Trung Quốc giáp với Quảng Ninh có các cảng biển Phòng Thành, Bắc Hải, Trạm Giang với tổng công suất đến 300
triệu tấn/năm, riêng cảng biển Phòng Thành có công suất tới khoảng 50-60 Tr.T/năm. Tại đây còn có nhà máy luyện
thép 6 Tr.T/năm, nhà máy lọc hóa dầu 12 Tr.T/năm, nhà máy điện công suất khoảng 1000MW.
De tai KH 2009
16
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
1.2. Phương hướng phát triển
- Khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch và khoáng sản. Khai thác tốt tiềm
năng đá vôi, sản xuất xi măng, đá xây dựng, sét làm gạch ngói. Khi có điều kiện và có nhu
Cạn, Thái Nguyên, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Phú Thọ và Bắc Giang, vùng
Trung du miền núi Bắc bộ có diện tích tự nhiên xấp xỉ 95.000 km2. Dân số trung bình năm
2008 có 11,2 triệu người. Như vậy vùng TDMNBB chiếm gần 29% diện tích và 13,05% dân
số cả nước.
1.1. Tiềm năng phát triển
- Vùng có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển thuỷ điện (toàn vùng chiếm tới 70%
trữ năng thuỷ điện toàn quốc), đảm bảo nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
De tai KH 2009
17
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
- Vùng TDMNBB còn có nhiều loại khoáng sản, có loại lớn nhất cả nước như Apatit
Lào Cai (2,1 triệu tấn), Photphorit Phú Thọ, sắt Thái Nguyên, Lào Cai và nhiều tỉnh khác;
Thiếc có ở Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn...Đồng ở Bát Xát (Lào Cai); Đá
vôi, cao lanh tỉnh nào cũng có; Đất hiếm ở Lai Châu; Nước khoáng nóng ở Hoà Bình, Tuyên
quang, Sơn la, Yên Bái và nhiều loại khoáng sản khác.
- TDMNBB là vùng có khả năng mở rộng diện tích lâm nghiệp, trên cơ sở trồng rừng.
- Vùng còn có các cửa khẩu và chợ biên giới với Trung Quốc và Lào.
1.2. Phương hướng phát triển
- Phát triển công nghiệp thuỷ điện, chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng, khai
khoáng và tiểu thủ công nghiệp,… Phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
- Tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, thuỷ lợi, cấp nước, thuỷ điện,...
- Phát triển kinh tế giải biên giới gắn với kinh tế cửa khẩu và quốc phòng an ninh.
- Phát triển các ngành kinh tế có thế mạnh.
- Phát triển thương mại hiện đại, khai thác các cửa khẩu biên giới, buôn bán với Trung
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
2.1. Quá trình ứng dụng mô hình liên vùng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa
vùng KTTĐ Bắc bộ và các vùng lân cận
1) Xác định đối tượng nghiên cứu ứng dụng. Đối tượng ở đây được xác định là các
vùng có liên quan với nhau, gần nhau về mặt địa lý, có quan hệ với nhau về sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm và có khả năng liên kết hợp tác phát triển.
2) Xác định nguồn dữ liệu. Nguồn dữ liệu bao gồm nguồn cung cấp các số liệu để tính
toán các chỉ tiêu của mô hình, các tài liệu liên quan đến hiện trạng và phương hướng phát
triển các vùng, trong đó có những chỉ tiêu chưa lượng hoá được.
3) Tổ chức tính toán mô hình gồm những công việc sau:
- Xây dựng bộ ‘sản phẩm’ (yếu tố) chủ yếu trong quan hệ giữa các vùng (các phần tử
của mô hình). Số lượng các yếu tố càng nhiều càng tốt, nhưng cần nhất là phải có thể tìm
kiếm được số liệu để tính toán.
- Tính các chỉ tiêu theo công thức đã trình bày trong phần mô tả mô hình.
- Kết luận về kết quả tính toán.
4) Đánh giá kết quả cuối cùng. Kết hợp kết quả tính toán các chỉ tiêu trên với những
dữ liệu khác thu thập được đưa ra kết luận về khả năng trao đổi, hợp tác giữa các vùng nghiên
cứu.
2.2. Tổ chức thực hiện
1) Xác định phạm vi ứng dụng.
Phạm vi ứng dụng của đề tài là sử dụng mô hình (gồm các biểu thức biểu thị) vào việc
nghiên cứu mối quan hệ liên vùng, giữa vùng KTTĐ Bắc bộ với các vùng lân cận, gồm tiểu
vùng Nam ĐBSH và vùng TDMNBB.
2) Xác định nguồn tư liệu.
Số liệu để tính toán các chỉ tiêu của mô hình là hệ thống số liệu thống kê của Tổng cục
Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và số liệu của Văn phòng Ban Chỉ đạo điều phối phát triển
các vùng KTTĐ. Các tư liệu khác sử dụng các bản quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của
các vùng, các tỉnh trong các vùng nghiên cứu.
3) Xác định bộ ‘sản phẩm’ (yếu tố) của mô hình.
GDP/người (GDPPP)
Xuất khẩu (EX)
Nhập khẩu (IM)
Giá trị SX nông nghiệp
(RURGO)
Giá trị SX công nghiệp
(MUNGO)
Sản lượng lương thực (PRO)
Tổng mức bán lẻ HH (REG)
Số Khu công nghiệp (IZ)
Trường Đại học, Cao đẳng
(NU)
Trường dạy nghề (NP)
Vùng KTTĐ
Bắc bộ
3,33
16,26
16,82
17,21
122,65
16,14
37,44
Tiểu vùng
Trung du miền núi
Nam ĐBSH
Bắc bộ
3,03
28,79
10,12
4,85
5,58
43,26
36,17
5,09
3,90
9,41
13,48
Nguồn: Xử lý theo Niên giám thống kê và số liệu của Văn phòng Ban Chỉ đạo ĐPPT
các vùng KTTĐ.
Bảng 2: Hệ số chỉ tiêu ID1b theo một số sản phẩm sản xuất (Đơn vị%)
Sản phẩm
Thép cán
Lắp ráp xe máy
Lắp ráp tivi các loại
Máy công cụ
Phân hóa học
Sơn hóa học các loại
Xi măng
Chè chế biến
De tai KH 2009
Vùng KTTĐ
Bắc bộ
63,61
48,32
6.85
49,84
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
Thủy sản khai thác
3,61
0,38
0,00
Bia các loại
25,28
3,46
4,10
Giầy vải các loại
45,69
4,04
0,00
Giấy bìa các loại
5,08
5,07
27,98
Nguồn: Xử lý theo Niên giám thống kê và số liệu của Văn phòng Ban Chỉ đạo ĐPPT
các vùng KTTĐ.
- Chỉ tiêu ID2 tính theo tỷ trọng so với dân số của từng vùng. Kết quả ghi ở bảng 3.
Bảng 3: Hệ số chỉ tiêu ID2 (Đơn vị%)
Chỉ tiêu
Dân số (PO)
Bắc bộ
100,00
100,00
178,22
850,71
57,71
56,84
481,78
390,27
0,18
0,07
9,83
11,54
8,08
20,09
129,02
178,39
142,26
1111,97
29,62
1417,83
0,29
350,20
54,16
478,79
21
Tiểu vùng
Nam ĐBSH
-3,97
-0,76
Trung du MN
Bắc bộ
5,22
-14,01
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
Lắp ráp tivi các loại
23,23
-7,04
-14,01
Máy công cụ
82,47
-7,04
-14,01
Phân hóa học
-17,53
13,87
49,60
Sơn hóa học các loại
-10,24
- Vùng KTTĐ Bắc bộ: Theo số liệu tính toán so với cả nước thì ngoài chỉ tiêu diện tích
thấp hơn, còn các chỉ tiêu khác đều lớn hơn khá nhiều so với các vùng Nam ĐBSH và
TDMNBB. Kết hợp với hệ số tính được khi so sánh với dân số từng vùng cho ta thấy những
yếu tố vượt trội của vùng KTTĐ Bắc bộ là: GDP, Xuất khẩu (EX), nhập khẩu (IM), Gía trị
sản xuất công nghiệp (MUNGO), Bán lẻ hàng hoá, Các khu công nghiệp (IZ), Các trường
Đại học và Trường dậy nghề. Chỉ tiêu về lao động (LO) thấp. Điều này có thể thấy rằng vùng
KTTĐ Bắc bộ là vùng:
Có đóng góp nhiều cho kinh tế cả nước về (tỷ lệ GDP lớn);
Là vùng năng động (giá trị xuất khẩu (EX) và nhập khẩu (IM) đều lớn);
Là vùng phát triển công nghiệp và dịch vụ (giá trị sản xuất công nghiệp (GOM)
cũng như hành hoá bán lẻ (REG) lớn);
Là vùng có lực lượng lao động có chất lượng cao (hệ số về các khu công nghiệp
(IZ), các trường Đại học và dạy nghề đều lớn);
Nhưng tỷ lệ lao động không lớn và không phát triển nông nghiệp.
Đây là vùng có khả năng thừa các sản phẩm công nghiệp; thương mại; có công nghệ
tiên tiến; có lao động chất lượng cao; có hệ thống thông tin rất tốt, có thể hỗ trợ cho các
vùng khác. Vùng lại thiếu lao động.
- Tiểu vùng Nam sông Hồng: Các số liệu tính theo các chỉ tiêu ID1, ID2 nêu trên cho
thấy tiểu vùng ĐBSH có tỷ lệ lao động (LO), giá trị sản xuất nông nghiệp (RURGO), sản
lượng lương thực (FQ) lớn nhất trong các vùng nghiên cứu. Như vậy có thể thấy vùng Nam
ĐBSH là vùng:
Sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh (FQ lớn);
Có nguồn lao động dồi dào (LO lớn):
Không năng động và kém phát triển công nghiệp cũng như dịch vụ;
De tai KH 2009
22
xe máy, ti vi, sản xuất máy công cụ, sản xuất xi măng; sản xuất bia và giầy vải các loại. Vùng
có khả năng cung cấp cho các vùng TTMNBB và Nam ĐBSH: sản phẩm hàng hóa công
nghiệp; sản phẩm thương mại, dịch vụ cao cấp; công nghệ tiên tiến; thông tin hiện đại.
Các vùng Nam ĐBSH và TDMNBB có các hệ số về sản xuất phân bón, sơn các loại;
chế biến chè và giấy các loại cao. Có khả năng cung cấp cho vùng KTTĐ Bắc bộ các sản
phẩm nông sản, thủy, hải sản; thực phẩm.
- Trao đổi, hợp tác khai thác tài nguyên và nguồn nhân lực.
Vùng TDMNBB có quỹ đất dồi dào, đất là tài nguyên, bao gồm cả khoáng sản, phong
phú. Nguồn nước nhiều, có khả năng cung cấp cho các vùng khác. Vùng sẽ cung cấp và hợp
tác khai thác với vùng KTTĐ Bắc bộ, Nam ĐBSH về tài nguyên nước, đất, điện; khoáng sản;
lao động phổ thông.
De tai KH 2009
23
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
Vùng KTTĐ Bắc bộ có lợi thế về công nghệ, kỹ thuật cao. Là nơi đào tạo nguồn nhân
lực có chất lượng, kỹ thuật phục vụ công nghiệp và ácc ngành dịch vụ cao cấp. Vùng sẽ là nơi
cung cấp cho các vùng khác, trong đó có vùng TDMNBB và vùng Nam ĐBSH) về lao động
chất lượng cao, có kỹ thuật; cán bộ quản lý và chuyên gia; đồng thời hợp tác, hỗ trợ đào tạo
cho các vùng.
Kết quả tính toán các biểu thức của mô hình
- Hợp tác khai thác tài nguyên;
- Cung cấp các sản phẩm công nghiệp; dịch vụ cao
cấp; công nghệ tiên tiến; thông tin hiện đại;
- Lao động qua đào tạo (thông qua các trường Đại học,
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN VÙNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG KTTĐ BB
PHẦN THỨ BA
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Về mô hình liên vùng ứng dụng trong nghiên cứu mối quan hệ vùng
1.1. Những ưu điểm của mô hình liên vùng
1) Mô hình liên vùng cùng với mô hình liên ngành-liên vùng đã được nghiên cứu ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực và có kết quả tốt.
Trong nghiên cứu tổ chức lãnh thổ và quy hoạch vùng mô hình liên vùng đã được sử
dụng nghiên cứu từ rất lâu ở trong nước cũng như trên thế giới (chẳng hạn xem [6], [9], [11],
... Ở Việt Nam từ những năm 60-80 của thế kỷ XX và những năm sau nay cho tới gần đây
nhiều nhà khoa học địa lý, địa lý kinh tế, toán kinh tế đã sử dụng mô hình liên vùng nghiên
cứu sự giao lưu kinh tế và phát triển ở nhiều vùng trong cả nước. Kết quả nghiên cứu đã được
sử dụng trong việc tổ chức nghiên cứu phân các vùng kinh tế, phân các vùng KTTĐ, lập quy
hoạch tổng thể phát triển KT-XH các vùng trong cả nước. Mô hình liên vùng còn được sử
dụng trong việc nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác như: phân vùng khí hậu, phân loại và quản lý
đất đai, xây dựng bản đồ và giảng dạy.
2) Sử dụng mô hình liên vùng sẽ cho cái nhìn toàn diện và đồng bộ trong phạm vi các
đối tượng được nghiên cứu.
Khi sử dụng mô hình liên vùng để nghiên cứu tổ chức phát triển vùng cần phải xét tới
tất cả các mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực có thể xẩy ra. Mức độ tổng quát, toàn
diện được thể hiện trong một mô hình chung, bao gồm tất cả các mối quan hệ về trao đổi, hợp
tác phát triển giữa các vùng nghiên cứu. Đồng thời các chỉ tiêu được tính toán trong mô hình
phải được thực hiện cùng một thời điểm, tổ chức cùng một lúc đồng bộ tất cả các chỉ tiêu
trong một mô hình chung.
3) Những kết luận do mô hình liên vùng mang lại tính định lượng cao hơn.
Thông thường khi nghiên cứu phát triển vùng và tổ chức lãnh thổ chúng ta dựa vào